Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

PHÊ PHÁN ĐIỀU CỐT LÕI NƠI HỌC THUYẾT CÁC MÁC

   PHÊ PHÁN ĐIỀU CỐT LÕI

NƠI HỌC THUYẾT CÁC MÁC

 

Ngày nay khắp thế giới đều đã biết về mọi điều thực tế từ khi hoc thuyết Mác được đem áp dụng vào cho cuộc sống nhân loại là như thế nào rồi. Điều đó xảy ra từ khi nhà nước Liên Xô tức nhà nước xô viết ở Nga được thành hình ngay từ đầu khi Lênin xay dựng nên cho đến khi nó sụp đổ và tan rã trong suốt thời gian dài 7 thập niên sau đó. Cả khối Đông Âu trước kia thuộc Liên Xô cũ cũng vậy, một số nước khác ở khắp nơi cũng không ra ngoài thực chất đó, hay cả như Trung Quốc từ ngày được thành lập 1949 cho mãi đến ngày nay cũng đều không khác.


Nhưng đó mới chỉ là nhìn các hiện tượng xã hội bên ngoài, còn cái nhìn bên trong về bản chất khách quan hay khoa học ra sao mới là điều quan trọng nhất thiết trước tiên cần phải được nói đến. Bởi mọi sự thất bại hay không thành công như thế nào đó của mọi sự, trong đó kể cả học thuyết Mác, không phải chỉ điều biểu hiện ra bên ngoài, mà chính sự sai trái hay không hữu lý bên trong mới luôn là ý nghĩa quyết định nhất. Trong bài sau đây chúng ta sẽ phân tích khách quan về chính bản chất đó và cũng là điều mà mọi người sáng suốt, thức thời ngày nay phải cần thiết nhìn thấy.

 

Thật vậy, điều cốt lõi nhất trong học thuyết Mác không gì hơn là khái niệm “biện chứng luận” (Dialektik, dialectics, dialectique), đó là cái xương sống của học thuyết Mác, mà nếu không có nó học thuyết Mác cũng không thể hình thành và lấy gì làm căn cứ được. Nó như cái rề so, cái cốt tủy bên trong mà hệ thống học thuyết Mác được hình thành nên, nó như nguyên lý quyết định căn cơ nhất không thể thiếu, mà nếu bỏ ra nguyên lý này, học thuyết Mác đều trở nên trống rỗng, vô nghĩa, và cũng chẳng có lý do nào tồn tại cả.

 

Chính quan điểm “biện chứng” đó cũng đã thành động lực, động cơ, mục đích và niềm tin của lý thuyết đấu tranh giai cấp và xây dựng xã hội cộng sản trong tương lai mà học thuyết Mác muốn hướng đến. Nó là cơ sở của lý thuyết đấu tranh giai cấp mà Mác đã đưa ra, tạo thành nền móng chung nhất về lý thuyết phát triển lịch sử xã hội mà Mác chủ trương, tin tưởng, cũng như mục tiêu phải quyết tâm thực hiện cho bằng được. Đó là điều Mác tin học thuyết mình là học thuyết “khoa học” nhất từ trước đến nay, bỏ qua xa mọi quan niệm cộng sản không tưởng trước đó, và đó đã trở thành điều thu hút mọi người cộng sản trong quá khứ nhất.

 

Thường những người quần chúng vẫn hiểu lầm học thuyết Mác nhằm chống mọi bất công thực tế trong xã hội do giai cấp gây ra, tranh đấu nhằm thiết lập một xã hội không giai cấp trong tương lai là một mục tiêu lý tưởng, sự xóa bỏ phân biệt giàu nghèo trong cuộc sống là đạo đức và tình cảm cao quý của bản thân Mác, nhưng mọi điều đó đều nhầm lẫn. Bởi chính Mác luôn coi đó chỉ như những thị hiếu cảm tính, vấn đề là cần tìm ra nguyên lý khoa học dẫn đường cốt lõi có tính quyết định nhất, đó là nguyên lý “biện chứng” áp dụng vào xã hội và lịch sử mà Mác tâm đắc nhất như một niềm tin không bao giờ loại bỏ.

 

Bài viết này tất nhiên cũng không nhằm mục đích chính trị trước mắt nào cả. Bởi chính trị luôn phụ thuộc vào số đông, vào dân trí và vào sự tự do. Chính trị lý thuyết có thể thuộc về phạm vi khoa học, phạm vi triết học, cả phạm trù đạo đức, nhưng chính trị thực tế thì chắc chắn không bao giờ phụ thuộc vào những thứ đó. Bởi bất cứ xã hội nào không có thật sự tự do thì chính trị cũng trở thành vô nghĩa, bởi thực chất nó chỉ thành tranh giành lợi ích bản thân và quyền lực, nên chỉ những người nào hoặc ngây thơ hoặc quả cảm mới toan tính lám chính trị theo kiểu đó. Ở đây chỉ cốt phân tích vấn đề hoàn toàn hay thuần túy về mặt học thuật, tức mặt khoa học kể cả mặt triết học.

 

Vậy để phân tích tận cùng chiều sâu như thế, trước hết phải phân tích lịch sử việc hình thành học thuyết Mác là gì, hay trước tiên phải phân tích bối cảnh ra đời của chính bản thân cá nhân cũng như chính bản thân của học thuyết Mác.  Karl Heinrich Marx (1818-1883), một nhà tư tưởng người Đức gốc Do Thái. Tư tưởng của ông rãi ra khấp các lãnh vực như kinh tế, xã hội, lịch sử, chính trị, triết học nói chung. Nhưng căn bản ông ta thuộc lớp hậu sinh khuynh tả của vị thầy là Goerg Wilhelm Fridrich Hegel (1770-1831) trước đó, đây là vị triết gia tên tuổi người Đức đương thời, và chắc chắn Mác cũng là kiểu học trò hay ít ra cũng không thoát khỏi chính cái bóng bao phủ của vị thầy tên tuổi này.


Hegel nổi tiếng như một triết gia lớn nhất của Đức hay Châu Âu lúc đó và các đồ đệ của ông ta chia ra thành lớp hậu sinh, hay lớp học trò khuynh hữu và khuynh tả nổi đình đám mà Mác chính là một học trò thuộc loại tả khuynh đó. Hegel căn bản là nhà triết học hoàn toàn duy tâm, Mác cũng tự cho mình là nhà triết học hoàn toàn duy vật, nhưng nếu Hegel còn nổi tiếng thêm với cái gọi là biện chứng luận duy tâm, thì Mác cũng thế, cũng nổi tiếng như một nhà biện chứng luận duy vật. Đó chính là điều cốt lõi nhất mà chúng ta đang nói đến. Không có Hegel tất nhiên chắc chắn cũng không thể có Mác, nói đúng hơn, nếu không có biện chứng luận duy tâm của Hegel cũng không thể nào có biện chứng luận của Mác hay toàn bộ học thuyết Mác về sau, đó là điều trước tiên phải cần lưu ý.

 

Thế nên điều trước tiên buộc cần phải nói là biện chứng luận duy tâm là gì và biện chứng luận duy vật là gì ? Biện chứng trước hết là khái niệm siêu hình học, mang tính trừu tượng, tư biện hoàn toàn, không có gì chứng minh được cụ thể, ngoài ra chỉ là thứ trực giác mơ hồ nào đó về tồn tại luận tổng quát vậy thôi. Tức nguồn gốc vũ trụ do đâu mà có, nguồn gốc tồn tại do đâu mà ra, và từ đó mọi điều cũng được phát sinh ra tất cả. Điều này ngay từ thời cổ đại, về mặt triết học, cả Đông và Tây đều có nói đến. Cụ thể như nơi phương Đông, Kinh Dịch nói “Thái cực sinh lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh tứ tượng, Tứ tượng sinh bát quái, Bát quái biến thành muôn vật”. Hay Lão tử cũng nói “Đạo sinh nhất, Nhất sinh nhị, Nhị sinh tam, Tam sinh vạn vật”. Tức luôn phải có cái đầu tiên nguyên thỉ nào đó, cực đại nào đó, tuyệt đối nào đó, sau mới có thể sinh ra được mọi thứ. Cái đầu tiên chính là cái huyền nhiệm nhất, đó chính là cái lý Thái cực.


Biện chứng luận của Hegel hay siêu hình học của nhà triết học duy tâm Đức này thực chất cũng không ra ngoài một quan điểm như thế, nhưng cái nhìn chỉ có phần khác theo kiểu lô-gích thuần lý phương Tây thế thôi. Hegel cho cái đầu tiên đó là Tinh thần (nói theo tiếng Đức là Der Geist, còn tiếng Pháp là L’Esprit, tiếng Anh là the Spirit). Quan điểm triết học duy tâm cốt lõi của Hegel cho rằng khởi đầu Tinh thần tồn tại như một thực tại siêu việt, tức vô hạn, tuyệt đối, nhưng rỗng không. Trong trạng thái tự mâu thuẫn như thế, tức vừa vô hạng vừa sơ khởi như thế, Tinh thần phải bắt buộc vượt qua mình, vượt ra khỏi mình (Aufhebung), tự chối bỏ, phủ nhận mình liên tục (Negation der Negation), tạo ra thế giới khách quan, và cuối cùng từ đó nhận thức ra được tuyệt đối bản thân của chính mình (Absolutes Wissen, Absolut Knowledge, Connaissance absolue).
    

Mác cho quan điểm triết học duy tâm tuyệt đối như vậy của Hegel là hoàn toàn trừu tượng, không ăn nhập gì đến cuộc sống thực tế cả, nên Mác bèn phủ nhận nó, biến thành quan điểm duy vật thuần túy, cho thế giới khởi sự chỉ toàn là vật chất, chỉ có vật chất tuyệt đối còn ngoài ra không có gì cả. Thuyết Mác vừa duy vật tuyệt đối, tất nhiên cũng vô thần tuyệt đối chỉ là như thế. Nhưng Mác chỉ lấy lại quan điểm biện chứng của Hegel, cho là “hạt nhân duy lý” duy nhất, song hạ Tinh thần của Hegel xuống một cấp chỉ còn thuần túy là Vật chất (Materie, matter, matière). Tức vật chất sơ khởi ban đầu tự phủ nhận mình, vượt ra khỏi mình, và sự tự chối bỏ liên tục đó làm ra thế giới thực hữu mà không là gì khác. Ở đây phải nói ngay rằng so với Hegel thì Mác chỉ thật sự thiển cận, ngây thơ, lại tự cho rằng mình vượt qua Hegel và “lật ngược” Hegel lại, bởi Mác cho rằng Hegel chỉ đi bằng cái đầu, nên Mác phải khiến cho ông ta đi bằng đôi chân.

 

Học thuyết Mác bời vậy chỉ phỉnh dụ được những kẻ nông cạn, thiếu đầu óc lô-gích thật sự mà chỉ thiên về cảm tính, hoặc cả thiên về thị hiếu, tức chỉ nhìn mọi sự bằng cảm quan và chỉ bằng sở thích chủ quan. Bởi vì khi Mác chỉ vào vật chất thuần túy, tức nó hoàn toàn không có bất kỳ nội dung, thuộc tính, hay khả năng tiềm ẩn nào, bởi vì nó chỉ hoàn toàn bất khả hay trì lực đơn thuần thì lấy đâu để nó biến hóa ra cái khác. Quan điểm duy vật thuần túy thật sự chỉ là quan điểm ngây thơ, cảm tinh mà Mác đã mắc phải, cả Trần Đức Thảo ngu dốt, tưởng mình thông minh mà đáp cứt Mác cũng toàn nói thuần một luận điệu phi lô-gích, dốt nát, nông cạn như thế mà cũng được tay điếu đóm Cù Huy Hà Vũ tôn là “triết gia” duy nhất của Việt Nam từ trước đến nay thật là lố bịch và ngu xuẩn cả thảy.

