PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC
CỦA TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO
Ông Trần Đức Thảo từ lâu đã nổi tiếng không chỉ ở
Việt Nam mà còn cả châu Âu và thế giới như là nhà triết học gạo cội, trong tính
cách là triết gia tên tuổi, và trước đó thuở còn đi học, như một đầu óc thông
minh xuất sắc, một tư duy sắc bén, vì từng tranh luận với nhà triết học hay
triết gia tên tuổi J. P. Sartre, đến Sartre cũng phải chịu thua, nghe đồn như
vậy.
Ông Thảo là nhà triết học lớn đầu tiên Việt Nam thật sự,
có bằng Thạc sĩ triết học danh tiếng thời ông tại Pháp, tức cao hơn nhiều so
với bằng Tiến sĩ thời nay, ông còn chuyên nghiên cứu về Hiện Tượng Luận của nhà
triết học tên tuổi Husserl, và tác phẩm nổi danh ngay lúc đó của ông là cuốn “HIỆN TƯỢNG LUẬN VÀ DUY
VẬT BIỆN CHỨNG”, nhưng đến nay chắc lẽ khó tìm, trong đó
ông kết hợp cả phần hiện tượng học của
E. Husserl và duy vật biện chứng của K.
Marx, tất nhiên nhằm dùng duy vật biện chứng của C. Mác để nhằm đánh đổ hiện
tượng luận của Husserl. Bởi duy nhất ông Thảo là người mác xít từ đầu, và chân
lý hay mục tiêu của ông không ngoài là duy
vật biện chứng.
Không nói về cuộc đời và sự nhọc nhằn triết học của ông
tại Miền Bắc trước kia, chỉ nói về bài viết mãi sau này của ông như đã được
dịch ra và đăng tải, bài “DE LA PHÉNOMÉNOLOGIE
À LA DIALECTIQUE MATÉRIALISTE DE LA CONSCIENCE (TỪ HIỆN TƯỢNG HỌC ĐẾN
BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ Ý THỨC), cũng cho thấy quan điểm nhất quán của ông từ đầu
đến cuối, tuy rằng về cuối đời khi quay trở lại Paris, ông Thảo đã từng tuyên
bố các sai lầm của mình trước kia, và cũng phủ nhận cả quan điểm của Mác trong
triết học.
Song qua bài viết trên của ông
được nêu dẫn, chúng ta sẽ thấy được toàn diện quan điểm triết học căn cơ trước
đó của Trần Đức Thảo là gì, và qua đó cũng có thể phê phán được về Chủ thuyết
duy vật biện chứng là như thế nào. Cả có thể hiểu sâu về Mác cũng như Lênin,
Engels, cũng như mọi nhà duy mác xít nói chung khác trên toàn thế giới.
Thật vậy, nếu chịu khó đọc toàn
bộ bài viết ở đây của ông Thảo từ đầu đến cuối, sẽ thấy rằng ngoài duy vật lịch
sử, phần sau của lý thuyết Mác, thì phần duy vật biện chứng gồm có hai
phần : Toàn bộ thế giới hiện có đều là vật chất, cũng như sự vận động của
vật chất, quan niệm này xuyên suốt từ Mác đến Engels, Lênin, và Trần Đức Thảo
và được thấy rõ mòn một khắp nơi bài viết.
Tất cả đều là vật chất, và vật
chất là luôn vận động. Cả hai yếu tố này chỉ là một, và chính cái nó bao hàm
trong cái kia, không còn gì khác, và cũng không thể khác đi được, kể cả cái gọi
là óc não, hay tinh thần con người, tức nói chung là ý thức tâm lý, năng lực
phán đoán, nhận thức, ý chí, ước muốn v.v… đều chỉ là «vật chất »
« vận động » mà ngoài ra chẳng có gì khác.
Thế nhưng «vật chất » đó
là gì ? Đó là điều mà trong suốt bài viết ông Thảo chẳng hề đá động đến.
Ngay cả Mác cũng chưa hề định nghĩa chính xác «vật chất » cụ thể là gì.
Chỉ có Lênin mà ai cũng biết từng định nghĩa «vật chất là cái khách quan
có trong thế giới ở ngoài ta, dĩ nhiên cũng có ở trong ta ».
Nói khác đi, mọi người Mác xít
nói chung, phần nhiều chỉ hiều «vật chất » theo cảm quan, trực giác,
cảm tính, mà không hề định nghĩa chính xác theo khoa học bản thân chính nó là
gì.
Họ chỉ tiên quyết khẳng định
thế giới là vật chất, và coi đó là tiền đề bất biến, để từ đó suy ra mọi cái
khác, mà không hề quay ngược trở về nguồn, vật chất từ đâu mà có, bản chất thật
của nó thế nào, và dĩ nhiên tại sao nó «vận động » cơ học lẫn vận
động «biện chứng ».
