Thứ Ba, 30 tháng 4, 2024

NÓI VỀ CÁC NGUYÊN LÝ KHÁCH QUAN, TỰ NHIÊN, VÀ TẤT YẾU, TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

NÓI VỀ CÁC NGUYÊN LÝ KHÁCH QUAN, TỰ NHIÊN,

VÀ TẤT YẾU, TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

Đối với mọi cá nhân con người và xã hội loài người sự hiểu biết vẫn luôn là điều thiết yếu vì quan trọng nhất. Đây là yếu tố giúp con người vượt lên kiểu nhiên giới loài vật. Con người và con vật đều có mọi yếu tố tâm sinh lý giống nhau, nhưng con vật không theo kịp hay thua xa đối với con người về nhiều mặt nhận thức. Nhận thức nơi loài vật chỉ là nhận thức trên cơ sở kinh nghiệm sống tự nhiên hoang dã, nhận thức nơi con người là sự tiến hóa, phát triển qua lịch sử bản thân cũng như xã hội. Cả hai phương diện này tương tác qua lại lẫn nhau càng làm tăng thêm và phong phú thêm qua thời gian lẫn không gian mọi sự hiểu biết của con người.

 

Sự nhận thức nơi con người bởi vậy là một hệ thống kiến thức nói chung kết hợp từ quá khứ đến hiện tại và phân chia ra từng ngõ ngách do học tập, kinh nghiệm và năng lực mỗi bản thân có được. Tri thức là kinh nghiệm thủ đắc qua lịch sử bản thân của từng người. Nhưng nguồn gốc của nó nói chung đến từ xã hội do nhiều cá nhân đã đóng góp vào, do trí thông minh từng cá nhân tiếp nhận và phát triển do trí thông minh lẫn năng lực bản thân nhờ điều kiện của riêng mình, và khả dĩ nó cũng đóng góp lại cho xã hội nói chung về nhiều mặt khác nhau.

 

Nhưng tri thức hay kiến thức thực chất là những đơn vị nhận thức vô hạn. Nó có thể luôn đổi thay và tiến hóa cùng phát triển qua dòng lịch sử. Không có đơn vị kiến thức nào hoàn toàn chết, nhưng nó luôn được bổ sung bằng những cái mới hơn, sâu xa hơn, hiệu quả hơn vì giá trị hơn. Nhưng mọi sự hiểu biết rời rạc tuy quý giá là thế, chúng do kinh nghiệm nhận thức bản thân riêng cùng kết quả của trang bị qua học tập, giáo dục, sách vở, đào tạo nói chung mang lại, nhưng chúng vẫn chỉ là những xâu chuỗi kết hợp nhau nhất định. Cái quan trọng hơn cả chính là bên dưới mọi kiến thức đó là gì mới là điều chính yếu nhất. Biết là nhằm đáp ứng sự hiệu quả cho hành vi, nhưng hành động không phải toàn đều tự phát mà nó luôn phải theo những nguyên tắc, nguyên lý căn bản nào đó nhất định thì mới không sai trái và dẫn đến các kết quả hiệu năng cùng tốt đẹp nhất.

 

Đó ý nghĩa của nguyên tắc hay nguyên lý trong cuộc đời là vậy. Chính các nguyên lý bao quát chi phối những nguyên tắc nhỏ hơn trong cuộc sống qua kinh nghiệm và hành vi mà mỗi người buộc phải tuân thủ. Có các nguyên lý về tự nhiên, xã hội, cùng bản thân từng cá nhân nói chung. Cá nhân luôn sống trong xã hội nên luôn bị những nguyên lý của bản thân cũng như của xã hội chi phối. Như nguyên lý tình cảm cao hay thấp, nguyên lý cảm xúc thăng hoa hay tầm thường, nguyên lý pháp luật bó buộc, nguyên lý xã hội trong tương tác, nguyên lý giá trị khách quan trong hành vi và nhận thức, đó luôn luôn là những ràng buộc thiết yếu mà mỗi cá nhân cũng như toàn thể xã hội đều cần hoài phải có. Nguyên lý nói chung là những sự bó buộc trừu tượng mà mọi nhận thức, tri thức cụ thể đều không thể đi ra ngoài nó nhưng lại liên kết tạo ra bản thân chính nó.

 

Nói cho cùng nguyên lý đều là những quy luật khoa học, đạo lý, xã hội nào đó mà con người không thể nào vượt ra được. Vượt ra đó cũng là vượt ra khỏi các yêu cầu bó buộc của bản thân, của xã hội con người nói chung, của quy luật tự nhiên khách quan luôn luôn có mặt và buộc phải tuân thủ. Như các nguyên lý tâm sinh lý, nguyên lý quan hệ xã hội, nguyên lý đạo lý, đều là những nguyên lý chung nhất, bao quát nhất, mà từng cá nhân cũng như xã hội phải luôn bị khống chế, không thể được tùy tiện hay bất chấp. Như vậy nguyên lý là những quy luật khách quan ràng buộc do kinh nghiệm sống tìm ra về mặt tâm lý, tình cảm xã hội, do khoa học khám phá ra về mặt khách quan tự nhiên, chúng luôn luôn có mặt, vô hình, nhưng chi phối tất cả mọi nhận thức và hành vi khác nhau mà con người phải luôn tiếp cận hay động chạm đến.

 

Các nguyên lý là tất yếu bởi vì không ai tự đặt nó ra cả, chúng hoàn toàn khách quan, tự nhiên, bó buộc, cả có thể nói chúng luôn luôn lồng vào nhau, liên kết hay ràng buộc nhau theo cách nào đó. Ví dụ nguyên lý toán học là nguyên lý bao trùm nhất trong toàn thế giới hiện hữu, sau là nguyên lý vật lý, nguyên lý hóa học, nguyên lý sinh học, nguyên lý xã hội, nguyên lý đạo đức, nguyên lý lịch sử, đều luôn là những nguyên lý nền tảng và cơ bản nhất mà xã hội loài người không thể bất chấp, không thể vượt ra khỏi đó, bởi đó cũng là yếu tố sinh tồn, phát triển cùng hướng đích trong những phạm vi, địa hạt hay những bình diện nhất định. Con người sống phải bằng nhận thức đúng mới là điều tốt đẹp, phải sống trong những nguyên lý nền tảng mà không thể thoát ly ra khỏi chúng được, nên nguyên lý nhân văn văn và nguyên lý tồn tại khách quan trong vũ trụ tự nhiên vẫn mãi mãi và luôn luôn là hai cặp nguyên lý lớn nhất.

 

Nhận thức nguyên lý có phần nào do kinh nghiệm sống cá nhân hay xã hội mang lại, nhưng đó chỉ mới là nhận thức mơ hồ bằng cảm quan trực tiếp, chưa hoàn toàn sâu xa, chắc chắn, hệ thống hay ổn định, nhưng chính mọi tìm tòi khám phá khoa học chính quy mới tìm ra được những nguyên lý, nguyên tắc sâu xa, ràng buộc, chi phối bao quát nhất mà loài người đều cần phải biết. Chẳng hạn nguyên lý vật lý về trọng lực trọng trường của Newton, nguyên lý tiến hóa của Darwin, nguyên lý liên kết hóa học trong thế giới vật chất, nguyên lý nhận thức và tư duy trong đầu óc con người, nguyên lý tự do dân chủ trong xã hội, nguyên lý cung cầu trong hoạt động kinh tế học đều là những nguyên lý cơ bản nhất không bất kỳ ai có thể vượt qua hay hành vi trái đi được. Mọi nguyên lý đó đều có thể chứng minh cụ thể, chẳng có gì mơ hồ, võ đoán hay ức đoán nào cả.

 

Bởi khoa học phải luôn là sự nghiên cứu nghiêm túc, có phương pháp, hệ thống và đào sâu, nghiêm túc, đầy đủ thật sự. Khoa học không được phép dừng lại trên cảm tính hay thị hiếu nào đó chỉ là nông cạn hay thiên lệch, chủ quan nào đó. Mục đích là tìm ra những nguyên lý sâu sa nhất chi phối chung các sự vật, và phương pháp của khoa học đều cần phải chứng minh bằng các dữ liệu chắc chắn nhất, hay chính xác nhất. Tính chuẩn mực luôn luôn là đặc điểm của khoa học, vượt ra ngoài mọi cảm tính chủ quan, các định kiến hay thị hiếu riêng tư nào đó, trong lãnh vực khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản, hay khoa học nhân văn và xã hội cũng vậy. Tìm ra nguyên lý tức tìm ra quy luật hay nguyên tắc cốt lõi nhất chi phối trong lòng sự vật, để mọi nhận thức rời rạc đều được kết tập, xâu chuỗi nhau một cách thống nhất, bó buộc, chắc chắn, bao quát và đầy đủ nhất.

 

Vậy nhưng khi Các Mác dùng lý thuyết biện chứng duy tâm của Hegel để làm xương sống cốt lõi cho học thuyết biện chứng duy vật của mình, thì điều đó trở thành hời hợt, ức đoán, nông cạn, và trái trớt trong lý thuyết của ông ta. Khác gì lấy nguyên lý của nước thay vào các nguyên lý của lửa hay ngược lại, bởi hai thực thể đối lập không thể có cùng nguyên lý giống nhau. Từ đó Mác triển khai ra thành nguyên lý duy vật biện chứng rồi duy vật lịch sử là hoàn toàn khiên cưỡng, giả tạo, chẳng có nội dung thực chất nào cả mà chỉ đều kiểu ức đoán, áp đặt, nói bướng. Vậy mà vẫn được đưa vào chương trinh giáo dục nơi bậc đại học, bắt ép sinh viên chấp nhận không cần phê phán, không cho phản biện, đây thật là việc làm sai trái đã do một số người phản giáo dục thực hiện cả gần non thế kỷ cho đến nay vẫn còn duy trì tồn tại.

 

Trong khi đó nguyên lý đều là các quy luật khách quan, chặt chẽ, có khi bất biến do sự vật tự có, do con người tìm ra, khám phá ra mà không phải bất kỳ ai có thể tự mình có thể đặt ra cả. Như các nguyên lý trong toán học, trong lô-gích, trong các ngành khoa học tự nhiên hay xã hội. Bởi nguyên lý luôn có các nền tảng khách quan, những cơ sở khách quan, những nguồn gốc khách quan, lẫn mang đến những kết quả tất yếu nào đó mà không thể nào biến đổi hay nói khác đi được. Do vậy không ai có thể đoán mò ra nguyên lý hay thêu đệt ra nguyên lý khiến nó hoàn toàn giả tạo mà phải tuân thủ hay đầu sâu, phát triển thêm nhận thức thêm về các nguyên lý đã có.     

 

Cũng vậy con người không thể tự rèn luyện để mọc cánh bay được mà phải tìm ra cách tạo tác những công cụ hiệu lực để có thể bay lên khí quyển hay bầu trời nhưng nhất thiết cũng phải tuân thủ các nguyên lý khách quan có trước. Một xã hội cũng thế, nếu nó trái với các nguyên lý nền tảng bắt buộc phải có, thì đó cũng chỉ là kiểu tưởng tượng suông mà không khi nào thực hiện hay đạt tới được. Nên chỉ cần xét về mặt khoa học khách quan, về cơ sở nền tảng thực tế, người ta có thể phân biệt thế nào là một xã hội hiện thực khách quan và thế nào là kiểu xã hội viễn mơ, hư vô hoặc hoang tưởng. Nhưng cũng chính ở đây mà đã nói về một khía cảnh nền tảng của nguyên lý nhận thức. Những người có năng lực nhận thức kém không thể nào bao quát hay bao trùm được những người có năng lực nhận thức cao hơn, nên người trí thức chân chính thường khó bị lung lạc hay phỉnh dụ, lôi kéo hơn những người bình dân là vậy.