 

Bởi vậy biện chứng luận chỉ có thể đi cùng với quan điểm duy tâm mà không thể nào đi với quan điểm duy vật, bởi kiểu đó là hoàn toàn phi lô-gích, dốt nát, phi triết học thật sự. Mọi cái gì tự nó có tiềm lực vô hạn hay có tiềm lực nào đó thì mới phát triển, tự triển khai ra được. Bào thai thì mới thành người, hạt cây mới có thể trở thành cây, bào thai đã chết, hay sạn trong bàng quan, hay hạt đã nấu chín thì không thể phát triển ra được thành cái gì cả. Thành nên quan điểm về Thái Cực nới Kinh Dịch hay quan điểm về cái Đạo đầu tiên của Lão tử là hoàn toàn đúng. Tuy không nói theo kiểu phủ định của phủ định, như Hegel đem thuần lý hóa theo cách lô-gích phương Tây, nhưng nội dung của Hegel và của phương Đông vẫn chỉ là một. Tức tin vào bản thể siêu viết lúc ban đầu của vũ trụ mà không tin theo kiểu cá nhân hóa (personification) hữu hình như một vị Thượng đế ban đầu sáng tạo nào.

 

Một tảng đá dù triệu năm nó vẫn chỉ đá là đá, chỉ có thể phong hóa và tan rã thành bụi đất mà không bao giờ có thể biến được thành cây. Chỉ hạt mầm mới có thể biến được thành cây. Vật chất hữu hình khác hoàn toàn với sự sống (life) có bản chất trừu tượng, vô hình là như thế. Ngày nay ngành sinh học (biology), cả sinh học phân tử (molecular biology) cũng chưa thể giải thích được tuyệt đối sự sống trên trái đất đã được hình thành cụ thể như thế nào, từ đâu mà có. Mọi giả thiết đều mới chỉ là phỏng đoán, sự tiếp cận giữa vật lý lượng tử (quantum physics) và sự sống đầu tiên, dầu cứ cho đó là vật chất sống khởi thủy (material primitive life) dưới dạng phân tử ADN sơ đẳng nhất thì cũng chưa có gì chứng minh tuyệt đối cụ thể hay hoàn hảo nhất. Đây thực chất vẫn còn luôn hoài là vấn đề triết học, không thể nào chỉ là ý nghĩa vật lý hay hóa học thuần túy được.   

 

  Cái nhìn toàn vũ trụ là cái nhìn bao quát từ Big Bang, đến các Thiên hà vô hạn, đến Ngân hà, đến hệ mặt trời, đến các điện tử electron, đến photon trong hoạt động diệp lục hóa nơi lá cây của sự sống, rồi đến thần kinh óc não, đến ý thức và nhận thức nơi đầu óc con người đều thật sự là một đại dương bao la, không thể khu biệt vào doạn nào cụ thể, hời hợt, đặc thù cả. Thuyết duy tâm dầu sao vẫn còn có lý nhiều điều hơn thuyết duy vật là thế. Về nguyên tắc lô-gích, chỉ mọi cái lớn hơn mới có thể phân tích ra mọi cái nhỏ hơn nhưng không bao giờ ngược lại điều đó. Mọi sự phân tích đều luôn vô hạn, và mọi sự tổng hợp đều luôn vô hạn, nhưng chỉ cái tổng thể mới chứa đựng được cái đặc thù và nguyên lý này là hoàn toàn bất biến, không khi nào có thể loại bỏ hoặc thay thế nếu không đưa đến mọi sự phi lý và vô nghĩa.

 

 Vậy mà Mác dùng quan điểm duy vật thuần túy để kết hợp vào quy luật biện chứng có nội dung và ý nghĩa riêng của nói là hoàn toàn ngược ngạo và phi lý. Điều này quả chẳng khác đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, kiểu sự vật đầu Ngô mình Sở, quả chẳng đâu vào đâu cả. Ví dụ nguyên lý bản chất của lừa là hoàn trái trái ngược hay khác hẳn với nguyên lý bản chất của nước. Đem hai thực tại này trộn lẫn hay kết hợp với nhau là điều hoàn toàn nghịch lý và không bao giờ có thể làm được. Nguyên lý vô hình và nguyên lý hữu hình cũng hoàn toàn khác, không bao giờ chống lấn được hai cái lại với nhau bởi vì bản chất chúng hoàn toàn khác nhau. Vật chất chỉ là bản chất tồn tại tuyệt đối tối giản, thô sơ, trong khi biện chứng phải đi theo với nội dung và mục đích tiềm ẩn nhất định. Vậy không thể đem hai cái khác hẳn hay trái ngược bản chất nhằm hòa trộn lại với nhau như Mác từng làm là hoàn toàn phi lý, ngờ nghệch và ngớ ngẩn. Nên khi thuyết Duy vật biện chứng của Mác hoàn toàn không có cơ sở khách quan hay hoàn toàn sai, thì dẫn đến quan điểm duy vật lịch sử của ông ta cũng hoàn toàn như vậy, bởi trong đó vẫn nguyên lý biện chứng là nguyên lý cốt lõi, mà nếu nguyên lý này lại bị triệt tiêu hay vô hiệu hóa thì liệu mọi cái phát sinh hay còn lại có ý nghĩa là gì, đó là điều mà mọi người có đầu óc bình thường đều không thể bị khuất phục được.

 

Nhưng từ lý luận nguyên tắc biện chứng lịch sử Mác đưa đến quan niệm giai cấp đấu tranh, đến các hình thái xã hội, đến nguyên tắc độc tài vô sản, đến thời kỳ quá độ, sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân vô sản, đến xã hội cộng sản không còn giai cấp v.v… và v.v… tự chúng đều trở thành tư biện liền một dãy, tạo thành một hệ thống ngụy biện đây chuyền nhau, chỉ đều mang tính tưởng tượng hay ức đoán mà chẳng có chút thực chất khoa học hoặc khách quan cụ thể nào cả. Tất cả hệ thống quan niệm của Mác đưa ra nói chung đều kiểu toán học trừu tượng đem xâu chuỗi vào nhau, mà chỉ cần tiền đề đặt sai thì mọi khâu lý luận trung gian và cả khâu kết luận cũng phải đều hỏng dây chuyền cùng nhau cả. Bởi nếu tiền đề chỉ là vật chất thuần túy, thì còn có cơ sở nào để xây dựng xã hội con người hoàn toàn hay tuyệt đối lý tường. Bởi làm thế nào lấy bùn đất để xây dựng nên lâu đài kim cương, đó là điều hoàn toàn ngịch lý hay phi lý, chỉ phỉnh được những đầu óc nông cạn, kém suy lý, mà chính Mác cũng không hề ngờ tới.    

 

 Như vậy cũng có nghĩa quan điểm về lịch sử xã hội của Mác là quan điểm hoàn toàn phi lý, huyền hoặc và mê tín, bởi chỉ tin bừa vào ý nghĩa của quy luật biện chứng là khách quan mà không gì khác. Trong khi đó ý nghĩa của biện chứng luôn bao gồm ý nghĩa của sự mâu thuẫn và sự vượt lên hay vượt qua. Mâu thuẫn là ý niệm mấu chốt nhất, bởi thiếu ý nghĩa này cũng không thể nói cái gì là biện chứng được. Nhưng tính mâu thuẫn hoàn toàn khác hẳn với sự dị biệt, sự trái ngược, hay sự khác nhau. Như đàn bà, đàn ông chẳng hạn, đó là hai tính phái hoàn toàn khác nhau, nhưng chẳng có gì là mâu thuẫn nhau cả. Các chiều trong không gian đối nhau như nam bắc, đông tây cũng vậy, đó chỉ những chiều, những phương trái ngược, nhưng chưa chắc đã là mâu thuẫn. Hai cực nam bắc của địa cầu, hai cực bắc nam của thanh nam châm cũng vậy, chúng trái ngược nhau nhưng chưa hẳn đã mâu thuẫn nhau.

 

Nên mâu thuẫn ngoài sự trái ngược nhau, còn phải là sự cùng kết gắn nhau trong một thực thể nào đó. Chẳng hạn một người vừa muốn đi theo hướng A lại vừa muốn đi theo hướng B hoàn toàn đối ngược nhau, đó chính là sự mâu thuẫn. Hay kẻ vừa muốn phủ nhận một điều, vừa muốn xác nhận cùng điều đó, vậy là mâu thuẫn. Một kẻ vừa yêu vừa ghét một đối tượng nào đó, chính là sự mâu thuẫn. Tức mâu thuẫn là sự vận động trái ngược nhau đang xảy ra tại một đối tượng sự vật hay chính nơi một chủ thể. Đây chính là sự giằng xé tội tâm hay sự phân rẽ ngược nhau nơi cùng một sự vật cụ thể nhất định nào đó. Tức luôn có sự tranh chấp, phân tranh nhau giữa hai lực bên trong hoặc bên ngoài tác động lên cùng bản thân một sự vật cụ thể. Sự mâu thuẫn tự phát trong lòng một sự vật theo Hegel chính là tác nhân của sự biện chứng, nó làm sự vật phải thay đổi, chuyển động theo một hướng nào đó, mà thường phải là sự thay đổi tiến tới.

 

Như hạt cây khi gặp điều kiện nầy mầm phải chịu một sự mâu thuẫn ngay trong chính nó. Vừa muốn tự giữ lại như kiểu hạt cây như cũ, vừa muốn tự chối bỏ tình trạng cũ để chuyển sang tình trạng mới hơn, đó là cái mầm cây, và luôn tiếp tục như vậy. Có nghĩa biện chứng chính là tình trạng tự chối bỏ để phát triển đi lên mãi mãi không ngừng cho tới khi đạt đến mục tiêu cần thiết của mình nào đó. Đây là khái niệm không phải hoàn toàn cụ thể, dễ hiểu, hoặc xác thực. Biện chứng không phải sự tự chối bỏ, phủ nhận chung chung, vô lối, mà luôn phải có mục đích và chiều hướng xác đáng. Tức một thực thể tinh thần nào đó, một thực thể sự sống nào đó tự biện chứng để vượt lên chính minh, tự thoát ra khỏi mình nhằm đạt đến mức độ cao hơn, điều đó còn có lý, còn hiểu vật chất thuần túy nói chung mà tự biện chứng là điều hoàn toàn vô nghĩa cũng như ngờ nghệch.

 

Cho nên khi Mác lấy nguyên lý biện chứng duy tâm của Hegel bỏ vào thực chất duy vật của mình thật sự là làm điều phi lý, không tưởng, bởi vì nó trái bản chất và nghịch lý ngay từ đầu, chỉ mang kiểu gàn bướng, chẳng có gì thích đáng, phù hợp, hay chẳng mang lại điều gì kết quả cả. Kiểu không ai có thể đem một động cơ xe máy bỏ vào xe nôi của trẻ con, hay đem bộ trục của máy dệt sợi bằng gỗ để làm động cơ máy dệt sợi chạy bằng hơi nước hay thay cho động cơ bằng điện được, tại vì bản chất cũng như nguyên lý và cơ chế hoạt động của chúng là hoàn toàn khác nhau, hoàn toàn trái ngược nhau. Cái ngờ nghệch của Mác ở đây không phải nhằm cố ý bịa đặt, xuyên tạc, mà thực tế nó hoàn toàn khách quan như vậy.

 

Chính bởi vậy mà từ nguyên lý áp dụng sai, Mác giải thích về lịch sử xã hội con người cũng sai. Trong Tuyên ngôn cộng sản Mác phát biểu ngay vào đầu lịch sử loài người từ trước đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp, chẳng qua vì cắn cứ hay tín chắc vào nguyên lý biện chứng bị áp dụng một cách sai trái như vậy. Từ đó Mác cũng suy rộng ra các hình thái xã hội kế tiếp nhau, chuyên chính vô sản, thời kỳ quá độ, sự nghiệp sứ mạng lịch sử giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của giai cấp công nhân vô sản cũng hoàn toàn như thế. Tức Mác hoàn toàn tin tưởng vào cơ chế hoàn toàn tự động có tính cách thuần túy cơ giới, nhưng đầy tính huyền hoặc, mê tín về lịch sử xã hội dựa trên ý niệm biện chứng đầy sự huyễn mơ, huyền thoại kiểu vậy hoàn toàn không khác. Thế nhưng điều tin chắc đó Mác lại tự cho là “khoa học” bởi vì Mác tin chắc vào nguyên lý biện chứng đó là nguyên lý khách quan, nhất thiết không có cách nào làm thay đổi khác đi được. Chính đây thực chất là sự mù quáng đầy tính phi khoa học của Mác và cái ngố của Trần Đức Thảo suốt cả thời gian dài trong cuộc đời mình cũng chỉ biết tin tưởng theo Mác như thế.

 

Bởi vậy Mác cho do sự mâu thuẫn kinh tế xã hội giữa giai cấp công nhân vô sản và giai cấp tư bản giàu có lúc ban đầu, đến một lúc nào tính mâu thuẫn này sẽ bị vượt qua, giai cấp công nhân vô sản trên toàn thế giới sẽ tiêu diệt giai cấp tư bản phản động, làm giai cấp tư bản phải bị triệt tiêu hay bị tự chôn, mở ra duy nhất thời kỳ quá độ của độc tài vô sản, công nhân sẽ làm chủ toàn bộ công cụ sản xuất, tương quan sản xuất dần dần chỉ có một, là giai cấp công nhân duy nhất, sẽ bải bỏ mọi quyền tư hữu, bãi bỏ thị trường, bải bỏ tiền tệ, không còn bóc lột nữa, loài người khi đó hoàn toàn tự giác, từ làm theo năng lực hưởng theo thành quả trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội sẽ tiến lên làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, vì lúc đó hàng hóa tuôn ra như nước trong giai đoạn xã hội cộng sản bậc cao, sẽ giải phóng con người, giải phóng xã hội mặt, sáng vào xưởng thợ, chiều về đi giải trí, câu cá thỏa thuê. Đúng là một bức tranh đầy hấp dẫn mà lớp những người cộng sản ban đầu mọi nơi trên khắp thế giới đều mê say như điếu đổ. Câu khẩu hiệu của Mác giai cấp vô sản khắp nơi hay đoàn kết lại từng là tiêu chí đã nổi đình nổi đám một thời mọi nơi từng là như thế.

 

Song song đó, Mác cho tư hữu là đầu mối của sự bốc lột, đầu mối làm phát sinh ra giai cấp xã hội trong lịch sử, nên tiêu chí của Mác là phải hủy bỏ quyền tư hữu, mà trước tiên là tư hữu tư liệu sản xuất, để công nhân cùng vào làm tập thể trong nhà máy,phân công lao động theo chương trình, kế hoạch được quy định giữa nhau, sản phẩm làm ra đều được chia đều trực tiếp, bãi bỏ thị trường, bãi bỏ tiền tệ, đó chính là mục tiêu xã hội lý tưởng và công bằng nhất mà Mác theo đuổi. Có điều Mác quên rằng bản thân con người phần lớn chỉ lười biếng, chỉ ưa nhàn nhã, nếu không có nguồn kích thích hay bó buộc nào khác cũng ít khi chịu lao động. Đó là chưa nói bản năng tham lam, ích kỷ, kèn cựa lẫn nhau vẫn đều thường có, thành ra điều Mác tưởng mình thực tế thực chất lại phi thực tế, điều mình tưởng là lý tưởng lại thực thực chất phi lý tường, bởi vì khi mọi kết quả đầu ra đều trở thành bế tắt, phá sản, thì xã hội cũng sẽ trở thành phá sản mọi mặt, mà thời kỳ bao cấp dài xảy ra ở nhiều nước khác nhau bất kỳ ai cũng biết.

 

Đúng ra, hoàn cảnh nghèo đói khốn khổ của giai cấp công nhân vô sản Anh thời kỳ đầu của xã hội tư bản đang lên xảy ra vì đâu thì ai cũng biết. Xã hội châu Âu lúc đó là xã nội nông nghiệp, quân chủ phong kiến, khi chuyển qua nền khoa học kỹ thuật còn đang phôi thai đi lên, chủ yếu là nghề dệt sợi và giao thương hàng hóa đến các nơi, sự tập trung giàu có vốn liếng tư bản vào một thiểu số ban đầu chỉ là điều tự nhiên, tất yếu. Mọi sự huy động công nhân nông nghiệp từ nông thôn ra thành thị để sung vào đội quân công nghiệp lúc đó còn thật sự khó khăn và trở ngại đủ thứ, và trong giai đoạn tích lũy tư bản để phát triển đó, hoàn cảnh người công nhân bị nghèo đói khó khăn chỉ là điều tất yếu khách quan, buộc phải chờ hoàn cảnh về sau cần được cải thiện. Các biện pháp dần dần cần được cải thiện có thể bằng chính sách thuế khóa, chính sách xã hội, dư luận báo chí, sự phát triển kinh tế xã hội khi lịch sử mở mang, phát triển dần. Đằng này Mác chỉ nhìn duy mặt tiêu cực của xã hội mà không thấy mọi chiều hướng lịch sử khác nhau đang đi lên khách quan của nó. Thay vì dùng những biện pháp nhẹ nhàng, đơn giản, đầu chỉ tương đối nhưng có thể hiệu quả lúc ban đầu, Mác chỉ thích dùng bạo lực kiểu lật đổ, kiểu đao to búa lớn, dùng dấu tranh giai cấp kiểu mù quáng, sắt máu để thay vào tất cả. Đó chính là cốt lõi nội dung của Mác Mác về phương diện chính trị xã hội mà ai cũng đều đã thấy.

 

Một ví dụ hiển nhiên là Công xã Paris trước đó đã từng thất bại. Bởi khi giới công nhân chiếm hữu nhà máy, thật ra họ không biết phải làm gì cả, vì trình độ quản lý chuyên môn kém, cha chung không ai khóc, sản xuất trở nên lộn xộn, phản hiệu quả, phản tác dụng, đó là điều hoàn toàn thực tế. Cuối cùng Công xã kiểu đó đã hoàn toàn thất bại và tan rã, đó chỉ là chuyện khách quan. Mác cũng đã từng thây mội quan điểm cộng sản không tưởng trước kia từng đem thực hiện ở Pháp, ở Anh, và cả ở Mỹ đều cũng chịu chung số phận như vậy, và cuối cùng mọi sáng kiến cục bộ đó đều phải bị hủy bỏ, cả Mác cũng phải công nhận đó đều là chủ nghĩa cộng sản kiểu không tương (Utopical Communism), nên lần này Mác rút kinh nghiệm, định nâng lên một tầm cao hơn, tích cực hơn mà Mác gọi là cộng sản khoa học, tức dựa vào niềm tin nguyên lý biện chứng làm thành cốt lõi, nhất là đấu tranh giai cấp dùng như nguyên tắc thực tế, kể cả chuyên chính vô sản dùng như biện pháp bao quát nhất để nhằm tránh mọi vết xe đổ cũ trước đó. Đấy nguyên lý biện chứng trở thành cốt lõi của học thuyết Mác là như thế, và biện pháp chuyên chính vô sản Mác chủ trương về sau cũng không ra ngoài chính niềm tin trên cơ sở đó.

 

 Có điều Mác cũng lại tiếp tục quên đi nguyên tắc con người và nguyên tắc lịch sử xã hội. Bởi về mặt khách quan, xã hội không hề giống một mảng màu, hay mối khối vật chất liền lạc nào đó. Xã hội thực tế là tập hợp của mọi cá nhân trong một không gian nhất định. Đơn vị xã hội là mỗi chủ thể cá nhân, không chỉ là mặt thân xác mà chủ yếu chính là mặt ý thức, nhận thức tinh thần. Mỗi cá nhân lại có vòng đời cụ thể của mình, khó ai vượt quá cả trăm năm thông thường cả. Nhưng luôn từng thế hệ kế tiếp nhau thay đổi cho nhau, tất cả lại bắt đầu lại kiểu từ đầu. Do đó mọi cá nhân chỉ có thể liên thông nhau theo cách nào đó nhưng không hề là sự liên lỉ trực tiếp trong không gian sống liền lạc nào cả. Thế nên cho lịch sử xã hội biện chứng nhau theo kiểu đối lập giai cấp như Mác quan niệm là điều hoàn toàn không thực tế và cũng không hề thực chất. Như sự đối lập giữa hai cực địa cầu hoặc sự đối lập giữa hai cực nam châm có bao giờ “biện chứng” để mang lại cái gì mới cả đâu, mà ngàn đời chúng vẫn cứ nguyên luôn như vậy.

 

Thế nên “giai cấp” thật ra chỉ là khái niệm mơ hồ, đúng ra nó chỉ là khái niệm được trừu tượng hóa, được tổng quát hóa, được phạm trù hóa theo từng “lớp” hay tập hợp người cụ thể nào đó theo những tính chất khái quát nào đó mà không bao giờ là những thực thể hay con người cụ thể. Nói theo toán học, đó chỉ là những tập mờ không hơn không kém. Thành ra khái niệm giai cấp xã hội của Mác chỉ là quan điểm độc đoán, tùy tiện, nhằm để làm nền cho thuyết đấu tranh giai cấp theo kiểu tưởng tượng mà không gì khác.  Nói khác đi, giai cấp xã hội chỉ là cấu trúc xã hội tạm thời nào đó qua các thời điểm, bởi không vật nào trong thế gian lại phi cấu trúc, ngay như nguyên tử, tế bào, vật dụng, cây cối, hay đén cả hề mặt trời, ngân hà, thiên hà v.v… đều luôn phải vậy. Quan niệm một xã hội hoàn toàn không còn giai cấp thật sự chỉ là quan điểm mê sảng, hoàn toàn phi thực tế. Con người kiểu Mác nhìn vào như con người vô sản thực chất chỉ là hình tượng trừu tượng của con người mà hoàn toàn không có thực chất. Mác quên quyền sở hữu tài sản, vật dụng chính là điều kiện đầu tiên để con người tồn tại như một thực thể hoàn toàn thực tế. Đó chỉ là điều kiện cần dù không bao giờ là điều kiện đủ để cho người thành người.

 

Bởi xã hội luôn là tổ hợp con người luôn thường xuyên biến đổi, nên cơ chế xã hội luôn luôn là điều thiết yếu nhất. Cá nhân luôn là thực thể vận động trong không gian môi trường sống chẳng khác gì những nguyên tử tự do trong không gian thời gian thực. Nguyên lý kết hợp tự do thành các nguyên tử, thành các tổ hợp nguyên tử, thành các thực thể tế bào xã hội khác nhau là sự vận động khách quan, hiệu quả, không thể nào thiếu hay không thể nào cản ngăn hay chấm dứt. Chính cơ chế vận động tạo nên mọi hiệu quả cao nhất, tiết kiệm nhất, hay kinh tế nhất trong môi trường xã hội mà không gì khác. Mác muốn mọi người kết hợp sản xuất theo kiểu tập thể, tự nguyện phân công lao động giữa nhau là điều phản thực tế, phản hiệu quả, vì nó hoàn toàn trái với quy luật tự do khách quan và tự nhiên của toàn xã hội. Kiểu ngày xưa con người còn lạc hậu phải ngồi tính toán bằng thủ công, bằng tay. Đến sau có bàn toán, rồi ngày nay có máy tính, cục diện đã hoàn toàn đổi khác. Ngày xưa triệu phép tính nhiều người phải làm trong hàng tháng, ngày nay tỉ phép tính máy chỉ thực hiện trong chỉ một giây. Đó là nhờ gì, nhờ vào quy chế vận hành khách quan của máy móc, và cơ chế tự động nhiều mặt của xã hội cũng hoàn toàn như vậy. Điều đó cho thấy tính lạc hậu ngày xưa trong tư duy khoa học của Mác.

 

Vả chăng Mác còn mê muội vào giai cấp vô sản. Bởi thực tế vào thời Mác, đây cũng chỉ mới là số lượng ít ỏi so với số lượng chung của toàn xã hội. Vả lại là thành phần rất ít chọn lọc, rất ít tinh hoa, trí tuệ khi đó, bởi điều kiện sống của họ khi đó còn rất nhiều hạn chế, bất lợi mọi mặt. Thay vì hỗ trợ, giúp đỡ, trang bị thêm lên cho họ mọi mặt, đàng này Mác hóa chỉ thành anh mê tín, thần thánh hóa họ, coi họ như tiên phong, như đầu tàu của lịch sử, như là sứ mệnh lịch sử, thật là tăm tối và mê tín tột cùng, nhưng vì đi kèm theo câu thần chú chuyên chính vô sản nên chẳng ai dám nói. Thành ra Mác chẳng khác gì khuyến khích những sự tiêu cực của xã hội, đưa thành phần không phải tinh hoa làm phá hỏng mọi thành phần có thể tinh hoa khác. Như vậy rõ ràng thuyết Mác là thuyết phản khoa học, phản con người, phản xã hội, phản lịch sử, mà lại tự xưng là thuyết giải phóng loài người, giải phóng lịch sử, trong khi thực chất Mác chỉ làm ngược lại. Có khác nào thuyết Mác trong ngôn ngữ là học thuyết cách mạng xã hội, nhưng trong thực tế lại trở thành học thuyết phản động, học thuyết tiêu cực, phản xã hội, phản con người, phản lịch sử thì đúng hơn.

 

Bởi bắt kỳ học thuyết khoa học nào, con người khoa học nào cũng phải cần nhìn vào sản phẩm làm ra, nhìn vào kết quả làm ra, không phải chỉ nhìn vào ngôn ngữ hay lý luận nếu điều đó hoàn toàn không thực tế mà thực chất còn thành ngược lại. Bởi khoa học thực chất không bao giờ là lý thuyết suông mà đều phải cần kiểm nghiệm trong thực tế. Ngay các thuốc chủng ngừa cũng phải cần như vậy. Mọi sản phẩm nào nếu làm hại con người đều không phải là sản phẩm tốt, nên phải cần kiểm chứng nghiêm ngặt là yêu cầu thiết yếu phải hoàn toàn như thế. Ngay từ khi ra đời đến nay, suốt trong bao nhiêu năm đầu phải cất kín trong hộc tủ để mối mọt ăn, chính Mác đã phải thú nhận như vậy, bởi chẳng có ai mang ra áp dụng cả, mãi đến khi Lênin là người đầu tiên mang ra ứng dụng tại nước Nga là nước nông nghiệp lạc hậu so với Tây Âu khi ấy. Nhưng sau bảy mươi năm vật lộn vô cùng chật vật, cuối cùng Liên Xô cũ đã phải sụp đổ và tan ra, kéo theo sự tan biến của cả mảng Đông Âu, điều đó cho thấy thực chất hiệu quả của thuyết Mác là như thế nào. Chỉ bởi vì nó trái ngược lại mọi nguyên lý khách quan trong cuộc sống loài người vậy thôi.

 

Thật ra không phải con người muốn gì đều tự ý làm được bất chấp mọi quy luật khách quan tự nhiên của thiên nhiên cũng như lẫn của xã hội. Ví dụ nguyên lý tồn tại phái giống, nam nữ là nguyên tắc khách quan tự nhiên, không bao giờ có thể thay thế khác đi được. Hay nguyên lý trọng lực trái đất cũng là điều như vậy. Con người muốn vào không gian phải sáng chế ra kỹ thuật, phải vận dụng kỹ thuật, không thể tự luyện tập để mọc cánh mà bay như mọi loại chim muông. Tức có những cơ chế nguyên lý vật lý, nguyên lý hóa học, nguyên lý sinh học, nguyên lý trí tuệ, nguyên lý tương quan xã hội, nguyên lý lịch sử phát triển đi lên theo cách tuyến tính, là điều mà con người chỉ có thể thích nghi nhưng không bao giờ làm cho tuyệt đối thay đổi khác đi được. Ngay cả nguyên lý đạo đức truyền thống cũng vậy, đó là sự tích lũy cả ngàn năm do cả lịch sử loài người mang lại, trong đó có tôn giáo, có thẩm mỹ nghệ thuật, có ngôn ngữ là điều không bao giờ có thể mất đi hay tuyệt đối làm cho thay đổi. Vậy mà Mác quy tất cả mọi điều nào không phải kiểu “vô sản” như Mác muốn đều mệnh danh là “tư sản” để yêu cầu phải triệt tiêu hay hủy bỏ. Đó thật là quan niệm hết sức cực đoan và hoàn toàn phi lý mà chính Mác đã từng đưa ra và được cả khối người từng đem áp dụng. Cái tai hại hơn cả khái niệm chuyên chính vô sản, thực chất nó cũng đều chẳng dẫn lịch sử tới đâu cả, nếu không nói nó chỉ làm cho con người và xã hội trở nên vong thân, tức đánh mất bản thân mình một cách toàn diện, bởi do nỗi sợ hãi chiếm ngự tất cả, để chì còn duy khuynh hướng xu nịnh, suy thoái nhân cách một cách hèn kém nhất, mà ai cũng thấy, điều đó càng khiến cho Mác trở nên tội lỗi đối với một bộ phận nhân loại xưa nay, là điều không ai có thể nào phủ nhận được. 

 

Thành ra chính cái cốt lõi trong học thuyết Mác đã chi phối toàn bộ học thuyết Mác, và gây ra tất cả mọi điều về sau đó nữa. Cái cốt lõi đó, như từng nói ngay ban đầu, là lý thuyết “biện chứng” mà Mác đã lấy ra từ Hegel, và nó đã trở thành nguyên nhân của tất cả. Nhưng nếu ở Hegel nó đã mơ hồ, huyền hoặc, thì được chuyển qua Mác nó còn kỳ dị, trái khoáy và càng phi lý hơn. Thật ra cả chính trong bản thân học thuyết Hegel, ông ta cũng rất ít khi sử dụng từ ngữ biện chứng một cách công khai hay minh thị, thường xuyên nào cả. Chỉ về sau nhiều người muốn giản lược cho dễ hiểu suy biến nó ra thành định để tam tố là tiền để, phản đề, hợp đề. Thực chất đây cũng chỉ là nói bá vơ, bởi vì không thể định ranh bất kỳ cái nào trong ba cái lấy đâu làm giới hạn cụ thể cả. Nguyên nguyên lý phủ định của phủ định thì ai nói chẳng được và vật nào, lúc nào áp dụng mà chẳng được. Khi cái trứng gà được ấp nở ra và lớn lên từ gà con đến gà mẹ, đó quả là chuỗi phủ định nhau liên tục khác gì. Nhưng cũng cái trứng gà đó, nếu đập vỡ đi để chiên ăn, hay luộc đi để chấm muối tiêu, cũng có khác gì chuối phủ định liên tục những lại hoàn toàn ngược chiều đâu khác. Điều đó có khác nào nguyên lý ấy nó đã vốn ít nhiều vớ vẩn nơi Hegel, và khi Mác đem áp dụng cho học thuyết mình lại càng thêm tùy tiện, rỗng tuếch và hoàn toàn phi lý. Thế nên nói cho cùng, thuyết Mác từ trước đến nay hoặc nhiều người ngây thơ tin tưởng nó để hóa thành nạn nhân tự phát của nó, hoặc có người nhằm lợi dụng nó cho mọi tham vọng ích kỷ riêng tư của cá nhân mình khiến cho nó cũng chẳng ích lợi gì cho xã hội cả. Đó chắc hẳn cùng là điều mà cuối đời chính Mác đã từng thú nhận “Tôi chẳng phải là người mác xít” (“Je ne suis pas marxist !”), thật chẳng khác nào một điều hoàn toàn hài hước cả suốt hơn thế kỷ trong lịch sử nhân loại cho tới nay.

 

By VÕ HƯNG THANH

            (21/9/21)

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2021

NÓI VỀ HAI KHÁI NIỆM ĐỘC TÀI VÀ TỰ DO

TRONG TOÀN BỘ LỊCH SỬ XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

Độc tài và dân chủ là hai khái niệm căn cơ, chủ chốt nhất trong đời sống xã hội loài người. Hiểu đúng đắn hay chính xác hai khái niệm này, thì làm xã hội phát triển, nếu không thì hoàn toàn ngược lại, làm xã hội, lịch sử đổ vỡ, hay trở nên ngưng trệ, thụt lùi. Bởi vậy mọi người sáng suốt, người hiểu biết cần nên quan tâm đến hai khái niệm này, còn mọi người quần chúng, bình dân thì thường chẳng mấy chú thấy gì quan trọng, bởi họ chỉ sống theo bản năng, cách sao cũng được. Quần chúng đám đông chỉ luôn thụ động làm theo, họ thường chỉ là chất liệu để sai khiến mà không bao giờ lãnh đạo xã hội được. Mọi sự tôn xưng quần chúng giả tạo đều là sự mị dân.

 

Nhưng nói cho cùng, khái niệm dân chủ tự do và khái niệm độc tài thật sự đều gắn với con người trong xã hội. Mỗi cá nhân con người chính là đơn vị chủ chốt trong xã hội mà không bao giờ có thể khác đi được. Nói dân chủ là nói sự tôn trọng mỗi cá nhân trong xã hội con người, nói độc tài là nói sự phản bội, sự trấn áp con người, biến mọi người không còn con người mà chỉ còn công cụ để cá nhân hay nhóm độc tài nào đó chi phối, sử dụng có khi theo cách phi nhân và chuyên đoán. Dân chủ tự do khi toàn dân kiểm soát được chính quyền, độc tài ngược lại chỉ là sự tự chuyên, không ai kiểm soát được nó cả.

 

Bởi vì bất kỳ sự vật khách quan nào trong thực tế đời sống cũng đều có những quy luật nội tại, đặc thù, riêng biệt của nó, con người trong xã hội cũng vậy, và cả toàn xã hội như một thực thể cũng vậy. Như mọi vật thể đều có quy luật vật lý, hóa học chứa đựng trong bản thân nó. Mọi loài sinh vật khác nhau đều có nguyên lý sự sống hay quy luật sinh học bao gồm trong bản thân nó. Con người có quy luật tâm lý chung và riêng trong mỗi đơn vị chủ thể của nó, xã hội loài người cũng có quy luật tâm lý riêng khác nhau trong mọi loại thực tại như thế. Mọi cái gì làm trái quy luật đúng đắn khách quan đều mờ tối và ngu xuẩn cả.

 

Bởi nói cho cùng, tất cả mọi thực tại trong đời sống, ngoài quy luật riêng, còn có thêm quy luật lịch sử, hay quy luật phát triển tự chứa đựng trong bản thân nó, tạo nên quy luật lịch sử chung của cá thể và chủng loài đó, và đó cũng là quy luật tổng quát nhất mà mọi loài đều có. Như quy luật sinh, trụ, hoại, diệt, là quy luật muôn đời mà muôn loài luôn phải có, hay quy luật âm dương, giống phái, nam nữ, cũng tương tự như thế, cả quy luật ý thức, nhận thức có thể chứa đựng nhau, tùy theo không gian, phạm vi cấu thành, cũng đều là những quy luật ngàn đời bất biến. Dĩ nhiên còn bao quy luật khác nữa, nhưng tự trung, đó có khi nhất thời, tạm bợ, có khi lâu dài bền vững hơn, nhưng nhất thiết vẫn có những quy luật thường hằng bất biến. Sự bất biến ở đây không phải hiểu theo nội dung đặc thù nào đó, mà hiểu theo tầm vóc không dễ dàng thay đổi về thời gian lẫn không gian hiện diện của chúng.

 

Thế nên vẫn có những quy luật nói chúng là vĩnh cửu, không bao giờ thay đổi, như quy luật lô-gích học trong nhận thức, suy nghĩ của con người, quy luật sự vận động không ngừng của vật chất, quy luật mối tương quan bất biến trong toán học, quy luật bảo toàn năng lượng trong vũ trụ vật chất, cả đến những nguyên lý bất biến trong vật lý, hóa học, sinh học như là nền tảng nói chung của thế giới thường nghiệm chẳng hạn. Tức có những quy luật nhất thời, tạm bợ trong không gian thời gian nào đó, nhưng cũng có những quy luật vĩnh cửu không hề thay đổi qua không gian và thời gian. Hay có những quy luật đặc thù và quy luật bao quát, cái sau chứa đựng cái trước mà không thể khi nào ngược lại.

 

Lại có những dạng quy luật biến thiên theo chiều tuyến tính, hoặc có khi theo dạng đa tuyến tính, như quy luật tiến hóa và phát triển, là quy luật theo kiểu dạng như thế. Nên không có quy luật nào gọi là quy luật “biện chứng”, theo kiểu huyễn hoặc một chiều như Mác quan niệm. Bởi mọi quy luật luôn đều có kèm theo phần nội dung và phần hình thức, tức phần mục đích và phần ý nghĩa riêng của nó, không có quy luật nào chỉ thuần túy là cơ học, máy móc, theo cách chỉ hoàn toàn vô nghĩa, trống rỗng. Vả chăng, các quy luật trong tồn tại vũ trụ đều tương tác, hội tụ, hay hàm chứa vào nhau. Không có cái gì gọi là biện chứng khơi khơi, phi lý, rỗng tuếch cả. Chẳng hạn quy luật sự chết thể lý nơi mỗi cá thể, là sự chấm dứt tuyệt đối về thể lý của cá nhân đó mà không còn cách nào khác. Bởi vậy có những sự hiểu biết hay nhận thức nhầm lẫn, hoàn toàn không phải khách quan, lại bị thần thánh hóa, cơi lên thành quy luật khách quan, nhưng thực chất hoàn toàn giả tạo, như cái gọi là quy luật biện chứng chẳng hạn, sự thật nội dung mờ mịt của nó chỉ hoàn toàn trống rỗng và vô nghĩa, không có lấy bất kỳ nội hàm chính xác, cụ thể nào.

 

Nên quy luật tự do, là quy luật căn cơ nhất của vạn vật vũ trụ mà không hề là quy luật độc tài. Sự độc tài là mặt tiêu cực của tự do, sự hủy diệt tự do, mà tự nó không bao giờ là quy luật khách quan, độc lập. Mọi nguyên tử vận động tự do, mọi hạt cơ bản vận động tự do, bầu trời, vũ trụ vận động tự do muôn thuở đó là quy luất. Bởi nếu không có quy luật tự do cơ bản này cũng không hình thành nên tất cả mọi điều gì trong thế giới mà con người thấy được. Mọi sự ta nhìn thấy được đều là kết quả của quy luật tự do, tức kết hợp nhiều quy luật khác nhau, đặc thù lại trong quy luật tự do nói chung, và chính nền tảng quyết định mọi việc về sau mà không bao giờ ngược lại. Mọi sự vật đều phải tuân theo những quy luật đặc thù, nhưng nếu không bị ràng buộc nữa chúng đều quay lại quy luật tự do, đó là ý nghĩa cuối cùng và chắc chắn nhất. Thành ra cái gọi là vật chất biện chứng của Mác thật sự chỉ là cách nói khống, hoàn toàn vô nghĩa.

 

Trong khi đó toàn bộ sự sống muôn loài, cả loài người cũng thế, hay nói khác đi, toàn bộ tồn tại vật chất, cũng như tồn tại sinh học, hay cả tồn tại ý thức, tinh thần của xã hội loài người cũng thế, quy luật tự do vốn luôn là quy luật đầu tiên và quy luật cuối cùng nhất. Không có quy luật tự do, cũng không thể phát sinh ra được gì cả, và khi tan rã, tất cả mọi sự vật đều quay về lại trạng thái tự do đầu tiên của chúng. Vậy nên nguyên lý hay quy luật ràng buộc nhất thời nào đó của mọi sự vật đều chỉ luôn tạm thời, cả ngay thực tại luật pháp trong xã hội nào đó, thực chất đều chỉ là những bó buộc trung gian, những thiết chế tạm thời tất cả, mà không bao giờ là quy luật vĩnh viễn, không bao giờ là quy tắc vĩnh cửu nào của xã hội hay lịch sử cả. Luật pháp bởi vậy, tuy là công cụ cần thiết, nhưng phải và vẫn luôn biến chuyển, đó là ý nghĩa tất yếu. Nên luật pháp chính là yếu tố bảo vệ sự tự do, mà không phải công cụ của sự độc tài. Khi Mác chủ trương độc tài vô sản, là một quan điểm ngu xuẩn, mê tín, phản khoa học, phản con người, phản xã hội, phản lịch sử, một cách tuyệt đối thiển cận và tồi tệ nhất trong lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay.

 

Bởi vì con người là gì ? Thực chất, cơ bản đó vẫn là tồn tại sinh học như bao tồn tại sinh học khác, tức là nó luôn có bản năng thiên nhiên nguyên thủy, nhưng ở đây nó được trang bị năng lực tinh thần, trí tuệ cá nhân, như là sản phẩm chung của giáo dục, đào tạo xã hội, do lịch sử mang lại. Tất nhiên trong năng lực đó, có yếu tố tiên thiên của nhân loại, là điều không thể nào chối bỏ được. Bởi nếu không có yếu tố tiên thiên này, con người vẫn không bao giờ thành người, mà vẫn mãi chỉ là sinh vật như mọi sinh vật khác. Nên khi Mác chủ yếu giản lược, quy kết xã hội loài người cũng chỉ ngang hàng như xã hội sinh vật, tức xã hội loài vật, và cho rằng mọi sự sống đều cũng chỉ là vật chất thuần túy, thì qua đó chính Các Mác hóa ra là kẻ ngu xuẩn nhất trong lịch sử nhân loại, mà chẳng phải là nhà tư tưởng sâu sắc, đứng đắn gì cả. Thế nhưng, có điều cho mãi tới ngày nay, trên thế giới vẫn còn có ít nhiều kẻ nào đó tôn thờ Mác, thì thật ra đó chỉ thói quen xu mị, một sự mơ hồ, ấu trĩ, ngây thơ về nhận thức, nếu không nói đúng ra chỉ là sự dốt nát, nông cạn, mà phần lớn đều thật sự không hiểu Mác thực chất là gì cả, hay chỉ cốt nhằm hiểu theo thị hiếu, cảm tính, mục đích tư riêng của mình.

 

Bởi nếu đem so sánh giữa thực thể thân xác của con người, và ý nghĩa cùng giá trị tinh thần, óc não của nó, thì chính cái sau mới quan trọng hơn cái trước rất nhiều. Cái trước luôn chỉ là điều kiện cần, nhưng không bao giờ là điều kiện đủ, hoặc thay thế được cho cái sau tất cả. Loại bỏ cái sau, để chỉ còn nhìn thấy toàn cái trước, tức cũng là phủ nhận mọi ý nghĩa giá trị tinh thần cá nhân như là thành quả của lịch sử và xã hội mang lại, đó thực chất là quan điểm ngu xuẩn nhất mà Mác đã mắc phải. Bởi cho dù ngôn ngôn ngữ hình thức bề ngoài có tốt đẹp bao nhiêu, nhưng nếu đã sai về nguyên lý bản chất, thi tất cả cũng chỉ có thể hóa thành cỏ rác, và cũng chỉ đáng được vứt vào sọt rác. Thuyết Mác sai về bản chất, sai về nguyên lý, sai về nội dung, và bởi vậy cũng thiết yếu sai về mục đích là thế. Bởi nếu những cái trước không đúng, thì chính cái sau tất yếu cũng không thể bao giờ đúng, bởi vì nó chỉ hàm chứa sự ngụy biện, giả tạo, áp đặt, huyễn hoặc, ngụy tạo, vì không có thực, mà chẳng khi nào là giá trị, hay ý nghĩa nào thật sự hoặc đích thật được cả.

 

Tại vì, con người sinh ra mặc dù bản chất là người, nhưng nếu không được đào tạo, giáo dục đúng đắn, cũng không bao giờ thành chất người được hoàn toàn đầy đủ hay lý tưởng cả. Bởi bản năng con người là bản năng sinh vật, luôn luôn là vật cản trì trệ lớn nhất, cho lịch sử phát triển bản thân cũng như xã hội. Nó là yếu tố phá hoại ghê gớm nhất, là thành phần tiêu cực lớn nhất, nếu không có điều gì đó khác hơn chế ngự nó, làm thay đổi ít nhiều, hoặc khống chế nó. Cũng chính nó là yếu tố tạo nên mọi tham vọng cá nhân tệ hại nhất, vượt ra ngoài mọi điều lý trí cân bằng, vượt ra ngoài mọi lương tri, lương năng chính đáng nhất, mà xã hội loài người luôn luôn cần đến. Nên khi nền giáo dục không có, hoặc nền giáo dục không lành mạnh, cốt chỉ nhằm đào tạo ra con người kiểu thuần túy công cụ nhằm phục vụ mục đích riêng tư nào dó, thì đó cũng không khác gì là nền giáo dục phi nhân và phản động nhất.  Bởi đó không còn là giáo dục đào tạo con người, mà thực chất chỉ là giáo dục đào tạo “loài vật” để sai khiến theo những mục tiêu, ý hướng nhất định.

 

Mà ta biết, thân xác thì không bao giờ độc lập tự do, nhưng thân xác luôn luôn bị óc não chi phối điều khiển. Nên khi nếu óc não đã bị mất tự do ngay từ đầu, thì cả mọi con người cá nhân đó, cũng như xã hội, đó đều bị hủy hoại cả thảy, không hơn không kém. Tính chất tinh thần và giá trị của sự tự do là đệ nhất quan trọng như thế, nên không thể nao coi thường, hay bị hủy diệt đi được. Hủy diệt tự do, cũng là hủy diệt nhân văn, hủy điệt dân tộc, hủy diệt cả nhân loại, hủy diệt lịch sử nói chung mà không gì khác. Bởi hủy diệt tự do, thì con người và xã hội tự khắc trở thành công cụ nô lệ, trở thành hèn hạ, xuống cấp, trở thành ti tiện mọi mặt, không thể nào còn mọi nhân cách để phát triển đi lên được. Mọi hiện tượng nhu nhược, hèn kém, thụ động, tiêu cực, xấu xa trong mọi xã hội độc tài, đều nhất thiết có nguồn gốc và được phát sinh ra như thế. Bởi không có tự do là mất tất cả, mất đi mọi sự độc lập thiết yếu, thành nên chế độ độc tài thiết lập lên cả một cơ chế phi nhân, làm vài trò của con người hoàn toàn biến mất, chỉ còn là cơ chế tự dộng của bản năng và vật chất, theo kiểu thế giới hoang dã tự nhiên ngay từ khởi điểm, là điều mà bất kỳ ai cũng đều có thể nhận ra được. Mọi sự độc tài đều không có lý do chính đáng nào cả, mà đó thật sự đều chỉ là sự lạm dụng, tiêu diệt chính sự bình đẳng giữa người và người.

 

Người xưa từng có nói đại để là “thất phu thủ ải, vạn mã quá nan”, thể hiện chính xác kiểu xã hội độc tài là như thế. Một cá nhân dù tầm thường thấp kém, nhưng khi đã đóng chặt cửa ải rồi, thiên binh vạn mã cũng khó nào qua được nếu không chiến thắng được kẻ ấy bằng một cách nào đó. Bởi vì tại sao, bởi vì cơ chế xã hội nó luôn luôn như vậy. Khi một người dựa vào thế lực tự nhiên hay nhân tạo nào đó (như núi sống, thế đất, thành lũy) thì vẫn có thể chiến thắng, chế ngự được muôn người. Một đứa trẻ được giao nhiệm vụ lái một thiết giáp xa thì khó một nhóm người tay không nào có thể cản đường được. Đó không phải vì sức mạnh của đứa trẻ mà là sức mạnh vật chất, mù quáng của chiếc thiết giáp kia. Con người lành mạnh không thể nhất thời thắng được vật chất là thế, ý nghĩa của chủ nghĩa duy vật cũng chính là thế. Lực lượng hay sức mạnh vật thể, vật chất luôn luôn có thể chiến thắng được nhân văn khi nhân văn sa sút, yếu thế và tan rã, đó vẫn luôn là sự thật khách quan tự nhiên, nhưng những kẻ dốt nát mê lầm thì luôn không thể thấy ra được điều này.

     

Nên thật ra khi giai cấp công nhân vô sản mới phát sinh tại châu Âu vào đầu thế kỷ 19 do kỹ nghệ phát triển lúc ban đầu, đó chỉ là một số lượng còn ít ỏi nếu so với dân số toàn thể xã hội lúc bấy giờ. Họ phải chịu nhiều cơ cực do đời sống vật chất chung còn thấp kém, nhưng thật ra sự phát triển lịch sử trước sau lý trí chung của xã hội con người vẫn có thể dùng pháp luật hợp lý, dùng các biện pháp xã hội hiệu quả khác nhau, cả dùng giáo dục và báo chí để cài thiện mọi tình trạng bất công quá đáng tạm thời nếu có, không nhất thiết gì phải dùng các quan điểm, các luận thuyết đao to búa lớn mà thật ra chỉ rỗng tuếch, tưởng tượng, phi xã hội và phản lịch sử khiến chẳng bao giờ thành công được thật sự mọi mặt cả, mà thật ra chỉ đều tiêu cực, hoặc phá hoại.

 

Xã hội con người, sự đấu tranh giữa cái tiêu cực và cái tích cực luôn luôn xảy ra và hoàn toàn tự nhiên. Điều đó cũng chẳng khác nào trọng lực trái đất là điều tự nhiên có, nhưng con người vẫn luôn luôn tìm mọi cách vượt lên, thoát ra, chiến thắng nó vẫn là điều không thể không có hay hoàn toàn có thể xem thường được. Sự đấu tranh giữa lực lượng tích cực và lực lượng tiêu cực cứ muôn đời tồn tại và lặp lại mãi trong xã hội. lịch sử loài người vẫn đều là quy luật bất biến như thế, không bao giờ có thể thay đổi nó, hủy diệt nó một cách tuyệt đối. Mọi quan điểm như thế đều là ngu xuẩn và thiển cận, bởi nó trái với chính nguyên lý khách quan khoa học và điều hoàn toàn thực tế. Nên khi Mác chủ trương tiêu diệt mọi giai cấp, tạo thành xã hội không giai cấp, dựa vào ý nghĩa của biện chứng duy vật và duy vật lịch sử là điều hoàn toàn không tường và ngu xuẩn, chẳng khác nào kẻ ngồi thuyền lại muốn nâng thuyền lên là điều hoàn toàn nghịch lý và hoàn toàn không tương. Mọi quy luật khách quan con người đều có thể cài thiện nó theo nhu cầu chính đáng, cần thiết của mình, nhưng không bao giờ làm thay đổi hay tiêu diệt tuyệt đối được nó, đó cũng là một nguyên lý, một quy luật khách quan, tất yếu.

 

Khi Các Mác chủ trương dùng độc tài vô sản, xuyên qua chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ để xây dựng một xã hội không còn giai cấp, không còn thị trường, không còn tiền tệ, không còn nhà nước, không còn pháp luật, bởi con người hoàn toàn tự giác với nhau, sản xuất sản phẩm trao đổi, phân chia trực tiếp nhau, thật không còn quan niệm nào ngây dại, ngốc nghếch cho bằng, bởi nó chỉ hoàn toàn không tưởng, điên loạn, trái với mọi quy luật khách quan tự nhiên của xã hội, không bao giờ tồn tại hay khả dĩ làm thế nào thực hiện được. Quan niệm của Mác là quan niệm hoàn toàn ngông cuồng, phản lịch sử, phản nhân loại, phản thực tế, chỉ phỉnh dụ được những người nào kém nhận thức hay không lương thiện, lại đầy tham vọng lươn lẹo, để nhằm lợi dụng cho độc tài phe nhóm, bản thân bằng mọi biện pháp tuyên truyền ru ngủ, phỉnh gạt nhân quần chỉ đều là thế.

 

Bởi lịch sử loài người phát triển từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao là quy luật và thực tế tự nhiên là điều khách quan không thể nào phủ nhận được. Từ giai đoạn mông muội, qua thời đại đồ đá, đồ sắt, đồ đồng, từ giai đoạn kinh tế hái lượm tiến lên kinh tế nông nghiệp rồi phát triển công thương kỹ nghệ chỉ đều phát triển nội tại đi lên mà không gì khác. Bởi vậy cũng không thể nào có giai đoạn xã hội cuối cùng mà lịch sử mãi luôn tiến hóa, phát triển, không thể nào dừng lại cố định được cả. Sự phát triển về chất luôn luôn có, càng ngày càng tinh vi, tinh tế hơn, càng ngày càng khoa học và tiến hóa hơn, đó là điều hoàn toàn tất yếu không bất cứ cái gì có thể thay thế được. Như cái cây luôn luôn phát triển ngay từ đầu rồi tới giai đoạn ra hoa, kết trái, đó là quy luật mãi mãi tự nhiên, chỉ có những kẻ điên loạn nào mới có thể nghĩ khác đi được. Tức chỉ có một số quy luật của tự nhiên và xã hội luôn luôn bất biến, còn tất cả chỉ đều thường biến, không thể nào nhầm lẫn hay đánh tráo khái niệm mập mờ để thay thế cho nhau được cả.

  

Điều đó cũng giai thích lý do tại sao trong dòng tiến hóa qua lịch sử, loài vật qua ngàn năm vẫn phải đứng yên, không thể vượt qua những ngưỡng thay đổi nào đó được nữa, trong khi loài người tiến lên không ngừng, đó là vì bản chất hai đàng khác nhau, nội hàm hai nơi khác nhau, tiềm lực hai bên khác nhau. Tức loài người có lý trí phát triển còn loài vật thì không, loài người đi đến thích nghi thân xác phát triển mọi mặt còn loài vật thì không. Ai cũng thấy sự khác nhau giữa thân xác loài bò sắt, thân xác loài chân đốt, thân xác loài hữu nhũ, thân xác loài linh trưởng, thân xác con người cũng khác nhau, đó không chỉ là lô-gích khách quan lịch sử mà còn là nguyên lý ẩn tang của lịch sử bên trong, đã vượt qua những ranh giới nhất định mà duy loài người đã và mới có thể có được. Khi Engels cho loài người là phát sinh từ loài khỉ vượn, nhờ lao động chân tay duy nhất mà có, đó chỉ là cái nhìn thiển cận duy nhất một chiều, cái nhìn trích đoạn nông cạn về thuyết tiến hóa kiểu hoàn toàn nông nỗi, duy vật tuyệt đối mà chẳng có chút nào thông minh hay sâu sắc cả.

 

Bởi vậy loài người phát triển chính là nhờ lý trí của mình. Chính nhờ lý trí mà con người dần dần chinh phục được sự vật, thế giới khách quan tự nhiên, con người từng bước có khoa học kỹ thuật phát triển đi lên về mọi mặt trong đời sống sản xuất, trong văn hóa xã hội, từ thiên nhiên đơn giản ban đầu đã chuyển qua xã hội tri tuệ, và cứ dần dần phát triển đi lên như vậy. Lịch sử phát triển loài người là lịch sử phát triển theo cách tuyến tính, tức giai đoạn sau phải coa hơn giai đoạn trước, không thê khác hơn như thế, không thể có bước gián cách hay nhảy vọt quá đáng nào mà phải vẫn từ từ tiệm tiến. Xã hội tư bản bởi vậy là xã hội phát triển khách quan tự nhiên mà không phải cá nhân nào đặt bày, sáng tạo ra cả. Con người có lý trí tạo ra công cụ, lý trí phát triển dần lên tìm ra hay tạo thành khoa học, vậy là công kỹ nghệ, thương nghiệp phát triển lên thêm, thế thôi. Không có cái trước cũng không có cái sau, không có cái nào tự trời rơi xuống, không có cái nào có thể do chủ quan con người hoàn toàn đặt ra mà đều theo quy luật khách quan hay quy luật tiềm ẩn tự nhiên hoặc tiên thiên tạo nên tất cả.

 

Mà tư bản là gì ? Thật ra tư bản chỉ là sự tích lũy lao động xã hội qua một thời gian ngắn dài nào đó về nhiều mặt để tạo ra hay làm phát sinh ra. Nó tồn tại trong dân hay trong xã hội theo những định chế nào đó, và khi huy động thì sẽ được tập trung lại, trở nên yếu tố đầu tư và phát triển. Tư bản có nhiều loại như tư bản con người, tư bản tiền bạc, tài chánh, tư bản kỹ thuật, tư bản kỹ năng, chất xám, mà không phải chỉ duy nhất một loại nào. Tư bản được tạo thành trong xã hội tự do, được huy động trong cơ chế tự do, và cũng phục vụ lại cho sự phát triển kinh tế xã hội trong cơ chế tự do chính là thế. Nó như mạch máu lưu thông trong xã hội, nó luôn luôn lưu chảy hoặc chờ đợi để lưu chảy, không bao giờ bị cục máu đông lâu dài được cả, vì nếu vậy phải bị nhồi máu và ngất xỉu kiểu như những cuộc khủng hoảng kinh tế do bởi những sự biến động bất chợt tạm thời nào đó. Sự kích thích tạo thành tư bản chính là tính thu hút của quyền tư hữu, khiến đây như là động lực để tích tụ và giải tỏa tư bản, để tạo thành khả năng tư bản mới hơn và cứ tiếp tục như thế.

 

Tư bản như vậy là một guồng quay tự động, nó gắn liền vào kinh tế tự do, không những nó mở rộng ra trong cả nước mà còn cả trên toàn thế giới, mỗi xí nghiệp phát triển đều góp phần làm kinh tế đất nước phát triển, cả những khi làm toàn cầu phát triển, bởi kinh tế đều như guồng máy rộng khắp, liên thông với nhau, ảnh hưởng, tương tác với nhau mọi mặt. Mọi định chế kinh tế đều gắn liền nhau mà không bao giờ chỉ rời rạc hay tách biệt. Bởi nếu không có quyền tư hữu cũng không còn động cơ kích thích nào cả, không còn mục đích nào thiết thực hay cụ thể được cả. Nó cũng như mạch nước chảy ngầm hay lộ thiên, công khai, nhưng đều luôn làm cây cối phát triển, không thể có nguồn nước nào bị tù đọng bởi nếu vậy là đi ngược lại hay trái với bản chất khách quan tự nhiên của nó. Mọi cây cối, thực vật đều chia sẻ nguồn nước với nhau, tuy có chỗ nhiều chỗ ít tùy theo nhu cầu hay điều kiện, có điều tư bản phải luôn luôn lưu chảy, bởi vì nếu dừng là phản lại ngay với bản chất tự thân của nó. Vật chất phải luôn vận động, mọi vật phải luôn vận động, thì tư bản thì tư bản, tài chánh, tiền tệ nói chung cũng đều phải vậy.

 

Tư bản có khả năng mua (huy động, tập trung) được tất cả, từ vật chất đến trí tuệ con người bởi khả năng đầu tư về mọi mặt của nó rất lớn và rất tiện lợi, mọi nguồn đều có thể phiên bản ra thành nó và chính nó cũng huy động, phục vụ lại cho mọi nguồn. Sự khôn ngoan của con người, của xã hội là tạo nên mọi công cụ, phương tiện hữu ích, và mọi cơ chế hiệu quả cho hoạt động của chính mình. Con người thay vì chỉ hoạt động tay chân, cơ bắp nghèo nàn, thì hoạt động qua cơ ché máy móc mọi mặt, đó là cơ chế hoạt động khách quan, tự nhiên của xã hội kinh tế tư bản là như thế đó. Tất nhiên nếu có những phát sinh trục trặt, tắc tị nào đó, thì đó vẫn là điều không thể tránh khỏi vì lỗi của cá nhân con người, của những bộ phận máy móc nào đó, của sự hiểm hóc nào đó, có thể chỉ là cục bộ nhất thời, nhưng không phải và cũng không nên phê phán hay oán trách toàn bộ cơ chế khách quan nói chung. Mọi sự phê phán đều phải nhìn vào nguyên lý vận hành chung, nhìn vào hiệu năng, hiệu quả tối hậu, nhìn vào sự tiếc kiệm, tiện lợi, kết quả nói chung của toàn bộ cơ cấu đó mà không thẻ chỉ nhìn theo cách cục bộ, tách biệt, rời rạc, chủ quan, hạn hẹp trên những góc cạnh chủ quan nào đó nhất định.

 

Do vậy, khi Mác nhìn tư hữu như đầu mối của sự phân chia giai cấp, là nguồn gốc của mọi sự bóc lột, của đấu tranh giai cấp, thì đó chỉ là lối nhìn trích đoạn, cố chấp, rời rạc, tách biệt cùng phiến diện. Đó là kiểu chỉ thấy một mà không thấy mười của mọi sự phán đoán về sự kiện. Kiểu chỉ tách riêng ra một tế bào rồi nhận định chung cho toàn cơ chế sinh vật hay xã hội, có khi cả lịch sử, như Mác đã từng nêu rõ quan điểm đó của mình được minh thị ngay trong lời giới thiệu của bộ Tư bản luận. Các Mác thật sự chỉ nìn méo mó một một sự rồi suy diễn ra mười sự theo cách tư biện kiểu hoàn toàn chắc mẩm, nhằm cuối cùng kết luận chuyên chinh vô sản hay độc tài vô sản thì thật là quá đáng, chủ quan, thiên lệch, áp đặt, chẳng cần mọi sự thật khách quan nào cả. Bởi chủ yếu của Mác là quá tin chắc vô căn cứ vào biện chứng luận để suy đoán vậy thôi, chẳng cần dựa vào quy luật khách quan nào cả của con người và xã hội. Tức Mác chỉ thấy sự nghịch lý mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản lúc đó như hai cực đối lập rồi suy đoán bừa ra, nhưng không thấy rằng sự đối lập giữa hai cự nam châm, sự đối lập giữa hai cực địa cầu, sự đối lập ngày đêm trên trái đất có hề dẫn tới kết quả khác nào đâu. Sự nông cạn, ấu trĩ, manh động của Mác chính là như thế.

 

Tức Mác nhìn hết sức lệch lạc về luật pháp, về xã hội, về lịch sử, về con người. Đó chỉ là quan niệm thiển cận và mê tín. Bởi con người luôn luôn đầy tính bản năng, ích kỷ, thì lấy cơ sở, lý do nào để phong thánh giai cấp vô sản khi đó có sứ mệnh lịch sử để nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại. Con người chỉ cao cả khi nào có giáo dục đầy đủ, có hiểu biết, nhất là có tố chất cá nhân tự nhiên tốt đẹp. Giai cấp vô sản khi ấy chỉ là hệ lụy dó điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, họ chịu nhiều thiệt thói lúc ban đầu, là giai cấp mang nhiều yếu tố bất cập, nhược điểm trong xã hội, chỉ là thành phần thiểu số, ít ỏi lúc ban đầu, lại được phong thần phong thành một cách đầy mê tín, mê muội, thử hỏi họ sẽ làm được gì cho lịch sử nếu không nói sẽ trở thành bung xung cho những tham vọng cá nhân khác nhau lợi dụng, đưa lên như kiểu chân dung bù nhìn, mà thực chất họ cũng chẳng được lợi lộc nào cả, bởi nghịch lý là họ vẫn phải ở trong nhà máy, vì nếu ra ngoài họ cũng không còn là họ nữa. Mọi địa vị chính trị, kinh tế đều do kẻ lợi dụng, giả đò tung hô họ mà chẳng bao giờ là quyền lợi chính họ. Đó cái ấu trĩ, ngờ nghệch, mờ tối của chính Các Mác là thế.

 

Nên thay vì đơn giản dùng các biện pháp luật pháp và xã hội, như thuế khóa, dư luận báo chí, các nâng đỡ tài chánh, điều tiết xã hội, bằng các công cụ kỹ thuật xã hội khác nhau, để nhằm hỗ trợ, nâng đỡ, giải quyết quyền lợi thực tế của giai cấp công nhân lao động lúc đó, Mác lại đề ra các cách thức tàn khốc kiểu đốn cây chặt rừng, tiêu diệt đi cả nhiều giai cấp xã hội khác nhau để thay thế vào đó một khái niệm một giai cấp ảo ảnh, hoàn toàn không thực tế hay huyễn hoặc. Sự vô ý thức, vô trách nhiệm của Mác đối với xã hội và lịch sử xã hội loài người chính là như thế, tạo ra biết bao hậu quả, hệ lụy trong thực tế, khiến Mác trở thành tội lỗi, cả nhiều khi tội ác, dầu Mác không phải trực tiếp gây ra mọi điều đó. Hay tai hại của một học thuyết nếu nó sai lầm nhiều khi còn gây những hậu quả lớn lao, lâu dài còn hơn cả mọi sự diệt chủng nhất thời trong thực tế lịch sử.

 

Trong khi đó, mọi sự diễn tiến, phát triển tự nhiên trong xã hội loài người từ cổ chí kim đều luôn là kết quả đấu tranh cân bằng giữa bản năng và lý trí, giữa tham vọng quyền lực cá nhân và sự tuân phục của đám đông mà không gì khác. Từ giai đoạn bộ lạc, qua chế độ phong kiến, quân chủ tập quyền, đến tư sản cộng hòa đều tương tự như thế. Pháp luật luôn luôn tùy vào sức mạnh của người cầm quyền, pháp luật chỉ là cái nền chung, cái nền bảo đảm cho trật tự xã hội nào đó, nó có thể tốt hay xấu tùy theo từng giai đoạn thời đại, không nhất thiết luật pháp nào là tuyệt đối tốt hay tuyệt đối xấu, đó chỉ là kết quả của sự quân bình xã hội qua từng hoàn cảnh thời gian nhất định. Thường thường pháp luật chỉ định hình số đông quần chúng mà khó định hình những kẻ có thế lực, bởi quần chúng thường chỉ là lực lượng a dua, mù quáng, xu nịnh, thụ động, chưa hẳn gồm mọi tầng lớp tinh hoa của toàn xã hội.  

 

Bởi vậy trong mọi thể chế xã hội tự do dân chủ, tức không phụ thuộc vào một ý thức hệ độc tài nào cả, mọi người dân đều được tự do phát huy năng lực tự nhiên của mình. Ngay trong thời kỳ quân chủ độc đoán chuyên chế cũng vậy, vì quyền hành dẫu được tập trung chỉ huy bởi một nhà vua, một vì hoàng đế chuyên quyền nào đó, tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân đều không bị tổ chức, bị tuyên truyền bó buộc phải rập khuôn theo một lý thuyết nào cả. Họ vẫn hoàn toàn tự do theo đuổi ý thức, quan điểm riêng tư của mình, họ không bị vong thân, không bị nô lệ chỉ riêng vào ý kiến của người nào khác nếu thật sự họ đều không muốn như vậy. Nhưng từ khi có lý thuyết độc tài vô sản của Mác đến nay, điều đó đã hoàn toàn bị triệt tiêu nơi nhiều nước, khiến từng có thời một mảng lớn xã hội nhân loại đã không thoát ra khỏi điều đó. Thời Stalin ở Nga, thời Mao Trạch Đông ở Tàu v.v… đích thị đều là kiểu xã hội như vậy. Đó không hề là xã hội giải phóng mà là xã hội bị nô lệ nhiều mặt, đó kết quả của học thuyết Mác thật sự chỉ là thế, nó hủy diệt ý thức tự do của con người, thậm chí có khi hủy diệt cả nhân cách và phẩm giá con người, biến con người chỉ thành vật nuôi, thành vật chất thụ động và nô lệ.

 

Chỉ do luật pháp khi đó không còn là nền tảng, là khuôn khổ bảo vệ trật tự xã hội khách quan nữa, bảo vệ tự do chính đáng và an ninh bản thân con người nữa, lại trở thành công cụ khuôn đúc cho ý thức hệ độc đoán cho dù ý thức hệ độc đoán đó có sai lầm hay phi lý bao nhiêu. Bởi luật pháp khi đó đã bị lợi dụng cho quyền lợi riêng tư của thiểu số cầm quyền. nó có thể nhân danh mọi thứ nhưng thực tế đều không phải như vậy, kể cà bị lợi dụng bởi vô số kẻ xu nịnh, cỡi lên đầu lên cổ quần chúng, lên đầu lên cổ của xã hội để nhằm trục lợi mà không gì khác. Khi lịch sử nước Đức sinh ra Hitler và sinh ra Các Mác đều chính là những nguyên nhân như vậy. Hitler nhân danh quyền lợi dân Đức để thực hiện chế độ độc tài cá nhân, Mác nhân danh nhân giải phóng loại và giai cấp, để nhằm thực hiện chế độ độc tài ý thức hệ riêng tư của chính mình.  Thực chất cả hai đều làm hủy hoại nhân loại và dân tộc mình trong thời gian dài, chỉ nhờ vào các biện pháp tổ chức, nhân danh, độc đoán, và tuyên truyền sai lệch, khiến quần chúng đều trở thành mờ tối, và thành công cụ làm lợi riêng cho những thực thể như thế.

 

Cho nên tuyên truyền và tổ chức cũng như sự bạo lực là công cụ hay sức mạnh chủ yếu của mọi chế độ độc tài, bởi vì nó khiến mọi tự do chính đáng của con người đều bị tiêu diệt, khiến cả tự do của xã hội cũng bị tiêu diệt, mà chỉ còn biến thành công cụ của những người sử dụng nó. Đất nước, xã hội ta thực tế từ năm 1945 cũng tương tự như thế mà không ai dám nói. Bởi khi xã hội đã được tổ chức toàn diện trong sự độc đoán, độc tôn một chiều rồi thì nó trở thành sức mạnh khủng khiếp, không có kẽ hở nào đề cho ai suy nghĩ, phát biểu điều gì khác hơn được nữa. Sự độc tài làm cho chai lỳ, sợ hãi, mất sức đề kháng của toàn xã hội. Khiến xã hội chỉ còn là dòng chảy một chiều mà không có một ngoại lệ nào khác. Sự cuốn hút vào hai cuộc chiến tranh liên tục suốt 30 năm, thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, vì mục đích ý thức hệ, đã trở thành cuộc nội chiến là chủ yếu, nhưng hình thức bề ngoài lại nhân danh như là cuộc chiến đấu giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc, song thực sự chẳng ai dám nói, ngay cả mọi người viết sử, mọi sử gia đích thực cũng không thể nói khác. Họ đều phải thành công cụ, bởi toàn thể xã hội đều biến thành hão lũy, không ai có thể thoát ra được, kể cả những người được cầm quyền chính, bởi tất cả đều trở thành nạn nhân của họ thuyết Mác, không còn bất cứ ai có khả năng tự do, độc lập được nữa. Tại sao lại chính người Việt Nam lại trở thành dối gạt lịch sử khách quan của đất nước mình đối với cả các thế hệ con cháu mai sau một cách hoàn toàn không cần thiết như vậy phải chăng chỉ tỏ ra một dân tộc tầm thường, kiểu đáng trách như thế ?