Tin vật chất là « duy
nhất » có, và tin nó là «vận động » và «biện
chứng » đó cũng chỉ là niềm tin đơn thuần của Trần Đức Thảo, một niềm
tin nếu không nói là mù quáng thì cũng độc đoán, không còn ý nghĩa khoa học hay
ý nghĩa triết học nào nữa cả.
Nếu ông Thảo là nhà triết học,
chỉ nhằm nghiên cứu và phô diễn hay minh họa tư duy người khác, điều đó chẳng
nói làm gì. Nhưng nếu bảo ông là triết gia, hay nhà triết học thật sự đứng trên
đôi chân chính mình, điều ấy trở nên quá đáng, bởi vì suốt cuộc đời mình, ông
Thảo chẳng hề đưa ra được quan điểm triết học riêng tư nào, ông chỉ hoàn toàn
duy có « đồ » lại, tức chỉ nhằm minh họa tư tưởng của Mác, Engels và
Lênin mà không hề gì khác.
Cả vấn đề cơ bản nhất ở đây,
chỉ «vật chất » lại làm sao «biện chứng » được, tức là Afhebung, hay hành trình tự phủ nhận,
nhưng vẫn giữ lại và vượt lên, mà Trần Đức Thảo đã luôn tâm đắc và hoàn toàn
tin chắc. Đó chính là ý niệm «biện chứng » mà nay mọi người đã biết.
Đó cũng là nguyên lý hay sự
liên hệ giữa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, mà cái đầu dẫn đưa đến cái
sau, như trong tác phẩm Tư Bản Luận
Mác đã từng hàm ý. Nói khác đi óc não con người và lịch sử xã hội loài người
cũng chỉ là sự vận động của vật chất, là điều mà Trần Đức Thảo hoàn toàn bao
quát về bản thân lý thuyết Mác.
Thế nhưng sau một thời gian dài
viết cuốn sách nền tảng ban đầu của mình, ông Thảo đột nhiên lại nghĩ đến «ý
thức » con người, và bổng dưng tự thấy mình lấn cấn. Điều đó cũng xuyên
qua cuộc tranh cãi ở Liên Xô một thời dài trước kia, mà cuối cùng cũng chẳng ra
ngô ra khoai hay chẳng dẫn tới đâu cả.
Đúng ra vũ trụ khách quan ta
thấy chỉ toàn vật chất, nhưng đó là nói trái đất, địa cầu, còn giới hạn của vật
chất tới đâu thì đến nay chưa ai từng biết rõ. Thuyết Big Bang thực chất cũng
chưa giải quyết được gì về triết học. Cả đi vào thế giới hạt cơ bản, ý nghĩa
của trường điện từ, đi vào nguyên lý bất định của Heisenberg, cuối cùng vật chất
cũng không hề đơn giản như mọi người đều tưởng.
Vỏ địa cầu và lòng trái đất đều
là vật chất, đó là nhìn từ cảm quan ai cũng biết như vậy, như tảng đá là vật
chất. Từ đó cũng định nghĩa sơ đẳng hay sơ cấp vật chất là cái vô tri vô giác
không chứa bất kỳ thuộc tính nào ngoài hay trên nó cả. Vậy cái không có thuộc
tính nào trên hay khác nó, làm thế nào nó lại «biện chứng » được, đó là
điều mà Trần Đức Thảo ngây thơ đã chưa bao giờ nghĩ tới. Nhiều lắm ông ta chỉ
thấy đến mức vận động cơ học, «vật chất luôn luôn vận động », đó duy một
điều mà ông Thảo chỉ lặp lại theo Mác, Engels, Lênin mà không bao giờ có
được tư tưởng riêng tư nào của ông ta cả.
Như vậy trong con người hay
sinh vật, không phải chỉ là bộ máy vật chất, mà chính đó là bộ máy sinh học, đó
mới chính là điều đáng nói nhất. Nên sự vận động ở đây không phải chỉ là sự vận
động cơ giới mà còn chính là sự vận động của sự sống, sự vận động sinh học.
Nhưng trên nữa, ý thức hay sự
nhận thức, lại là thực tại vô hình, không phải chỉ óc não hữu hình, không như kiểu
gan tiết ra mật mà Engels trầm trồ khoái trá. Thế thì cái trừu tượng vô hình,
có phải là vật chất hữu hình được không, là điều Trần Đức Thảo chẳng hề màng
đến.
Thành chung lại, Trần Đức Thảo
chỉ là anh Mác xít đơn thuần, chẳng có gì sâu xa sáng tạo cả, chẳng suy tư sâu
sắc điều gì về hiện tượng luận của Husserl, nhưng thật ra chỉ có tiên kiến cho
Husserl là duy tâm cần phải phản bác, phải loại đi, để nhằm đêm duy vật biện
chứng thế vào, ý đồ sâu xa nhất của Trần Đức Thảo trong cuốn sách của mình chính
là như vậy.