 

Những sự sai lầm cốt lõi mà học thuyết Mác tự nhận coi như nguyên lý nhưng lại hoàn toàn giả tạo của mình như sau :

 

1/ Nguyên lý tuyệt đối duy vật : Thật ra điều này mới chỉ là sự võ đoán, chưa phải hoàn toàn đầy đủ hay trọn vẹn nào cả. Chỉ lấy một khía cạnh của tồn tại rồi khái quát hóa ra nhưng chưa có chứng minh nào bao quát thật sự khoa học. Coi vật chất là tuyệt đối càng đi ngược lại mọi mục tiêu định hướng mà Mác dự phóng hay hoài bão. Đó là sự nghịch lý to lớn đầu tiên biến học thuyết Mác trở thành loại thuyết hư vô chủ nghĩa bởi không nhìn nhận bất kỳ bất cứ giá trị nào cao hơn vật chất hay nằm ngoài vật chất nói chung.

 

2/ Học thuyết đấu tranh giai cấp : Đây cũng điều hoàn toàn phi lý và cưỡng ép, bởi giai cấp chỉ là ý niệm trừu tượng, kiểu phạm trù phân loại, tự nó không có tính cách chủ thể tính riêng biệt như cá nhân con người cụ thể, nên điều này chỉ mang tính mê tín, hoang tưởng, áp đặt hay thậm chí mê muội, huyền hoặc. Thuyết đấu tranh giai cấp là cốt lõi của học thuyết Mác, nên nếu nó hoang tưởng học thuyết Mác cũng trở thành vô căn cứ, bởi những cái trừu tượng đấu tranh nhau đều toàn vô nghĩa.

 

3/ Giai cấp tiên phong hay đội ngũ tiền phong của giai cấp lãnh đạo xã hội thực chất chỉ là điều vô nghĩa, một sự hư huyễn, mê hoặc, vì mọi cá nhân đều bình đẳng và có sơ sở bản năng nơi bản thân mình, cần yếu tố năng lực và phẩm hạnh cao quý để lãnh đạo xã hội, không phải chỉ là một ý tưởng mê tín hay cuồng tín nào đó thay thế vào mà được. Mác dùng giai cấp đấu tranh để làm nền tảng cho tiên liệu này, dùng xã hội không tưởng để làm mục tiêu cho sự kiện này, dùng biện chứng hư ảo để làm cơ sở cho điều này, khiến đây chỉ là sự áp đặt mơ hồ và không có ý nghĩa thực chất hay thực tế nào cả.

 

4/ Quan điểm kinh tế tập thể kiểu người Nga áp đặt cho toàn xã hội chỉ là sự ảo tưởng sai thực tế và phi thực chất. Nó không cứ đến những tâm lý, kỹ thuật thực tiển hiệu quả của xã hội như thị trường, tiền tệ, sự phân công tự nhiên, khách quan của xã hội, nguyên lý cơ động và luật pháp thiết thực của xã hội mà Mác đã bỏ qua tất cả. Tính cách phản thực tế, phi thực tế xã hội là điều học thuyết Mác buông lõng và người Nga từng mê tín áp dụng.

 

5/ Khái niệm bóc lột trong học thuyết Mác thực chất chỉ là khái niệm huyền hoặc, mơ hồ nhưng lại gây ấn tượng cho rất nhiều người vì ý tưởng xã hội thiên lệch, hoang đường hay tiên kiến của họ. Ở đây không có lằn mức, tiêu chuẩn nào thật sự chính xác để phân định, không nhìn chung tổng quan yêu cầu gộp và kết quả gộp của toàn xã hội, không nghĩ tới yếu tố thị trường và pháp luật mà chỉ biết thị hiếu và cảm hứng. Đây cái nhìn không phải kinh tế học thật sự mà chỉ cái nhìn bị giai cấp hóa kiểu hạn hẹp và nông cạn.

 

6/ Từ khái niệm nguyên lý bóc lột, Mác đi đến chống phá quyền tư hữu theo cơ sở khách quan tự nhiên nằm thay vào đó ý niệm vô sản hoàn toàn giả tạo, khiên cưỡng, để nhằm thiết lập xã hội phi giai cấp thực tế chỉ hoang tưởng không bao giờ có được. Bởi nguyên lý đẳng cấp là nguyên lý tiềm ẩn luôn có trong sự vật, nếu điều này không triệt tiêu được thì giai cấp khách quan thực tế cũng không bao giờ xóa bỏ được, chỉ có thể làm cho nó hợp lý, hòa hợp và cùng nhau phát triển hiệu quả, lành mạnh, tốt đẹp vậy thôi.

 

7/ Xã hội cuối cùng không còn nhà nước, không còn pháp luật để nhằm giải phóng tuyệt đối cá nhân con người, giai cấp cũng như xã hội là sự điên loạn tột cùng của học thuyết Mác. Nó không những hoang tưởng mà hoàn toàn mê sảng, chống lại những nguyên lý thực tế làm nền tảng cho cá nhân cũng như xã hội thuộc mọi loại khác nhau. Bởi vậy thuyết Mác rõ ràng cũng thuộc loại thuyết vô chính phủ một cách hoang đường hay phản xã hội nhất.

 

8/ Xã hội làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu kiểu xã hội cộng sản lý tưởng mà quan quan niệm thật sự chỉ hoàn toàn không tưởng vì nó tuyệt đối không thiết thực đối với bất kỳ cơ sở hay cơ chế kinh tế nào. Do nhu cầu con người thì vô hạn, bản năng ích kỷ luôn luôn có, tài nguyên mọi loại đều có hạn, đây là quan điểm nghịch lý nhất không bao giờ có được và thực chất nó chỉ làm bang hoại cùng phá tán xã hội.

 

9/ Học thuyết Mác gây căm thù giai cấp, gây căm thù xã hội là điều tối kỵ trong xã hội loài người. Bởi mọi sự căm thù đều tự nuôi dưỡng nó và hoàn toàn không có đường ra, nó chỉ làm con người hạ thấp và hạ cấp, đây là điều phi lý nhất trong học thuyết Mác. Rèn luyện, phát huy, củng cố căm thù chính là điều tệ hại và phản động, nó có thể bẻ gãy và tiêu diệt xã hội bất kỳ lúc nào nếu có những phương tiện khác hỗ trợ.

 

10/ Trong xã hội mà mọi ý nghĩa và giá trị chỉ còn là vật chất, vậy thì ý nghĩa và giá trị của cá nhân cũng như xã hội sẽ còn lại được gì nếu không phải là con số không to tướng. Con người bị hạ cấp xuống chỉ còn hàng sinh vật, hàng vật chất, hàng đồ vật bởi mọi ý nghĩa hay giá trị nội tại đều hoàn toàn không có, chỉ có sự khoa trương bề ngoài giả tạo, nó trở thành phản văn hóa, phản nhân văn, phản xã hội mọi loại, chỉ làm thụt lùi xã hội và kéo lùi lịch sử cách ngang trái, tệ hại mà chính bản thân khách quan của học thuyết Mác đã phạm phải.

 

11/ Cuối cùng nguyên lý chuyên chính vô sản cũng là điều phi lý nhất trong học thuyết của Mác. Chính nguyên lý giả tạo này cũng triệt tiêu hết mọi điều mà có thể một số người vốn đánh giá về các điều gì đó tốt đẹp nhất trong học thuyết Mác. Nhưng vô sản đâu phải thành phần toàn chọn lọc, ưu tú, hay tinh hoa nhất trong xã hội loài người. Độc tài bất cứ trường hợp nào cũng dễ tăm tối, đi ngược lại nguyên lý công bằng và nhân văn. Ở đây lại còn độc tài, chuyên chính vô sản nữa, quả thật Mác chỉ người cố chấp, nông nổi, và kiểu toàn dị đoan, mê tín, vì không có bất kỳ cơ sở khách quan, khoa học nào trong đó cả.   

 

Vậy nên, chỉ khi nào đi theo những nguyên lý đúng mới đều hoàn toàn đúng, cũng như là điều hoàn toàn bó buộc để mang lại các kết quả tối ưu cho cá nhân con người lẫn cả xã hội. Ví dụ nguyên lý về tình thương yêu, về sự thật và khách quan chân lý, về nguyên lý của sự đích thực và sự chắc chắn, về nguyên lý đúng của mặt nhận thức và hành động, về nguyên lý bất di dịch của tính phổ quát, cùng sự phân nhánh và hệ thống của các nguyên lý, nói thì vô cùng tận, nhưng nó vẫn luôn thống nhất. Trong khi đó mọi nguyên lý sai đều phản hiệu quả, sai kết quả. Thật ra đó không hể là những nguyên lý đích thực mà thật ra chỉ là sự làm giả để nhằm dụ hoặc.

 

Học thuyết Mác thực chất đã rơi vào nhiều trường hợp như thế, thật ra đó không phải chân lý mà chỉ là sự giả chân lý, không phải là nguyên lý đích thật mà chỉ là giả nguyên lý theo cách giả tạo để mọi người tin tưởng vào đó cách sai trái. Nguyên lý bạo lực, cưỡng chế, nguyên lý độc quyền, nguyên lý xóa bỏ tự do dân chủ trong xã hội con người, nguyên lý tạo dựng giả niềm tin, thực chất đó chỉ là những sự giả nguyên lý, phi nguyên lý, vì thật ra chân lý xã hội loài người chỉ có một, chân lý vũ trụ khách quan chỉ có một, và mọi nguyên lý đúng đắn khách quan trong đời sống cá nhân và xã hội cũng chỉ đều và phải đều phụ thuộc vào đó.

 

THƯỢNG NGÀN

(30/4/2024)



**

 

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2024

NÓI VỀ TÍNH NGUY HIỂM VÀ SỰ TỆ HẠI CỦA SỰ ĐỘC TÀI ĐỘC ĐOÁN TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

NÓI VỀ TÍNH NGUY HIỂM VÀ SỰ TỆ HẠI CỦA SỰ

ĐỘC TÀI ĐỘC ĐOÁN TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

     Hãy ví dụ có một nhóm người nhỏ nào đó đang đi trong rừng, được kết tụ lại bởi nhiều nguồn gốc và thành phần khác nhau, nếu người cầm đầu nhóm chỉ là người độc tài độc đoán chỉ biết làm theo ý riêng mình bất chấp mọi người khác, dĩ nhiên chẳng bao lâu nó phải tự tan rã. Trừ ra nhóm này phải đi theo một ông chủ thật sự, và mọi người khác đều là người làm thuê, được thuê mướn do ông chủ. Đây chính là một mô hình xã hội thu nhỏ, và xã hội tự do hay độc tài độc đoán cũng khác nhau như vậy. Nhóm tự do hay xã hội tự do mọi người đều được bình đẳng, có quyền ngang nhau, lấy quyết định chung hợp lý nhất cho mọi vấn đề hay mục đích thiết yếu cần đòi hỏi, và kết quả tốt đẹp nhất cũng phải tự đó mà có.

 

Bất kỳ cá nhân nào, hay cả số ít người nào nắm quyền, vẫn không tránh được tính hợm hĩnh, ích kỷ, nhưng họ vẫn có thể che đậy được bằng những ngôn ngữ giả tạo nào đó để đánh lừa người khác, hoặc cả những thủ đoạn gian trá nào đó nhằm phỉnh gạt người khác nếu thực chất trong lòng họ thiếu trong sáng, lương thiện, điều này khó ai có thể biết được. Nên ý nghĩa tự do dân chủ và độc tài độc đoán luôn luôn khác nhau như vậy. Đặc biệt nếu sự độc tài độc đoán đó không phải riêng bởi cá nhân nào mà nó thành ra một thiết chế chung cho xã hội. Hay một xã hội chỉ làm thuê cho một cá nhân, thiểu số, hoặc một tầng lớp nào đó, vẫn cứ bề ngoài tuyên bố bình đẳng, tự do, dân chủ, thì vẫn không ai nói khác làm khác đi được.

 

Có nghĩa đối với con người, không phải ngôn ngữ bề ngoài có ý là gì, nhưng đó chính là thực chất bên trong là thế nào, nhất là cơ chế tự tại vốn có của nó ra sao, tự do dân chủ thật sự hay chỉ là chủ quan, độc đoán. Tính cách thiết chế của xã hội càng chặt chẽ càng biểu lộ hơn thêm về điều đó. Bởi nếu cá nhân sống độc lập thì chẳng có gì đáng nói, nhưng nếu xã hội được liên kết, tổ chức càng chặt chẽ, nó trở thành một mạng lưới khắt nghiệt, một thực tại kiểu bê tông cốt thép mà mọi người, bất kỳ ai đều không thể nào thoát ra được. Tính cách của loài người là sự ý thức, nên khi ý thức xã hội bị kết cấu và điều hướng theo cách tệ hại, tiêu cực, thấp kém hay xấu xa nào đó, liền trở nên một thực tế tệ hại, bởi vì cá nhân dầu ít hay nhiều đều bị ràng buộc bởi mối liên kết chung, cộng đồng hay tập thể.

 

Mọi người sinh ra đều được bình đẳng và tự do, đó là nguyên lý lớn nhất, quan trọng nhất, bao quát nhất của toàn lịch sử. Không ai với bất kỳ lý do gì mục đích gì mà có quyền đi ngược lại chính nguyên lý này nếu không phải chỉ là giả tạo và gian dối. Bởi con người ai cũng có ý thức và lý trí giống nhau, tuy sự hiểu biết, năng lực, và cả khi sự hiểu biết có thể khác nhau, nhưng quyền làm người bình đẳng đều như nhau, cần sự bổ sung, trợ lực đều cho nhau, nên không bất kỳ lý do nào để thiết chế, bảo vệ, hay tuyên dương sự độc tài độc đoán của một vài cá nhân hay chỉ một số ít lớp người nào đó trong xã hội được. Vả xã hội luôn luôn thay đổi, biến động một cách tự nhiên bởi những lớp người mới ra đời, những thế hệ mới nối tiếp nhau, tiềm lực và triển vọng của xã hội luôn luôn đổi thay, tiến tới, vậy lý do nào để tuyên xưng sự độc tài độc đoán của bất kỳ cá nhân hay tập thể nào được cả nếu không nói chỉ là sự bảo thủ, lạc hậu và phản động.

 

Như vậy có thể nói sự hiểu biết của mỗi người, tức mỗi thành viên trong xã hội là ý nghĩa quan trọng thiết yếu và sâu xa nhất. Điều đó nói chung là dân trí. Tính dân trí luôn luôn cần phải độc lập, sáng suốt, tự do riêng nó, bởi nếu dân trí bị què quặt, khống chế, lũng đoạn bởi bất kỳ sự giáo dục, tuyên truyền, ép uổn, uốn nắn giả tạo không khách quan nào đó thực chất đều sự lạm dụng, gian dối, hay kể cả thành một tội ác. Bởi con người ai cũng có bản năng và tình cảm, vấn đề là bản năng đó có chính đáng và tình cảm đó có cao quý và hướng thượng thật sự không. Nên nếu dùng sự tuyên truyền giả tạo để điều hướng những tình cảm sai trái, tạo ra thực chất dân trí hổn độn, thấp kém, thì đó cũng là tội lỗi hay kể cả là tội ác nhìn chung đối với con người và xã hội.

 

Xã hội thật ra chỉ như cục bột, nó có thể dạy men bất kỳ lúc nào tùy theo loại men đưa vào đó là loại men gi. Nếu men tốt thì thành bánh mì, còn nấm mốc thì chỉ đưa đến một khối bột hoàn toàn bị mốc meo cả thảy. Chỉ cần vài con men tốt ban đầu hay chỉ vài con nấm mốc ban đầu, chẳng mấy chốc cũng lan truyền ra cả khối bột, bởi quần chúng thường vẫn luôn tiêu cực và thụ động, nên tính cách ủ men, tùy thuộc vào loại men tốt hay xấu phải đưa ra các kết quả khác nhau là vậy. Men xấu ở đây là sự giả trá, mê muội, hay không trung thực ban đầu ở một số người, nhưng vẫn được truyền lan ra toàn xã hội, bởi quy luật khách quan luôn là như vậy. Nên con người lương thiện, có lương tâm và sự hiểu biết sáng suốt, tức dân trí tốt đẹp trong một xã hội tự do dân chủ đúng đắn, đích thực, hoàn toàn trái ngược lại kiểu độc tài độc đoán mù quáng, thấp kém đều là như thế.

 

Con người hơn thua nhau là nhờ giáo dục, nhờ bản chất lương thiện tự nhiên, nhờ nổ lực phấn đấu vươn lên điều tốt đẹp, thế thôi, còn thân xác ai cũng đều có quy luật khách quan như nhau, là bản năng sinh tồn, sự hưởng dụng khoái cảm, nhiều khi khuynh hướng thiên về hướng hạ là điều chắc chắn bất kỳ lúc nào cũng có. Nên ý nghĩa của mọi sự tốt đẹp luôn luôn là sự nhận thức hướng thượng nhờ mọi sự giáo dục lành mạnh, trong sáng, cao cả. Còn nếu sự giáo dục chỉ nhằm đào tạo công cụ, nhằm đào tạo kiểu ý thức bầy đàn, hay kiểu chỉ sự hiểu biết mù quáng, một chiều nào đó, thực chất đều phản nhân văn, phản xã hội, phản lịch sử, tất nhiên chỉ không ngoài tội lỗi hoặc tội ác, chỉ kiểu ngây thơ, vô tình, hay cố ý nhằm phản động thế thôi.

 

Thời xưa xã hội bộ lạc, phong kiến hay quân chủ sự độc tài độc đoán chỉ là điều khách quan, tự nhiên, bởi vì xã hội đi lên từ hoang dã, ai có sức mạnh có quyền, dù đó chỉ là quyền ỷ mạnh hiếp yếu, chưa có gì là nhân văn cao cả được. Tù trưởng bộ lạc, phong kiến cát cứ, quân chủ độc đoán cha truyền con nối đều là kết quả khách quan như thế. Bởi do chưa thể có ý nghĩa khách quan hợp lý nào khác thay vào. Nhưng lịch sử xã hội loài người luôn luôn phát triển đi lên là điều tất yếu, nên cuối cùng ý nghĩa của tự do dân chủ khách quan dần dần thay thế vào đó, bản chất dân chủ tự do là thật sự, còn hình thức quân chủ biểu trưng nào đó còn tồn tại, chẳng qua là nhằm đáp ứng những thói quen truyền thống hay tình cảm tốt đẹp bảo lưu nào đó vậy thôi. Tất cả mọi điều đó hoàn toàn tự nhiên, khách quan còn không có một cơ sở ý thức hệ chủ quan nào lồng vào trong đó cả.

 

Nhưng tới khi Các Mác xuất hiện (1848 - 1883) thì hoàn cảnh thế giới mới hoàn toàn đổi khác. Lần đầu tiên Mác đưa ra lý thuyết đấu tranh giai cấp nhằm đi đến xã hội hoàn toàn không giai cấp bằng biện pháp độc tài vô sản hay chuyên chính vô sản. Mục đích xã hội không giai cấp của Mác là xã hội không còn thị trường, tiền tệ, không còn mọi giai cấp khác nhau, chỉ còn những người công nhân thuần túy, cùng làm sản phẩm trực tiếp chia chung với nhau, giai đoạn đầu gọi là xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo công sức, giai đoạn sau cao hơn gọi là cộng sản chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Trong tương lai xã nữa, tiến tới xã hội không còn nhà nước, không còn pháp luật, bởi không còn giai cấp thành những gì nhằm bảo vệ giai cấp, là công cụ của giai cấp trước đó cũng hoàn toàn bị tiêu diệt.

    

Giấc mơ đầy không tưởng đó của Mác thật vô tiền khoáng hậu, chứa toàn những điều nghịch lý, phi lý trong đó, hoàn toàn phản lô-gích, phản thực tế khách quan khoa học. Bởi giai cấp công nhân vô sản chỉ tồn tại có một mình thì cơ chế xã hội nào mà tạo ra điều đó. Phải có cái mặt mới có cái trái, có cái thấp mới có cái cao, có cái này mới có cái kia, có sự vật nào mà chỉ có một minh, đây chính là sự ngờ nghệch của Mác. Mác còn cho giai cấp công nhân được đội tiền phong của nó lãnh đạo, khi xóa xong được giai cấp thì đội tiền phong hay đảng độc tài của nó cũng tự mất, không còn ai ngoài giai cấp công nhân nữa.

 

Thật là một lý luận ngược ngạo và cả hoàn toàn ngây thơ mà Mác phạm phải. Mác quên cả điều thiết yếu là bản năng tham muốn của con người, ai có điều lợi lộc hay ưu quyền mà lai hoàn toàn tự nguyện bỏ đi, hay sự độc tài độc đoán đó sẽ mút chỉ cà na cai quản mãi thế gian. Mác quên cả điều quán tính hay luật quán tính khách quan trong xã hội loài người, là trạng thái nào được thiết lập, nếu không có nguyên nhân nào lớn hơn để thay đổi nó, nó chỉ có thể tồn tại mãi mãi mà không thể khác. Vả thế nào là đội tiên phong thuần túy lý tưởng, lấy thuộc tính hay cơ sở nào bảo đảm cho điều đó, lấy điều gì để bảo đảm chắc chắn rằng nó không suy thoái hay cả ngay từ đầu khó tránh bị các thành phần, yếu tố thời cơ, cơ hội xâm nhập, trà trộn vào. Tính ấu trĩ, ngây thơ của Mác ở đây chỉ là như thế.

 

Thật ra kiểu tin tưởng suông đuột của Mác như thế chăng qua là do từ sự mê tín quá mê muội vào thuyết biện chứng của Hegel. Cho rằng sự vật đều phủ nhận liên tiếp nhau, và khi có hai đầu đối lập phải nhất thiết bị phủ nhận và tiêu diệt một đầu. Kiểu biện chứng của Hegel chỉ là kiểu biện chứng duy tâm và hoàn toàn tư biện, tức lý luận suông trong ý thức và nhận thức. Mác là người tuyệt đối duy vật, chỉ tin tưởng duy nhất vật chất như là cốt lõi tồn tại của mọi điều trong thảy thế gian, ngoài ra không có gì khác, không có tinh thần mọi loại, hay nếu có cũng chỉ là bản thân của vật chất. Và vật chất hoàn toàn vô nghĩa, không có nội lực nào cả thì lấy đâu biện chứng. Một tảng đá triệu đời nó cũng chỉ là tảng đá, dễ nào làm phát sinh ra cái khác ngoài là chất đá được. Sự đem râu ông nọ cắm cằm bà kia để phịa ra thuyết duy vật biện chứng rồi tô vẽ ra cả thuyết duy vật lịch sử để để nhằm cổ vũ cho quan niệm giai cấp đấu tranh hay đấu tranh giai cấp của Mác chỉ là một quan niệm tùy tiện, đầy chất ức đoán, xuyên tạc sự thật và chẳng có chút gì là thực tế, khách quan cả. Lý luận kiểu để nhằm lý luận, bất chấp sự thật, đó khác nào là kiểu ngụy biện, xuyên tạc và thậm chí gian giảo của Mác.

 

Trong khi bản chất cấu trúc hay cơ cấu tổ chức tự thân luôn luôn phải có trong đều sự vật. Từ mảnh giấy, đầu kim, ngọn cỏ, đến những cái khác sâu xa hơn như hạt nhân nguyên tử, hay cả đến những cái vĩ mô hoặc vĩ đại, toàn diện hơn, như các thiên hà lẫn cả đều vũ trụ toàn thể, cái nào mà không cấu trúc hay thoát ra được bản thân quy luật của cấu trúc. Giai cấp xã hội cũng hoàn toàn kiểu thế, có điều nó không rắn chắc, im lìm bất động như nhiều sự vật nhưng luôn chuyển động, đổi thảy, chỉ là quy luật vận động khách quan, tự nhiên của đều xã hội lẫn lịch sử. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, đó là chân lý thực tế mà từ thời xa xưa nhân gian đã từng thấy rõ. Nên đây cũng chính là một sự hoang tưởng của Mác, một mơ một xã hội toàn không giai cấp là điều ấu trĩ, ngu ngơ và hoàn toàn phi lý.

 

Cả tư sản là định chế thiết yếu và khách quan của xã hội loài người, bởi là phương tiện bảo đảm sự tự do, thoải mái, cũng như tiện lợi cho mọi cá nhân trong tất cả mọi mặt. Cả thị trường và tiền tệ đều cũng do đó mà ra, đều là những khám phá vĩ đại và hiệu dụng nhất từ ngàn xưa mà loài người tìm thấy được. Mác lại vì nhận thức tính bóc lột theo kiểu phán đoán một chiều, sai lạc, lẫn đều chất cảm tính, để muốn nhằm tránh bóc lột phải loại bỏ thị trường, hủy bỏ tiền tệ lưu thông, để con người cùng làm ăn trực tiếp phân phối sản phẩm với nhau, khác nào quan niệm của Mác là chống lại xã hội, đi ngược lại phát triển tự nhiên của xã hội. Bởi vì thời hái lượm được mệnh danh là thời cộng sản nguyên thủy, ngày nay đã rời xa cả nhiều vạn năm rồi, làm sao có thể quay lại kiểu ngược dòng được nữa.

 

Mác lấy cảm thức phi lý đầy cảm tính và thị hiếu bạt mạng đó của mình két chung lại với quy tắc biện chứng chỉ toàn tư biện đó của Hegel để tự mệnh danh học thuyết của mình là học thuyết khoa học, chân lý vô địch và tuyệt đối đúng, kiểu như đỉnh cao của trí tuệ loài người, thật là phi lý và ốt dột, lôi kéo và phỉnh dụ được chỉ số người trong thời kỳ tri thức thế giới còn nhiều ấu trĩ, mơ hồ và thấp kém. Nhưng chính Lênin là người đầu tiên ở Nga đã đem nhằm thực thi và tưởng rằng thực hiện được toàn diện lý thuyết Mác. Thật ra nếu không có Lênin, thuyết Mác chỉ có thể ngàn đời nằm yên trong hộc tủ, làm mồi cho mối mọt, bởi nó hoàn toàn phi lý, hư tưởng như thế thì mọi con người lý trí, trung thực, và lương hảo nữa còn làm sao chấp nhận.

 

Nhưng đất nước Nga lúc đó thực chất vẫn là đất nước lạc hậu nhiều mặt so với toàn châu Âu, nên đây là mảnh đất mầu mỡ cho thuyết Mác được chiếu cố và làm lan truyền đi nhiều nơi ra toàn thế giới. Thêm điều quan trọng nhất, khi Mác hô lên vô sản độc tài đầy chất khiên cưỡng và mờ mịt, thì điều đó hấp dẫn được giới nghèo khó trên toàn thế giới, nhất là đối với những nước lạc hậu. Vả nghệ thuật tổ chức và tuyên truyền lẫn áp dụng kỹ thuật bạo lực, bạo động là sở trường của nước Nga. Những cái ấy càng cố kết và hỗ trợ lẫn nhau, làm hệ thống bôn sê vít ngay từ đầu thành công ở Liên Xô chỉ đều như thế. Sức mạnh ở đây không phải là sức mạnh của sự nhận thức hay công lý mà là sức mạnh mù quáng của đám đông, của ý thưc kiểu thuần túy trong suốt thời gian dài cả gần thế kỷ quả đều là vậy. Sự sợ hãi luôn có và sức mạnh bầy đàn của đám đông, được tuyên duyên thành sức mạnh tập thể, thành sức mạnh vô địch nhất định thắng, thật là điều lố bịch của nhân loại mà từ ngàn năm xưa chưa từng có. Tình ngu dân tệ hại do sự tuyên truyền nghiệt ngã một cách giả dối, cũng phát sinh do bởi sự cuồng tín, giáo điều, hay kể cả sự lợi dụng bản thân về học thuyết Mác.

 

Nên mọi sự nhân danh trong thuyết Mác đã trở thành thói quen truyền thống vẫn luôn luôn có. Chỉ vì sự nghèo khó một thời của công nhân vô sản Anh thế kỷ 18, sự nghèo khổ của giai cấp tầng lớp nông dân bần cố nông do các xã hội, đất nước nghèo nàn của Á Châu mang lại, một số người đầu tiên hoặc chỉ vô tình hay hữu ý cũng đã từng nhân danh ý thuyết Mác. Nhân danh giải phóng giai cấp công nhân và nông dân, nhân danh giải phóng khỏi thực dân đế quốc và quân chủ phong kiến, nhân danh giải phóng đất nước và cả nhân loại, nhưng cuối cùng thực tế hay cả trong thâm tâm họ ai đâu đều biết. Sông sâu còn có kẻ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người, cuối cùng kết quả thực tế đã phơi bày hay chứng minh ra tất cả. Sự độc tài độc đoán của cá nhân Stalin, của Mao Trạch Đông, của Kim Nhật Thành, cuối cùng chỉ mang đến chiến tranh và xã hội bị áp đảo cùng cực mà ai cũng rõ. Nguyên lý cấm xét lại ở Liên Xô, mười năm cách mạng văn hóa ở Trung Quốc, phong trào cải cách ruộng đất ở một số nước, chế độ giòng họ trị, gia đình trị của ông cha con cháu nhà họ Kim làm toàn dân Bắc Triều Tiên bị tuyệt đối áp chế, đều hoàn toÀn cho thấy điều đó.

 

Thật ra không bất kỳ cá nhân hay tập thể nào có thể sử dụng được sức mạnh độc tài nếu họ không vận dụng hay sử dụng được sức mạnh mù quáng của đám quần chúng rộng lớn nghe tin theo họ hay nằm trong tay chính họ. Một đứa trẻ chăn cừu hay đứa bé chăn vịt đều có thể chỉ cần cầm một cái que nhỏ hay cái roi nhỏ đã có thể điều khiển cả đám đông bầy cừu hay vịt khổng lồ. Đó là sức mạnh của sự vô tri thức hay sự nhận thức. Sức mạnh đó không phải đến từ cái que hay cây gậy mà đến từ từng cá thể cừu hay vịt với nhau. Chúng hoàn toàn mù quáng chỉ chạy theo bầy tức theo một niềm tin quán tính nhất định. Riêng nơi loài người, sự tuyên truyền giả dối lâu ngày đã được nhập tâm, con người chỉ còn biết suy nghĩ một chiều mà không còn tư duy độc lập hoặc nhận thức tự do theo cách nào khác. Đó là kết quả của chế độ Quốc xã, quân phiệt, hay cả hệ thống bôn sê vít của xã hội Liên Xô xưa kia đều là như thế.

 

Nó hoàn toàn không dung nạp được người trí thức chân chính, độc lập, nó chỉ tạo ra kiểu quần chúng đàn bầy, chỉ biết tung hô lãnh tụ, hô khẩu hiệu theo mọi cách, mọi loại, nhất là âm nhạc và văn học nghệ thuật nhằm ngu dân kiểu mù quáng nhất. Tiêu diệt trí thức, tiêu diệt mọi giới tinh hoa khác nhau trong xã hội loài người là thủ thuật thường thấy nhất trong mọi chế độ độc tài độc đoán. Không những thế còn dùng sức mạnh kinh tế cùng bạo lực trần trụi hoang dã để khống chế. Tính nguy hiểm và tệ hại đối đế nhất của các kiểu độc tài toàn trị là như thế đó. Chúng làm hạ giá con người xuống còn xã hội bầy đàn, xã hội vật thể mà không còn toàn đúng xã hội nhân bản, nhân văn, với nền tảng tự do dân chủ hoàn toàn thực tế, khách quan và thiết yếu nữa. Trách nhiệm của nhà độc tài vì do mù quáng vào một học thuyết hay ý thức hệ nào đó, hay thật sự chỉ vì bản thân ích kỷ, thấp kém, nhưng được khéo che đậy hay dùng mọi cách để thêu dệt nên vậy thôi. Tính ngu dân và tính xuyên tạc sự thật khách quan luôn là điều mà mọi chế độ độc tài đều ham muốn và ưa vận dụng nhất.

 

Nếu ngày xưa chế độ phong kiến hay quân chủ đôc đoán, thực chất chỉ có cá nhân, gia đình, hay giòng họ nào đó cai trị kiểu cha truyền con nối chỉ nhờ họ đánh thắng mọi địch thủ của mình, nhưng toàn bộ xã hội vẫn có tự do riêng, tuy không dân chủ, nhà nước không can dự vào hoạt động toàn dân riêng tư chút nào cả. Chỉ từ luật khi quân, phản loạn, chống lại vua, còn phần lớn xã hội đều được tự do nhiều mặt, không hề gò bó, buộc chặt vào bất kỳ loại ý thức hệ chủ quan phi lý nào cả. Sự tự do dân chủ của xã hội trong nền quân chủ chuyên chinh là điều vẫn còn thấy được. Trong khi đó học thuyết tuyệt đối hoang tưởng của Mác cuối cùng trở thành chế độ toàn trị chuyên chế toàn xã hội. Nhờ hệ thống tổ chức chặt chẽ, hệ thống tuyên truyền giáo dục tinh vi, cả chính sách kinh tế bó buộc về đời sống, con người bất kỳ mọi cai đều không thể có chút tự do để tránh né hay thoát ra nào cả. Như một đám cỏ bị đè bẹp bằng một tấm danh, cỏ vẫn có tự do sống được, nhưng thật sự chỉ sống theo bản năng tự nhiên theo mọi cách, nhưng hoàn toàn giả tạo và chẳng có khách quan chút nào.

 

Loài người cũng vậy, trong bất kỳ chế độ độc tài nghiệt ngã phản động nào thì họ vẫn sống, nhưng đó chỉ là cách sống sinh vật tạm bợ, không phải cách sống chân chính của con người có đều mọi tự do khách quan và nhân bản. Như cái cây kẹt trong hốc đá thì nó vẫn sống, loài vật kẹt trong nơi tối tăm, bẩn chật thì chúng vẫn sống, nhưng đó là cách sống trái lại với bản thân tự nhiên của nó. Loài người cũng vậy, đó chỉ là cách sống ảo và hoàn toàn giả tạo. Sống trái ngược lại với bản thân khách quan tự nhiên của mình mà đều tự không biết. Đó là cách sống vong thân và còn làm cả đồng loại mình vong thân. Bởi trong thế giới ảo đó, không ai được quyền làm ngược, suy nghĩ ngược, hay sống ngược lại với chính bản thân thế giới ảo đó. Riết rồi lâu ngày tưởng thế giới đó là thật, là chân lý, là công lý, là sự vong thân, đánh mât bản thân chính đáng của mình mà không tự biết. Sự bóc lột cá nhân ngày xưa nếu có trong vài trường hợp đặc thù nào đó, nay trở thành sự bóc lột tập thể cả tinh thần lẫn vật chất cùng quan hệ xã hội mọi loại. Ngây xưa nếu là vua cá nhân hay giòng họ, thì ngày nay trở thành vua tập thể tự tuyển chọn lấy mà không ai trong xã hội đó bầu bán hoặc tín nhiệm ra cả.

 

Đó là sự tệ hại mà học thuyết Mác đã mang lại cho cả thế giới loài người gần như suốt tròn cả một thế kỷ. Sự tệ hại này trước hết do những nguyên lý tự chế trong bản chất nó gây ra. Trước tiên thuyết Mác xét cho cùng là lý thuyết hư vô tuyệt đối, bởi không tin điều gì khác hơn là vật chất tuyệt đối, như vậy nó còn gì về bất kỳ ý nghĩa hay nghĩa lý nào giữa thế gian hay xã hội tồn tại. Thứ nhì, nhìn cứu cánh tột cùng, nó chẳng khác gì kiểu học thuyết vô chính phủ, bởi chủ trương nhằm tiêu diệt hết mọi cái một cách tuyệt đối, chỉ trừ ra một mớ giáo điều kỳ quặc và tâm thức cuồng tín phi lý, nghiệt ngã, là còn để lại. Học thuyết Mác bởi vậy như kiểu một học thuyết chủ tương vô thiên vô pháp, thực chất là kiểu vô chính phủ, mọi chuyện bất cần mà gần một nửa loài người từng bị du vào trong đó trước khi Liên Xô hoàn toàn sụp đổ. Thế nên tóm lại, bản thân Các Mác và kể cả bản thân dân tộc Nga trong quá khứ phải chịu trách nhiệm về tất cả điều đó trước nhân loại. Bởi đây mới chính là nguyên nhân đầu tiên của tất cả. Mọi sự về sau chỉ là hệ lụy hay hậu quả. Một nguyên nhân đầu tiên tệ hại vẫn tạo ra được mọi hậu quả tồi tệ sau cùng chỉ bởi vì do một chuỗi nguyên nhân kế tiếp nhau về sau trên tất cả mọi phương diện, mọi mặt, mà chính nó đã tạo lập.

 

THƯỢNG NGÀN

(25/4/28)

 

**

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2024

THẾ NÀO LÀ THÀNH PHẦN TINH HOA NƠI XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

THẾ NÀO LÀ THÀNH PHẦN TINH HOA NƠI XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

Thành phần tinh hoa là thành phần chọn lọc, nổi bậc, xuất sắc, đặc điểm, hay quý giá ở trong một tập hợp hay quần thể nào đó. Bất kỳ một nhóm sự vật nào cũng có thành phần nổi trội hơn hay nói được là đặc săc, tinh túy ở ngay trong bản thân chúng. Cỏ cây, đất đá, động vật, hay bất kỳ quần thể, tập hợp loại nào cũng thường đều được phân biệt hay có những tính cách như thế.

 

Trong đất đai, có các trạng thái, khía cạnh, cấu trúc thổ nhưỡng giàu có, phong phú, đặc sắc hơn các nơi khác. Trong khoáng vật có các loại đá quý hiếm, đặc biệt hơn các loại khác. Trong kim loại cũng có một số kim loại quý giá hay nổi bật hơn các đồng lớp khác. Ngay loài vật hay bất cứ chủng loại sự vật nào người ta cũng có thể nhận thấy hay tìm ra các đặc điểm thành phần như thế. Nhưng cao nhất hay gần gũi nhất, trong thế giới xã hội loài người, các đặc tính chọn lọc hay đặc biệt như thế vẫn thường có, và người ta gọi đó là những thành phần tinh hoa, đặc sắc, đáng quan tâm đến.

 

Vậy tinh hoa hay thành phần xuất sắc trong xã hội con người là gì, do đâu mà có và ý nghĩa của nó thế nào ? Đặc điểm này có thể xét cả bên ngoài lẫn bên trong, nhằm phân biệt với các thành phần khác nói chung không có gì xuất sắc hay cá biệt lắm. Dạng bên ngoài này như tính chất thân xác hay hoạt động nổi bật trong số vài phương diện nào đó, nhưng chưa thể cho đó là thành phần tinh hoa được. Các loại lực sĩ thể hình, nhan sắc nữ giới, tài năng ca sĩ, tính cách thông minh, tài bộ của một số cá nhân nào đó, đều chỉ là những chuyện bình thường, chưa phải mang ý nghĩa tinh hoa đặc biệt hay quan trọng lắm.

 

Như thế tinh hoa ở đây phải xét bề trong, tức mang ý nghĩa hay giá trị tinh thần cao hơn, sâu xa hơn, tài năng hay tiềm lực nào đó xuất sắc, đặc biệt hữu ích hay có tầm quan trọng hơn, tích cực nhiều mặt cho xã hội hơn. Tinh hoa như vậy phải luôn được hiểu theo chiều hướng tích cực nhưng không phải là tiêu cực đối với xã hội. Một tướng cướp cho dầu tài giỏi bao nhiêu, những cá nhân gây phá tán cho xã hội nổi tiếng bao nhiêu, đó đều không phải là thành phần tinh hoa mà là những thành phần phá hoại, gây tiêu cực đến lợi ích chung của xã hội hay làm phương hại đến xã hội.

 

Tức tinh hoa tự nó có giá trị, ý nghĩa tự thân cũng như giá trị, ý nghĩa xã hội. Tinh hoa là năng lực hay tiềm lực xuất sắc của cá nhân, trội vượt lên các cá nhân bình thường khác cũng như mang giá trị đặc biệt cho xã hội nói chung trong những thời kỳ hay thế hệ nhất định. Ý nghĩa của tinh hoa như vậy là ý nghĩa tài năng hay giá trị nhận thức nào đó. Tài năng tất nhiên tự có một phần nhưng thiết yếu vẫn do đào tạo hay giáo dục mang lại. Tài năng phần lớn là yếu tố bẩm sinh khách quan, nhưng chủ yếu vẫn do chính nổ lực cá nhân nhằm củng cố, phát triển và hoàn thiện nó. Tài năng có mọi dạng loại, mọi mức độ, và ở dạng loại, mức độ nào quan trọng, thiết yếu nhất cho xã hội, đó chính là những yếu tố hay thành phần tinh hoa của toàn xã hội.

 

Nói cách cụ thể hơn, tinh hoa xã hội đều thông thường là tinh hoa ở những đất nước, quốc gia nào đó, hay phạm vi cộng đồng, địa phương rộng lớn hay dân tộc nào đó. Đó đều là những của quý của xã hội, bởi nó thường đều đóng góp cho xã hội nói chung hay cho những phạm vi, lãnh vực hoặc địa hạt nào đó cụ thể nhất định. Như trong hoạt động chính trị xã hội, kinh tế đời sống, văn hóa nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, đều mang ý nghĩa chính yếu nhất. Tinh hoa giống như những bông hoa nở ra trên những phạm vi cây đời nhất định, và đều cùng mang lại cái trái ngọt mọi loại cho đều xã hội.

 

Sự phân biệt giữa tinh hoa và cộng đồng hay đại chúng chỉ là sự phân biệt về chất lượng, số lượng hay kết quả đóng góp nổi bật mà không gì khác. Quần chúng đều là sự đóng góp thông thường hay bình thường, nhưng tinh hoa thì kết quả nổi bật, xuất sắc hơn, ngay cả khi hiệu quả và kết quả cao hơn. Đó chính là ý nghĩa mà giá trị tinh hoa là giá trị đặc biệt cao hơn cũng như mức độ và tầm vóc lớn hơn. Cái tâm và cái tầm của tinh hoa chính là ý nghĩa đặc biệt nhất và tất cả mọi quốc gia, đất nước, dân tộc, hay xã hội nói chung đều luôn cần tới nó. Bởi tinh hoa chẳng khác gì mũi nhọn, yếu tố tiên quyết đầu tiên làm khởi động hay đầu tàu cho tất cả.

 

Tinh hoa không chỉ là yếu tố năng lực, tài năng, tiềm lực, tiềm năng, mà còn là yếu tố nhận thức và hành động tiên phong, đi dầu cho toàn xã hội ở nơi những phạm vi cụ thể riêng biệt nhất định. Sự nhận thức và năng lực hành động đều luôn không thể thiếu cho giới tinh hoa, bởi nếu thiếu hai yếu tố này, họ cũng đánh mất vai trò, ý nghĩa tiên phong, mà chỉ trở thành yếu tố đại chúng hay quần chúng bình thường và không còn là ý nghĩa hay giá trị của tinh hoa nữa. Như vậy tinh hoa luôn phải thể hiện ra bằng yếu tố nhận thức, ý thức, ý chí và lương tâm à yêu cầu trước nhất. Từ sự nhận thức về các sự thật, yêu cầu thực tế khách quan, họ có ý thức về năng lực, trách nhiệm của mình, từ đó có ý chí vươn lên làm ích lợi cho xã hội, đó chính là ý nghĩa tiền phong nhất.

 

Bởi quần chúng thì thường hạn chế về nhận thức, có tính thụ động về hành động, nên luôn cần sự hướng dẫn, sự tác động của giới tinh hoa mới khả dĩ làm cho vận động, tạo ra các động lực tiến tới hơn. Thật ra giới tinh hoa cũng từ quần chúng hay đại chúng mà không đâu khác. Nhưng đây là sự vận động tự nhiên hay sự chọn lọc tự nhiên do chính các yếu tố chủ quan hay hoàn cảnh khách quan riêng đã dẫn đến. Nếu giới quần chúng bình dân chỉ mãi là thụ động hay bất động, muôn đời họ vẫn chỉ vậy, nhưng số cá nhân nào đó nổ lực tự phấn đấu, nổ lực tự thân thắng lướt hoàn cảnh, được hoàn cảnh thuận lợi nào đó hỗ trợ, họ có thể tự tạo ra được năng lực và bề dày nhận thức và đưa được ý thức lên tầm cao hơn, chính họ đã tự thân vận động để đi vào và biến thành yếu tố tinh hoa theo cách tự nhiên và tự phát.

 

Chỉ vì trong lực lượng hay đám đông quần chúng của xã hội, vẫn luôn có những cá nhân thành công tạo ra cho mình những sức mạnh riêng nào đó, như thế lực tài chánh, quyền hành, hay điều kiện xã hội nào đó làm người khác nễ phục hay chi phối được người khác, như kẻ trọc phú, tài phiệt, hay cầm đầu được các thế lực ngầm nào đó nổi bật hơn người khác, nhưng có điều họ không bao giờ trở thành yếu tố tinh hoa mà chỉ là những sức mạnh xoàng xỉnh, tầm thường, hay có khi chỉ là những yếu tố tầm thường hay thậm chí là tiêu cực của xã hội. Có nghĩa yếu tố tinh hoa luôn luôn là yếu tố nhận thức, chọn lọc, ý thức, và nhất là luôn có ý thức tốt đẹp hay tích cực đối với xã hội. Sự hiểu biết, nhân cách, đạo đức, và tài năng trội vượt về các phạm vi, lãnh vực tiêu biểu nào đó, chính điều đó mới quyết định về ý nghĩa, mục đích, kể cả giá trị cũng như vai trò của giới tinh hoa xã hội.  

 

Tinh hoa là sự chọn lọc và sự hiệu quả, nên nếu không có ý thức trách nhiệm hay nguyện vọng cao cả đối với xã hội, thì dù sức mạnh hay vai vế thế nào trong xã hội nào đó, vẫn chẳng bao giờ là thành phần tinh hoa mà chỉ là lực lượng ngầm, bình thường, hay xoàng xỉnh nói chung trong xã hội. Có nghĩa tinh hoa phải là giới trí thức và tài năng, cũng như có những giá trị tốt đẹp hay nguyện vọng cao cả đối với xã hội. Mọi người bình dân, lao động chân tay giản đơn sẽ không bao giờ là giới tinh hoa trừ khi họ có tiềm năng, tìm lực, tự vận động, tự đổi đời để đi vào giới thượng lưu tinh thần, giới hiểu biết, và có trách nhiệm cũng như nguyện vọng tốt đẹp thường xuyên với người khác, với tha nhân, hay với toàn xã hội. Cho nên những thành phần sống lâu năm lên lão làng, dầu có địa vị giàu sang, hay có vai vế, vai trò nhất định nào đó, chẳng qua họ cũng chỉ là các thế lực bình thường mà chẳng bao giờ là tầng lớp trí thức tinh hoa nào hết. Cả giới trí thức hiểu biết nào đó, nhưng tầm vóc không cao, nhân cách tầm thường, xoàng xỉnh, có khi họ cũng chỉ là giới hạ lưu, tuy có cao hơn các giới hạ lưu khác, nhưng không bao giờ là giới tinh hoa đúng nghĩa. Vậy tinh hoa là thành phần có giá trị cao và hoàn toàn đúng đắn cũng như nhất thiết hữu ích chung đối với xã hội.

 

Mọi con người chỉ sống bình thường, duy nhất chỉ hướng vào lợi ích riêng tư cá nhân, ít nhân cách xã hội, cũng không hề bao giờ có ý thức hay mục tiêu, mục đích nào đối với lợi ích chung hay lợi ích xã hội, đó cũng chỉ là thành phần bình dân bình thường, thậm chí tầm thường, chẳng thể nào mang ý nghia hay giá trị tinh hoa trong đời sống hay nói chung đối với xã hội cả. Nên tinh hoa vừa mang ý nghĩa nguồn gốc xuất xứ, vừa mang giá trị tự thân khách quan, cả vừa mang giá trị cao cả, trong sáng, lẫn mục tiêu hữu ích thường xuyên đối với xã hội. Tinh hoa là nền móng vừa cũng là mũi nhọn vô hình chung đối với xã hội. Những nhà nghiên cứu khoa học, những nhà tư duy tư tưởng, những nghệ nhân chân chính mọi loại, những nhà văn hóa nghệ thuật các loại, họ luôn luôn là những giá trị đi đầu, những ý nghĩa hàng đầu đới với xã hội.

 

Mọi dạng tinh hoa luôn luôn là sản phẩm một thời của xã hội. Các thế hệ liên tiếp nhau đều tạo ra, cung cấp, và mang đến những tinh hoa mọi loại cao thấp, nhất thời, hay bền lâu đối với xã hội nói chung. Tầm cỡ hay tầm vóc của họ có thể chỉ ở phạm vi hẹp như địa phương, đất nước, nhưng cũng có khi vươn đến tầm thế giới, nhân loại, kể cả lịch sử nói chung. Những nhà khoa học, triết học thời cổ Hy Lạp, Trung Hoa, Ấn Độ cổ đại, những nhà khoa học tầm cỡ như Newton, Pasteur, Einstein, Niel Bohr, và vô số những người khác nữa, họ thật sự không những là tinh hoa của đất nước mình, mà của cả thế giới, của nhân loại, cũng như của cả lịch sử loài người. Phật Thích Ca, Sesus Christ, Khổng tử, Lão tử, Trang tử, Mạnh tử v.v…đều luôn là những tinh hoa muôn đời như thế. Tinh hoa nói chung là mọi cá nhân cao cả nhất, giá trị và ý nghĩa nhất mà mỗi đất nước, dân tộc, thời đại, lẫn cả nhân loại có được, và nói chung trong mọi lãnh vực, tư duy trí tuệ cũng như đời sống thực hành.

 

Chỉ có điều học thuyết Các Mác, một học thuyết duy vật thuần túy và chỉ nhìn vào đấu tranh giai cấp, coi giai cấp là ý nghĩa và mục tiêu cao nhất và tối hậu nhất, nên không coi con người tự nhiên khách quan và xã hội tự nhiên khách quan là quan trọng nhất. Từ ý nghĩa đó Mác không cho tinh hoa đất nước, dân tộc hay thế giới loài người là cao nhất. Mác chỉ nhìn đông đảo quần chúng như là giai cấp bình dân, giai cấp vô sản là thiết yếu nhất. Với tính cách xa cạ và ý nghĩa kiểu bầy đàn do giai cấp vô sản lãnh đạo cách tự phong, Mác coi thường mọi tính cách cá biệt hay khác biệt về con người, đều chỉ nhìn nguyên trạng kiểu loại hóa như toàn bộ thế giới sinh vật, thế giới vật chất, coi nhẹ hay không lưu tâm lắm về mặt tinh thần, chỉ coi như kiểu thượng tầng kiến trúc đều do hạ tầng cơ sở là vật chất hay kinh tế tầm thường quyết định, chi phối, tạo ra cả, nên học thuyết Mác cũng không phải học thuyết coi trọng tinh hoa hay trí thức, mà chỉ quan niệm, quan tâm tính về cách quần chúng kiểu đàn bầy quyết định, bởi từ trong bản thân nó về khởi đầu cũng như cứu cánh đều chỉ là học thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa, kể cả thậm chí học thuyết kiểu vô chính phủ chủ nghĩa đến tận kỳ cùng thế thôi.    

  

NON NGÀN

(24/4/24)

 

**

 

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2024

NÓI VỀ SỰ PHÊ PHÁN MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC

 

NÓI VỀ SỰ PHÊ PHÁN MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC

 

Một lý thuyết khoa học là một lý thuyết chắc chắn, khách quan, chuẩn xác, và hoàn toàn hữu ích. Những đặc điểm hay thuộc tính đó của lý thuyết khoa học luôn hỗ trợ nhau, đòi hỏi nhau, bó buộc nhau, hay bổ túc, tăng cường cho nhau. Bất kỳ lý thuyết nào mà thiếu sót hay không có các tính cách khoa học như trên đều không phải là lý thuyết khoa học. Bởi ý nghĩa hay giá trị khoa học đòi hỏi phải được xác định qua các tiêu chí bó buộc đó về mặt lý thuyết hay học thuật, và cả những kết quả thực hành sau khi các tiêu chí đó được đưa vào vận dụng và chứng minh được hay không trong thực hiện.

 

Ở đây lý thuyết khoa học được hiểu bao quát hay rộng rãi nhất trong khoa học cơ bản, như khoa toán học, khoa học tự nhiên như các môn có đối tượng vật thể hay thiên nhiên, và khoa học xã hội có đối tượng là con người và xã hội. Khoa toán học có công cụ tìm kiếm, chứng minh, hay kiểm nhận bằng lý trí, tức bằng đầu óc lô-gích khách quan, cũng như bằng các nguyên lý chặt chẽ, chính xác nhất. Khoa học vật thể và tự nhiên cũng bằng các nguyên lý lô-gích khách quan, chắc chắc nhất, ngoài ra còn được bổ sung bằng các công cụ hỗ trợ nhằm cần đo, đong đếm, hay xác minh bằng công dụng máy móc chính xác mà ai cũng đều biết. Riêng khoa học xã hội và con người chỉ có thể bằng các công cụ tinh thần như đầu óc tri thức hiểu biết, sự thông minh suy đoán, cùng năng lực nắm bắt lô-gích thật sự chặt chẽ, trung thực, khách quan cũng như xác đáng nhất.

 

Bởi vậy bất kỳ lý thuyết nào nếu không hội đủ hay còn thiếu sót một hay vài tiêu chí khoa học bó buộc nào đó, nhất thiết nó đều không phải lý thuyết khoa học mà chỉ mang tính cách tưởng tượng, ức đoán hay tự khẳng định vu vơ nào đó, khiến thực chất đều không có ý nghĩa hay giá trị lý thuyết nào đó, mà cả mọi ý nghĩa thực hành cũng không bao giờ hữu dụng hay đạt đến những kết quả thực tế chung cuối cùng nào cả. Chúng thật sự chỉ vô ích, hoàn toàn vô tích sự, chỉ gây ra những kết quả phung phí, tạo ra những hệ lụy tai hại nhiều mặt đối với bản thân con người và xã hội, kể cả lịch sử khách quan nói chung, và chúng chỉ là những hư thuyết, ngụy thuyết, kể cả là tà thuyết, nếu chúng nhằm áp dụng vào các quy mô lớn hay các phương diện vĩ mô.

 

Vậy ý nghĩa và mục đích cuối cùng của lý thuyết là gì ? Đó thực chất đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại. Lý thuyết là tham vọng về cái nhìn bao quát, chặt chẽ nhất về phương diện, phạm vi, lãnh vực, hay khía cạnh cái nhìn nào đó về sự vật mà con người muốn khai phá hay áp dụng từ thiên nhiên thực tế khách quan vào cho sự nhận thức hiểu biết lẫn cho các mặt hữu ích trong đời sống. Đây là yêu cầu thiết yếu, chính đáng, bởi vì lý thuyết luôn luôn là cơ sở đích thực cho thực hành, làm cho thực hành được tiết kiệm, hiệu lực, và kết quả hơn, nhưng mặt khác, lý thuyết luôn vẫn là khuynh hướng hay niềm đam mê dễ bị lợi dụng nhất, mang đến những lý thuyết giả, những lý thuyết không có cơ sở thực tế chân thực, hay kể cả những tham vọng mơ hồ, hư tưởng, kể cả những mục tiêu giả tạo hay giả dối nhất định.

 

Vậy muốn tạo ra một lý thuyết hay học thuyết, phải luôn xuất phát, đặt nền trên những nguyên lý xác thực đã có, nhằm tìm ra, đi đến khám phá những nguyên lý tinh vi, sâu kín và mới mẽ hơn, không phải chỉ là những ham muốn tưởng tượng, những đặc thù thị hiếu hay chủ quan nào đó để nhằm tự khẳng định một mục đích mơ hồ, huyền hoặc nào đó để nhằm theo đuổi hay cưỡng bức, bó buộc mọi người hoặc toàn xã hội phải theo đuổi. Tức chỉ nguyên lý đúng mới đẻ ra những nguyên lý đúng mà không là gì khác. Cái phi nguyên lý không thể đẻ ra được bất kỳ nguyên ký đúng đắn nào. Bởi trong thực tại đời sống chỉ luôn luôn có một nguyên lý duy nhất đúng, rồi chúng tạo thành những hệ thống nguyên lý khác nhau cùng liên quan nhau và cùng nằm trong đó, không thể nào khác. Mọi cái gì sai với khách quan đều không tạo ra nguyên lý, mà thuần túy chỉ là sự tưởng tượng, giả tạo cũng như thêu dệt theo cách chủ quan và giả dối.

 

Như trong toán học, nguyên lý cơ bản nhất là những định đề đầu tiên, tuy không thể hay không bắt buộc phải chứng minh, nhưng có thể chứng minh không thể có những sự thật hay nguyên lý nào đúng hơn nó, nên nhất thiết phải công nhận nó là duy nhất đúng. Các nguyên lý trong mọi ngành khoa học tự nhiên khác cũng đều như thế. Tức chúng làm thành một hệ thống toàn diện, đầy đủ và bao quát nhất, mà những nguyên lý đến sau không thể phủ nhận, đi ngược lại hoặc mâu thuẫn với mọi nguyên lý đã từng có trước đó. Bởi nếu không cũng không còn khoa học, tức không còn mọi sự khách quan, chắc chắn khẳng định hay thống nhất nào cả. Nguyên lý chưa phải là chân lý, nhưng nó tạo nên cái cốt lõi cho chân lý, là hệ thống trụ cột chống chõi hay nâng đở cho chân lý khách quan được tồn tại trong vĩnh cửu cho đến khi có những nguyên lý tốt hơn được tìm ra để thay thế.

 

Vì thế nguyên lý dù ở dạng nào hay phạm vi cụ thể hoặc bao quát nào, cũng đều là những nền tảng khách quan nhất, bao quát nhất, bất biến nhất, vượt ra ngoài mọi phán đoán chủ quan cảm tính, vượt lên trên mọi thị hiếu nông cạn riêng tư hay bốc đồng nhất. Tức nguyên lý luôn luôn ở dạng lý tính, còn tình cảm, thị hiếu, ham muốn, chủ quan con người chỉ luôn ở dạng cảm tính. Lý tính là nguyên tắc của sự lô-gích, của sự phán đoán thuộc lý trí và trí tuệ, còn cảm tính đều là những khuynh hướng tự nhiên, buông thõng, và cả thấp kém. Người lý tính là người chỉ nghĩ đến sự thật hay chân lý khách quan, người cảm tính là người chỉ nghĩ đến ích lợi bản thân hay phe nhóm của mình, bất chấp mọi sự thật hay kể cả những lợi ích chung nào đó. Trạng thái lý tính là trạng thái con người khách quan, nhân bản, trạng thái cảm tính và thị hiếu là trạng thái bình thường của mọi loài sinh vật, chưa thể đạt đến bản chất nhân văn thật sự, hay đã bị thụt lùi, tụt hậu và đã đánh mất hoàn toàn nó.

 

Con người bởi vậy khác loài vật là nhờ bởi giáo dục cùng với sự suy nghĩ, phản tỉnh độc lập riêng rẻ ở bản thân mình. Chính cái đầu (tức nền giáo dục) làm phong phú, sâu sắc, củng cố thêm cho cái sau, và theo cách nào đó cái sau cũng củng cố, bổ sung thêm cũng như kể cả quyết định cho cái trước. Nếu nền giáo dục không nhằm nâng cấp, giải phóng luôn cho con người, mà chỉ nhằm thiết lập tính đàn bầy, mù quáng, công cụ hóa tuyệt đối con người, đó đều nền giáo dục phản khoa học, phản nhân văn, phản nhân cách, phản tiến hóa, phản xã hội, hay nói chung làm hạ thấp con người, tức nói khác là thành phản động. Mọi cái gì không tiến lên mà chỉ đứng lại và thụt lùi, tức mọi cái đó đều là phản động. Con người cần hai điều thiết yếu là nhân cách và sự hiểu biết. Hai điều này luôn bổ sung cho nhau, không có điều này cũng không thể có điều kia, đó là ý nghĩa hay mục đích của nền giáo dục, vừa đào tạo nhân cách, vừa trang bị hiểu biết, đó là nền giáo dục đúng nhu cầu nhân văn và giải phóng. Còn ngược lại nếu nền giáo dục chỉ làm cho con người cùn mằn, chỉ có suy nghĩ và hiểu biết một chiều, đều chỉ là nền giáo dục nô lệ và mù quáng, tức đều phản nhân văn và phản xã hội, vì tự bản thân nó đã nhất thiết phản lại nguyên lý thiết yếu nhất của loài người là nguyên lý tự do dân chủ.

       

Mọi cá nhân sinh ra đời đều hoàn toàn bình đẳng về mặt pháp lý kể từ đầu, đó là nguyên lý công bằng thực tế nhất mà không bất kỳ ai có thể chối cãi. Mỗi cá nhân hay cá thể sống đều là mỗi đơn vị sống ngang nhau, chỉ có thể thế thôi. Tuy mỗi cá nhân có đều tiềm lực và hoàn cảnh khác nhau, đó là chuyện về sau. Không thể lấy cái về sau mà phủ nhận cái đã có trước cũng như ngược lại. Cái có trước đó chính là cài nguyên lý, cái về sau đó là cái thực tế. Thực tế luôn phải xây dựng trên cái nguyên lý có trước, bổ sung thêm cho cái nguyên lý có trước, nhưng không thể phá hoại hay tiêu diệt nó. Đó chính là ý nghĩa của nguyên lý khoa học khách quan và trọn vẹn nhất. Con người bình đẳng trên nguyên tắc, và được bổ sung bằng nguyên lý tự do dân chủ trong xã hội, đó là điều căn cơ nhất của một xã hội nhân văn, nên bất kỳ ai đi ngược lại nó đều thành phản động, cho dầu lý thuyết nào hay cá nhân nào cũng vậy.

 

Học thuyết Mác hoàn toàn phản lại tất cả những điều này. Không cho con người như đơn vị cá thể là thiết yếu, mà cho giai cấp mới là thiết yếu. Không cho dấu tranh giữa đơn vị con người là thiết yếu mà cho đấu tranh giai cấp mới là thiết yếu. Nhưng không có con người lấy gì có giai cấp, đây là sự ngây thơ, nông cạn, mê muội, phi khoa học và phản khoa học của chính Mác. Lấy cái không căn bản, không thiết yếu, cái hệ quả để làm nền tảng cho cái chính yếu, đây chỉ là quan điểm ngây thơ, phản nguyên lý, phản lô-gích mà Mác đã phạm phải. Vì con người cụ thể mới là cái có thật, đấu tranh giữa con người cụ thể mới luôn là cái có thật. Trong khi giai cấp chỉ là phạm trù phân loại, ý niệm phân loại theo kiểu giàu nghèo hay là trên dưới tạm thời khác nhau theo cách bề ngoài và luôn luôn dễ dàng thay đổi, biến chuyển. Đấu tranh chỉ giữa cái có thật, làm sao có sự đấu tranh chỉ giữa cái ý niệm trừu tượng, đây là quan điểm hoang đường và hoàn toàn giả tạo hay giả dối của Mác.

 

Vả chăng quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác là gì ? Đó là mục đích để xã hội không còn giai cấp, cũng không còn bóc lột, không còn giàu nghèo, vì tất cả chỉ thành giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất, nhằm tiến tới xã hội tối thượng sau cùng không còn nhà nước, không còn pháp luật, không còn thị trường, không còn tiền tế, không còn tư tưởng, chỉ còn mọi người ngang nhau trong một xã hội tuyệt đối vô sản, cùng lao động sản xuất để phân chia tài sản trực tiếp với nhau, giai đoạn đầu thấp gọi là xã hội chủ nghĩa, làm theo công sức hưởng theo đóng góp, giai đoạn sau lý tưởng cao hơn, gọi là xã hội cộng sản, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Lúc này tài sản đều tuôn ra như nước, mọi con người đều tự giác làm việc và hưởng thụ, hoàn toàn không còn ỷ lại, ganh ghét đố kỵ nhau nữa, đó thật là một xã hội thần tiên hoàn toàn huyền hoặc, hoàn toàn không tưởng và tuyệt đối hư tưởng mà Mác quan niệm.

 

Sở dĩ có quan niệm như trên vì Mác nhìn thấy thực tế nghèo khổ của những người vô sản thợ thuyền nghèo khó ở Châu Âu vào thế kỷ 18, lúc công kỹ nghệ bắt đầu hình thành và phác triển. Tất nhiên bất kỳ xã hội nào khởi điềm hình thành đều có có sự hổn loạn hay bất nhất của nó. Nhưng nếu nó đi đúng quy luật khách quan, đi đúng nguyên lý thiết yếu, nhất thiết vẫn được tồn tại, phát triển, và vượt qua được chính những giai đoạn tạm thời gay cấn và đầy bất công đó, trừ khi nó đi không đúng khách quan, không đúng nguyên tắc, hoàn toàn sai trái nguyên lý thiết yếu, tất tự nó mới toàn đào thải vì không trụ lại được. Mác đi từ cảm thức mang đầy cảm tính và thị hiếu đó để mơ tưởng một xã hội hoàn toàn không có giai cấp, không có bất kỳ sự sai biệt khác nhau nào, cho mọi định chế thiết yếu mà xã hội loài người đã khám phá và xây dựng nên đã từ vạn năm trước bị cho là tư sản phải tận diệt đi để xây dựng một xã hội tuyệt đối và hoàn toàn vô sản.

 

Mác coi thực tế xã hội tư hữu và tư bản là xã hội bóc lột, vì nguyên nhân sâu xa và tiên quyết của nó là quyền tư hữu. Chính quyền tư hữu làm phát sinh ra giai cấp, ra bóc lột, ra mọi định chế thuộc thượng tần kiến trúc như nhà nước, pháp luật, tôn giáo, văn hóa, đạo lý v.v…đều là công cụ của giai cấp, của bóc lột, nên cần phải tuyệt đối xóa bỏ sạch đi để thay thế vào xã hội mơi mẽ đều mọi mặt là xã hội vô sản tuyệt đối nhất mà Mác mơ ước. Đây thật sự là điều hoàn toàn sai nguyên tắc, phản nguyên lý khách quan, mà Mác chủ trương thực hiện một cách vô lối, tùy tiện, bằng một cuộc cách mạng vô sản với tiêu chí độc tài vô sản mà Mác quan niệm. Sự độc tài đã đi ngược lại nguyên lý căn cơ tối hậu là sự bình đẳng giữa người và người. Sự độc tài hiển nhiên toàn chủ quan vì phản khách quan khoa học. Sự độc tài bởi vậy dễ dàng bị lạm dụng trong mọi trường hợp. Vả giai cấp vô sản nếu thật sự có cũng đâu phải giai cấp vĩnh viễn, không đẩy những cảm tính chủ quan, cũng đâu phải nhất thiết là tầng lớp tinh hoa, kể cả những trường hợp những kẻ thời cơ, cơ hội len lõi vào để vụ lợi, lập sự nghiệp hư danh bất chấp cả lợi ích xã hội hay cả loài người. Sự hời hợt, ngu dốt vì phản thực tế khách quan, phản khoa học của Mác chính là ở đó. Trong khi xã hội tư sản, nền kinh tế Tư bàn chủ nghĩa thật ra là sự phát triển mang tính khách quan của lịch sử khi công nghiệp xuất, kết hợp thị trường và tiền tệ, Mác lại khẳng định tư bản tự chôn, đây chỉ là sự ngụy tín vô lối. 

 

Thật ra quan điểm mù quáng của Mác chỉ bởi do Mác tin tưởng hão huyền về quy luật biện chứng của Hegel. Trong khi quan điểm biện chứng của Hegel là quan điểm duy tâm, mờ mịt, không rõ ràng, không chứng minh gì đều cụ thể, chỉ là quan điểm đầy tính tư biện, tưởng tượng nói suông. Trong khi Mác là người thuần túy duy vât, đem ý nghĩa biện chứng vào đây kiểu theo cách bứt râu ông nọ cắm cám bà kia chỉ hoàn phi lý, nghịch lý, hoàn toàn tự tiện, vô nghĩa và tuyệt đối nông cạn, nếu không nói là hoàn toàn sai trái. Bởi vật chất thuần túy thì không có bất kỳ thuộc tính tiềm năng nào cả ngoài ra chỉ toàn trì tính thụ động, vậy thì lấy đâu mà biện chứng được. Đây chính là quan điểm ấu trĩ, nông cạn, và hoàn toàn càn dở của Mác. Hai đầu đối lập của thanh nam châm, hai cực đối nhau cả trái đất có bao giờ tiêu diệt nhau đầu, thế vô sản làm sao tiêu diệt tư bản, đúng là kiểu cách suy nghĩ biện chứng mang tính mơ màng, tùy tiện và hoàn toàn theo dạng tự sướng, không có cơ sở khách quan, chắc chắn nào cả. Tuy nhiên điều nguy hiểm và tội tệ nhất là sự tẩy não con người trong xã hội. Do sự cuồng tín tin chắc là chân lý duy nhất đúng, chân lý vô địch bách chiến bách thắng theo kiểu này mà tạo nên nền giáo dục cùng các biện pháp cải tạo, ngu hóa một chiều đầu óc con người cần phải được độc lập tự do, lại là điều tệ hại nhất mà chính Mác đã mang lại nhiều nơi trong nhân loại.

 

Thế nhưng một cái trứng không phải tự phủ nhận liên tiếp để làm ra chú gà con, rồi gà con tự phủ nhận liên tiếp để ra con gà mẹ, đó chỉ là nguyên lý tầm thường, vô nghĩa, bởi vì mọi vật cũng có đâu ra khỏi ý nghĩa đó. Mà cái trứng nở ra cũng chẳng vì sự đấu tranh nội bộ với hai đầu đối lập của nó, mà đó là hệ thống gien hay là genom đã vận động và triển khai trong nó. Một tảng đá bên vệ đường triệu năm cũng không thể biện chứng cho ra một cái hay hay sự sống nào đó. Đó là nguyên lý duy vật biện chứng ngớ ngẩn, ẩu tả của Mác được đem dạy học một cách mù mịt trong học đường mà tay Trần Đức Thảo đã một thời mù quáng từng đi rao giảng. Cũng từ đó mà Mác phịa ra cả nguyên lý duy vật lịch sử, cho rằng nguyên lý đấu tranh giai cấp từ đầu đã làm xã hội loài người phát triển. Trong khi chính khoa học kỹ thuật hay tiến trình tìm ra những công cụ sản xuất khoa học từ thấp lên cao mới hoàn toàn là tác nhân của tất cả mọi điều đó. Ngay cả thị trường, tiền tệ, cũng là những khám phá mang tính kỹ thuật xã hội với tính hiệu năng cao nhất mà lịch sử nhân loại từng đạt được.

 

Mác dùng quan điểm đấu tranh giai cấp theo cách độc tài hay chuyên chính vô sản để nhằm tiêu diệt mọi giai cấp khác nhau, cùng bãi bỏ mọi định chế thiết yếu trong xã hội truyền thống đi trước đó là điều hoàn toàn phi lý. Bởi chính phương pháp luận khoa học sai trái và sự nhận thức các ý niệm sai trái, đã làm cho chính bản thân và mục đích củ thuyết Mác đều thành sai trái. Không bất kỳ ai ngồi trên thuyền mà tự dựng đứng thuyền lên được. Bởi nó sai nguyên lý thủy lực và trọng lực. Đã độc tài thì không bao giờ tự phủ nhận độc tài để đi đến tự do dân chủ được nữa. Bởi nguyên lý về bản năng ích kỷ đều đã luôn có ở bên trong chính nó. Nên không ai có thể dùng lửa để làm tắt lửa, dùng nước để ngăn được nước. Đó chính là quan điểm ấu trĩ và dại khờ của Mác. Có nghĩa khi đã thiết lập độc tài vô sản thì mãi mãi nô lệ nhân loại vào vòng độc đoán và tăm tối không thể nào còn thoát ra được nữa. Đây là một quan niệm hết sức vô duyên, toàn phi khoa học, phản khoa học, phản nhân văn tiến hóa và phát triển mà Mác đã thành tội ác khi vi phạm phải vì đã vĩnh viễn chống lại nhân loại trong quan điểm ngờ nghệch, mê lú của mình.

 

Xã hội tư sản hay tư bản không có gì sai trái hay ngược lại khách quan, ngược lại thực tế cả. Đây là nguyên lý phát triển tuyến tính hoàn toàn tự nhiên liên tục không gián đoạn của lịch sử xã hội loài người. Con người đầu tiên chưa biết kỹ thuật nên sống đàn bầy, chưa có tư hữu, chỉ biết săn bắn và hái lượm chung, đó là thời kỳ cộng sản nguyên thủy. Nhưng khi số lượng xã hội mở rộng, chất lượng cá nhân từng người phát triển, sự xuất hiện tư hữu là hoàn toàn khách quan, bởi vì nó tiện ích cho mỗi người và cũng có lợi chung cho toàn xã hội. Rồi thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, và khoa học kỹ thuật, đến công nghệ điện toàn ngày nay phát triển. Không bất cứ cá nhân riêng lẽ nào làm ra điều đó cả. Đó là sự phát triển, tự tiến bộ tập thể chung của sự tiến hóa xã hội loài người. Sự khám phá ra thị trường và tiền tệ lưu thông về sau cũng đều là những khám phá thiết yếu và vĩ đại như thế. Mọi sự phát triển khoa học kỹ thuật và mở mang kinh tế nơi xã hội loài người thực chất đều do tiềm lực, tiềm năng lý trí hay trí tuệ của con người là chủ yếu, chẳng phải do điều đấu tranh giai cấp nào kiểu mê tín và huyền bí mà Mác từng tưởng tượng.

 

Mác hiểu kinh tế một cách hoàn toàn sai. Hiểu kinh tế thành một bản thể cơ học của vật chất khách quan toàn diện là không đúng. Tác nhân chính của kinh tế yếu tố lý trí hay trí tuệ của xã hội con ngươi, là một hoạt động nhân văn thiết yếu của con người. Kinh tế luôn luôn chỉ tiến hóa xuôi mà không bao giờ phát triển ngược. Ngày nay kinh tế chỉ lấy nền tảng khoa học kỹ thuật là chính, không bao giờ là cảm quan hay sở thích, thị hiếu cá nhân được nữa. Kinh tế là cơ cấu tổ chức kỹ thuật mang tính máy móc do thị trường chủ yếu quyết định, không phải thuần túy chủ quan theo cách định hướng kế hoạch tập thể hay độc tài nào cả. Kinh tế luôn mang tính cách đầu vào đầu ra và hoạt động cơ chế thiết thực. Đầu vào quyết định dầu ra cũng như hoàn toàn ngược lại. Đầu ra chính là mục đích sau cùng mang lại sự tiêu thụ hàng và hạnh phúc mọi mặt cho cá nhân. Đầu vào là tài nguyên và chất xám mọi mặt. Ý niệm làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu hoàn toàn là quan điểm ngớ ngẩn, vớ vẩn, thậm chí chủ quan kiểu ngu dốt của Mác. Nhu cầu cá nhân luôn luôn vô hạn, còn tài nguyên vẫn luôn hữu hạn, một bất phương trình rõ ràng như thế làm sao cân bằng để trở thành phương trình bất biến hay tồn tại vĩnh viễn, đây là quan điểm nông cạn, mờ mịt, ấu trĩ và hoàn toàn phi lý, ngây thơ, thậm chí ngớ ngẩn của Mác nhưng đã làm biết bao nhiêu đầu óc nông cạn, trẻ con từng gần một thế kỷ tin chắc vào đó chỉ do bới sự tuyên truyền bất nhân và giả dối.

 

Nhất là quan điểm hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc thực chất chỉ là mục đích hay ý nghĩa nói mò, nói bướng của Mác. Thực thì Mác là người duy vật tuyệt đối, tin tưởng vũ trụ, lịch sử, xã hội, kể cả con người đều chỉ thuần túy vật chất, không có thuộc tính nội hàm nào khác hơn là vật chất, tức nội hàm và ngoại diên cùng mọi kết cấu, suy diễn lô-gích nào của Mác cũng đều tuyệt đối và hoàn toàn như thế, cả mọi hoạt động xã hội, kinh tế, và tinh thần của con người thuộc mọi loại cũng đều như thế. Tức hạ tầng cơ sở hiểu ở đây là mọi hoạt động kinh tế cũng như xã hội, còn kiến trúc thượng tầng là tư duy ý thức, nhà nước, pháp luật, xã hội, văn hóa, chính trị, văn học nghệ thuật chẳng qua cũng chỉ sản phẩm thuần túy của cái trước. Như vậy quan niệm của Mác rõ ràng là quan điểm hư vô chủ nghĩa và vô chính phủ chủ nghĩa mà không là gì khác. Tất cả đều là vật chất, coi như chỉ hư vô, không có nghĩa lý hay căn cơ bao quát nào ngoài hay trong cả, thế thì lý tưởng con người và xã hội thực chất cũng còn gì, đây là ý nghĩa thực chất thuyết Mác chỉ toàn ngụy thuyết hay tà thuyết nếu có thể nói đúng nói đắn là như vậy.

 

Đã vậy Mác còn gài cái ngàm độc tài vô sản làm cái chốt an toàn cho chính mình, cho nên ngay từ đầu không còn ai nói lên được điều gì khác hay ngược lại, nên cứ thế mà học thuyết Mác vĩnh viễn tồn tại nhưng thưc chất đến cuối cùng vẫn không mang lại bất kỳ tính chất hữu ích thật sự nào cho xã hội loài người cũng như kết quả sau cùng nào ngoài việc chỉ thỏa mãn cảm tính và thị hiếu riêng cho bản thân của Mác cùng những người nào quyết tâm đi theo con đường mà Mác đã vạch. Sự vô nguyên tắc của học thuyết Mác nói chung là như thế, bởi vì nó không hàm chứa nguyên lý nào sâu xa, đích thực, chắc chắn và hiệu lực mà chỉ đều là những quan điểm lơi khơi, tạm bợ, hời hợt, nông cạn, không có chiều sâu hay giá trị khoa học nào khách quan, chắc chắn và đích thực nền tảng cả. Mác chỉ dùng khái niệm bóc lột kiểu cá nhân mơ hồ, khó chuẩn mực xác đáng, để đi tới ý niệm tư hữu đầy thiên kiến ác ý, rồi khái niệm đấu tranh giai cấp đầy khiên cưỡng, ép buộc, giả tạo, vì đây không phải đấu tranh giai cấp khách quan thực sự mà chỉ là sức cưỡng đoạt giai cấp, bức bách giai cấp thay vào đó một cách hư ảo đầy tính giả tạo. Kết quả cộng với bạo lực và sự cưỡng chế sai trái, nó chỉ tạo ra sự bóc lột mới mang tính tập thể của kiểu giai cấp mới mà không có gì khác hơn cả.    

 

Bạo lực vô sản đi đôi với độc tài vô sản kết quả chỉ làm tiêu diệt mọi tầng lớp tinh hoa và trí thức của xã hội, chận đứng mọi sự phát triển đúng hướng của lịch sử, của con người, của xã hội theo cách khách quan và thiết yếu nhất. Thay vì thấy ra những nhược điểm nhất định nào đó của xã hội tư bản hay nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mới khởi đầu trong thế kỷ 18 trên thế giới, Mác không tích cực tìm cách cải thiện, canh tân nó mọi mặt theo cách khách quan, thực tế và khoa học, Mác lại đi theo con đường ý thức hệ đầy chủ quan, kiêu ngạo mà mê tín, mưu toan xóa bài làm lại, đốt rừng làm lại, chỉ vì vài vết chàm còn đọng lại mà nhằm chặt chân chặt tay của toàn xã hội nhằm thỏa mãn cảm tính, thị hiếu vớ vẩn của riêng cá nhân mình theo một xã hội không tưởng nhưng thực chất chỉ là nghiệt ngã và đầy vô ích, vô bổ. Nó biến xã hội thành những lớp người co cụm, xu thời, nịnh bợ, khiếp nhược, sống ký gởi, thậm chí cả khi tham tàn đánh mất cả nhân tính của mình, đây không những là tội lỗi và còn cả tội ác của chính bản thân Các Mác cả một thế kỷ trong quá khứ lịch sử nhân loại. Đây chính là sự tệ hại thực tế về mặt xã hội nhân bản, khoa học đích thực, cũng như triết học nhân văn mà bằng những hệ lụy sai lầm thuyết Mác đã phạm phải. Đó cũng là nguyên nhân của bao cuộc chiến tranh lẫn cưỡng chế bạo lực phi lý mà loài người phạm phải kể từ khi có học thuyết Mác.  

    

Nên tóm lại, phê phán một lý thuyết nào cũng phải cần dùng nhãn quan khoa học, tức sự trung thực, thẳng thắn, không kiểu a dua xu nịnh hay cá nhân, tà mị. Phê phán đứng đắn luôn nhằm ý nghĩa khách quan chân lý, vì lợi ích chung của con người và xã hội mà không vì tình cảm riêng tư hay thị hiếu nào đó của bản thân mình. Phê phán bất kỳ lý thuyết nào đều phải thật sự là sự phê phán khách quan khoa học, nhằm ý nghĩa chân lý đúng đắn hữu ích vì mục tiêu nhân văn, con người và xã hội. Trong trường hợp đối với những lý thuyết được mệnh danh hay tự cho là khoa học, sự phân tích luôn cần được phân tích, mổ xẻ đầy đủ trên tất cả mọi khía cạnh, phương diện khoa học thật sự đúng đắn và nghiêm túc nhất. Con người nhân văn là con người không thể kiểu đàn bầy, thiên lệch hay ngụy biện, gian xảo, mà con người nhân văn luôn phải là con người lương thiện, trung thực và thẳng thắn nhất. Phê phán một lý thuyết, nhất là lý thuyết được nhiều người biết đến và có ảnh hưởng rộng lớn nhất, theo cách nghiêm túc và toàn diện nhất, cũng là một sự đóng góp cho xã hội một cách cần thiết và hữu ích nhất. Xã hội loài người là một thực thể như một tổng thể, mọi yếu tố cùng liên quan hỗ trợ, làm kết quả cho nhau, suy nghĩ theo kiểu đấu tranh giai cấp vừa không đúng thực chất, vừa xé lẻ xã hội theo cách giả tạo và tệ hại nhất.

 

ĐẠI NGÀN

(23/4/24)

 

**