 

Nhưng đó lại cũng là ý nghĩa khiến có thể nói được, chính ông Phạm Văn Đồng là người phải có trách nhiệm hay tội lỗi cụ thể nhất trong việc này, bởi vì ông là người từng làm Thủ tướng lâu đời nhất từ trước đến nay trong thời kỳ đó. Từ đấu tranh ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, tổ chức tuyên truyền cho nền giáo dục ý thức hệ một chiều một cách sâu đậm đều không ra ngoài bóng mờ bao phủ của chính bản thân ông, cả Công hàm 58 cũng không ngoài chữ ký của ông ta. Này nay cứ xem lại mọi tài liệu, mọi phát ngôn của ông ta đã từng có và được ghi lại cụ thể đến nay hoàn toàn thấy rõ. Điều này dù trong quá khứ có được che giấu kỹ càng, kín đáo bao nhiêu thì trong tương lai lịch sử nó cũng đã bắt đầu dần dần lộ mở. Bởi người ta ai cũng có thể lấy tay tự che mặt trời cho chính mình cách tạm thời nhưng không thể che mặt trời được cho tất cả mọi người. Lịch sử luôn luôn bị vượt qua và mọi sự sẽ đều sang tỏ mãi mãi, không ai có thể kìm lại hay đổi thay đi được. Cho nên một nền chính trị không tạo ra được những đầu óc độc lập, không xây dựng được những thành phần, tầng lớp tinh hoa của dân tộc, đất nước trong suốt một thời kỳ dài là thế nào, điều ấy cần khiến cho mọi người phải suy nghĩ. Một nền giáo dục mà suốt gần thế kỷ chỉ cốt nhằm đào tạo ý thức hệ, bất chấp tương lai của đất nước, của dân tộc chỉ vì niềm tin mù quáng, một chiều, tạo nên sự vong thân, mù quáng, không tự chủ được trí tuệ và sự nhận thức của bao lớp trẻ nối tiếp nhau, thì nền giáo dục đó hỏi trách nhiệm về ai nếu không phải là người đã gia công thực hiện cho bằng được nó.

 

Vì thật ra chính trị là gì ? Chính trị căn yếu nhất phải là một khoa học vừa về lý thuyết vừa về thực tiển, nhất là phải cần một triết học sâu xa, toàn diện và bao quát nhất làm nền tảng. Nếu chưa được như thế, chính trị chỉ như một hiện tượng xã hội nhất thời nào đó, nó có thể đáp ứng được hay không nhu cầu thực tế trước mắt của một giai đoạn xã hội, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó của một đất nước, một dân tộc cụ thể. Chính trị khi đó chỉ là một sản phẩm nhất thời của lịch sử mà không có gì bất biến, bền lâu hay trường cửu cả. Bởi vậy chính trị đúng đắn cần phải đào tạo ra nền giáo dục đúng đắn mà không phải giáo dục chỉ nhằm phục vụ chính trị nào đó. Bởi giáo dục nhất thiết phải gắn liền với bản thân hay chiều dài của lịch sử, giáo dục vì thế phải là một khoa học hay một triết học mang tính nhân văn sâu sắc, lâu dài và chỉ vì mục tiêu phục vụ đất nước, phục vụ con người, phục vụ xã hội, phục vụ dân tộc, không phải chỉ nhằm phục vụ chính trị mang tính nhất thời hay giai đoạn nào đó. Bởi mọi người làm chính trị, cho dù bất cứ lãnh tụ nào đi nữa, đều chỉ là sản phẩm mang tính nhất thời giai đoạn của lịch sử, không bao giờ là cha ông vĩnh viễn của lịch sử. Một nền giáo dục nhằm cốt đồng hóa chính trị với đất nước, với dân tộc, nhất là nhằm đồng hóa lãnh tụ, thể chế, ý thức hệ nào đó, với chính lịch sử, đất nước và dân tộc mình trong muôn đời, thực chất không khác gì nền giáo dục phản động, phản dân, hại nước, bởi nó sẽ hủy diệt mọi tiềm lực phát triển của đất nước, mọi tinh hoa của dân tộc, mọi ý nghĩa chân chính, nhân văn, và tự do chính đáng của con người, mọi năng lực của xã hội đi lên phát triển, vì phải bị đóng khung trong thụt lùi và ngưng đọng. Nó sẽ hủy diệt mọi tầng lớp trí thức khác nhau chính là như thế. Sự đem cái nhất thời áp đặt lên điều trường cửu, lâu dài của cả một dân tộc, đất nước, quả không còn cái gì tệ lậu bằng.

 

Nhưng thảm não và tệ hại nhất, chính là làm phát sinh ra số người ngụy tín, tự nhận mình là trí thức, kiểu ảo tưởng như là thành phần tinh hoa của dân tộc, nhưng thực chất lại tỏ ra thấp kém, chẳng cho thấy có chút nào là trí tuệ cả. Như trong trường hợp mới đây, có một cá nhân tự tin, tự tỏ mình là tài năng hiếm thấy, do bởi tự nghĩ mình là một Tiến sĩ luật học, mặc dù đã bị trục xuất qua Mỹ, kiểu một Cù Huy Hà Vũ, lại quyết tâm viết ra bài báo để gời cho BBC, trong đó nhằm xác quyết rõ ý đồ, mục đích của mình, bằng cách minh thị việc giải độc dư luận xã hội, để cầm lái, hướng dẫn quần chúng, theo cách chủ quan mình như sau: “Về học thuật, Trần Đức Thảo là một nhà Mác xít. Để khỏi chứng minh dài dòng, tôi lấy Trần Đức Thảo để định nghĩa Trần Đức Thảo. Trong 'Tiểu sử Trần Đức Thảo' tự biên, ông viết: "Tháng 8 năm 1951 tôi công bố cuốn "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng" do Nhà xuất bản Minh Tân phát hành. Cuốn sách này đánh dấu sự chuyển biến của tôi từ Hiện tượng học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên thực tế, tôi mới chỉ đạt tới ngưỡng cửa của Chủ nghĩa Mác. Tôi đã đi đến nhận biết được chân lý của những cơ sở lý luận của học thuyết duy vật biện chứng, nhưng chưa nắm được đầy đủ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong hành trình của tôi, tôi đã được đưa đến Chủ nghĩa Mác qua hai con đường: Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa xã hội; Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học".Tóm lại, Trần Đức Thảo tán thành "chủ nghĩa xã hội" theo học thuyết Mác-Lênin và khẳng định cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc Việt Nam dẫn đến chủ nghĩa xã hội”.  (Do người viết gạch dưới và in nghiêng). Và để kết luận, Cù Huy Hà Vũ viết : “với tư cách là một người có quan hệ gần gũi với Trần Đức Thảo, tôi thấy cuốn sách 'Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối' là một sự xuyên tạc có chủ ý triết gia duy nhất này của Việt Nam (tính đến thời điểm hiện tại), hơn thế nữa, được giới triết học quốc tế ngưỡng mộ. Đấy cái nhìn của Trần Đức Thảo về mình là như thế, và đó cũng là cái nhìn của Cù Huy Hà Vũ về Trần Đức Thảo đều tựu trung chỉ là như thế.

 

Điều này càng chứng tỏ thực sự Trần Đức Thảo lẫn Cù Huy Hà Vũ chẳng hiểu  khái niệm “chủ nghĩa xã hội” của Mác thật sự là gì. Bởi chủ nghĩa xã hội của Mác thực chất chỉ là bước thấp, là giai đoạn ban đầu của xã hội cộng sản, nhưng nếu xã hội cộng sản đó chỉ là không tưởng, tức không bao giờ thực hiện được (như ngày nay Liên Xô cũ và khối Đông Âu đã hoàn toàn sụp đổ và tan rã, cả Trung Quốc cũng đã trở cờ) vậy thì chủ nghĩa xã hội theo kiểu Mác, theo nội dung của Mác liệu còn nào đưa tới đâu hay là ích lợi gì. Bởi nó chỉ được hiểu là giai đoạn trung gian, thời kỳ quá độ để nhằm đi lên xã hội cộng sản qua duy nhất con đường đấu tranh giai cấp, không phải chủ nghĩa xã hội theo truyền thống cổ điển là đề cao xã hội trong mục đích tự do nhân bản, trong tình thương yêu và bình đẳng của tất cả mọi người không phân biệt giai cấp đặc thù nào cả. Một người lâu nay được nhiều người tôn sung là “triết gia”, nay Vũ còn tô thêm đậm nét “triết gia duy nhất” của Việt Nam từ trước đến nay, vậy mà tư duy kiểu chỉ tầm thường, nô lệ tư duy người khác, cho dù người đó là Các Mác thì liệu còn có ý nghĩa gì, liệu còn có giá trị tư duy độc lập, tự do, tự chủ của người làm triết học là như thế nào. Và nói kiểu thế thì còn gì là tinh hoa, còn gì là giá trị hay ý nghĩa tiêu biểu của một dân tộc được nữa, chẳng qua cũng chỉ là cách nói cuội, cách nói thụi như bao người khác thế thôi, còn lấy gì làm gương hay đẻ hướng dãn trí tuệ cho cả một đất nước, một dân tộc độc lập, tự do cách thiết thực, tinh túy được nữa.  

 

Việc đó thật hoàn toàn khác hẳn với tinh thần, mục đích của Phan Chu Trinh đã có cả một trăm năm trước đó : Khai dân trí, Chấn dân khí, hậu Dân sinh, thật hoàn toàn tự chủ, thiết thực, trong tinh thần và mục tiêu yêu nước nồng nàn, sâu xa thật sự. Tinh thần đó là do Phan Chu Trinh tự nghĩ ra mà không cần noi theo hay lấy lại từ một ý thức hệ bên ngoài nào cả. Hoặc như Nguyễn Thái Học chủ trương Tam dân chủ nghĩa “ Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc”, tuy đây lấy lại ý tưởng của Tưởng Giới Thạch, mà gốc rễ là tư tưởng của Tôn Văn, vị anh hùng giải phóng dân tộc, đất nước Trung Hoa ra khỏi sự nô lệ ngoại tộc Mãn Thành, nhưng ý nghĩa vấn đề ở đây không phải nhằm bắt chước người ngoài, nhưng hoàn toàn nhận thức điều đó là đứng đắn và có thể áp dụng thiết thực, hiệu dụng cho chính đất nước, dân tộc mình.  Cho nên tư tưởng không nhất thiết phải của ai, miễn là tư tưởng đó hoàn toàn khách quan, đúng đắn qua tinh thần tự chủ của mình nhận thấy. Như nước ta từng thời xưa qua hang ngàn năm đành phải lệ thuộc Tàu, nhưng tinh hoa của Nho giáo tức tư duy Khổng tử dân tộc ta vẫn thấy đúng đắn và chấp nhận để dùng đó đánh đuổi xâm lược Tàu ra khỏi nước ta có sao đâu. Vậy mà ngày nay vẫn còn số người vẫn không hiểu tư tưởng Khổng tử thực chất là tư tưởng nhân văn, trụ ở con người, lại cho đó là tư tưởng phong kiến để nhằm bài xích một cách mù quáng, thiển cận một chiều thì quả không thể nói vào đâu được, mặc dầu Viện Khổng tử ngày nay của Trung Quốc trên khắp thế giới thực chất chỉ là công cụ truyền bá ý thức hệ trái ngược, lẫn cả có mưu đồ bá quyền Đại Hán trên toàn thế giới hiện thời mà lại ít ai nhìn thấy.

 

By VÕ HƯNG THANH

         (13/9/2021)