Như vậy cũng có nghĩa Hegel và
Husserl đều cùng trường phái với nhau, trường phái duy tâm, phân biệt giữa vật
chất và tinh thần, ý thức. Hegel là nhất nguyên luận duy tâm, điều đó dẫu sao
vẫn còn có lý, riêng Mác là kiểu nhất nguyên luận duy vật, chỗ vô lý thành
nhiều hơn, vậy mà ông Thảo có đâu để ý. Thành nên kiểu Thảo ban đầu cũng chỉ là
kiểu cuồng tín, nông cạn, cảm tính, thị hiếu, khó có thể mệnh danh là nhà triết
học, người triết gia đúng nghĩa chân chính được.
Thế nên biên chứng của Hegel
(Dialectics hégélien) cho dầu còn mơ hồ, mông lung, song khả dĩ còn có lý. Đằng
này Thảo chỉ tin vào duy vật biện chứng luận, thật là điều nông cạn mù mịt, khó
làm sao chấp nhận được nơi một người thông minh tuyệt vời như Thảo.
Nên triết học nơi nhân loại
luôn luôn là con đường dài vạn dặm, không hề dừng và cũng không hề dừng được.
Trong khi đó Mác chỉ là người tiên kiến, chủ quan, hợm hĩnh, một nhà tư duy
chính trị, một kẻ đấu tranh thực tiển, lại tự hào mình nắm được chân lý tuyệt
đối, còn hơn cả Hegel nữa nhưng lại dựa vào biện chứng luận của Hegel thật là
điều phi lý. Thành ra thuyết Mác chứa quá nhiều nghịch lý, mâu thuẫn kiểu nông
cạn, mà chính Thảo chưa bao giờ nhìn thấy hết ra được.
Vũ trụ vô hạn hay hữu hạn, cả
tỉ tỉ năm ánh sáng từ điểm nọ đến điểm kia, đó có phải là đối tượng của tư duy
hay không, trong khi trái đất hay thái dương hệ chỉ hoàn toàn là một hạt bụi,
một chấm nhỏ trong không gian vô hạn, vậy thì duy vật lịch sử có còn ý nghĩa
gì, hay Tư bản luận của Mác có phải là chân lý huyễn ảo, tự biện hay không, đó
là điều Trần Đức Thảo hãy rất còn mù mờ, lơ mơ, loạng quạng.
Thành ra qua mọi điều đó, Thảo
chưa tìm thấy, chưa khám phá ra được điều gì trong đời mình hay cả nơi thân
phận của mình. Chẳng qua Thảo chỉ là kẻ minh họa về Mác, đó thật là đáng tiếc
trong sự nổi danh cuồn cuộn của ông ta. Đó cũng là lý do khiến bài viết của
Trần Đức Thảo mang lại nhiều lợi ích cho mọi người ở đây, nhưng lại là lợi ích
có tác dụng ngược, để thấy rõ thuyết Mác là gì, Trần Đức Thảo là gì, kể cả
triết học là gì, là những điều không thể nào úp chụp, bỏ rọ, trong ý nghĩa toàn
bộ của tư duy nhận thức con người.
Thảo minh họa điều Engels nói,
chừng nào con người biết ra bản chất vật chất là gì, khi đó cũng kết thúc mọi
nhu cầu hiểu biết của nhân loại, có nghĩa đã hoàn toàn đạt đỉnh, điều đó cũng
có khác gì Tri thức tuyệt đối mà Hegel từng nói trong Hiện Tượng Luận Tinh
thần, đúng là kiểu quay vòng vĩ đại giứa duy tâm cực đoan và duy vật cực đoan,
và đều trở thành điểm bế của ý nghĩa tri thức mà con người có được.
Thảo luôn luôn tâm đắc thế giới
« thực » theo cách duy vật Mác xít, nhưng thực lại trở thành huyễn
khi phủ nhận cả thế giới nhân loại cụ thể, tức kinh tế học, xã hội học, lịch sử
học, tâm lý học, chính trị học, kỹ thuật học v.v… để thay vào niềm tin rỗng
tuếch kiểu mù quáng, dị đoan như kiểu duy vậ biện chứng, duy vật lịch sử, mà
Mác đưa ra, và chính Thào lại tin tưởng tuyệt đối đó là «sự thật cụ thể »
nhất để nhằm chống lại kịch liệt chính Hiện Tượng Luận mang tính khai mở ý
thức và tri thức nhân loại của Edmund Hussert, như trong tác phẩm của mình mà
ông ta đã thực hiên.
By THANH VÕ HƯNG
(26/7/21)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét