BÀN VỀ VẤN ĐỀ Ý NGHĨA CỦA CHÂN LÝ,
HAY BẢN THÂN “CHÂN LÝ” LÀ GÌ ?
Chân
lý có thể hiểu “nôm na” là mọi sự thật trên đời. Nhưng “sự thật” là gì ? Đó là
điều trong đời sống thường ngày, trong khoa học, và trong triết học, mà sau đây
sẽ được bàn tới một cách ngắn gọn nhất.
Tiếng Anh (the Truth), tiếng Đức (die Warheit),
tiếng Trung, hay Hán Việt (真理),
tiếng Pháp (La vérité). Nói chung tiếng phương Tây mà cụ thể là tiếng Pháp, có gốc
la tinh là veritas, xuất phát do chữ verus, có nghĩa là thật (vrai), như có sự thích đáng, tương thích, hay “phù hợp” giữa
điều ta nhận thức, hiểu biết và sự thật nào đó có mặt hay hiện hữu trong thực tế.
Tức đó là cái “lý đúng” nếu hiểu theo
nghĩa tiếng Trung hay Hán Việt. “Đúng” là sự phù hợp, không sai lệch đâu được,
còn “lý” là năng lực suy lý, sự nhận thức về điều khách quan có thật nào đó.
Đây là điều ai cũng có thể hiểu được, nhưng không phải điều ai cũng có thể hiểu
được. Hiểu được là hiểu trong mọi lãnh vực thường nghiệm, còn chưa chắc hiểu được
hay hiểu được toàn diện về mặt khoa học và triết học.
Điều đó có nghĩa “chân lý” luôn liên
quan thiết yếu đến mặt nhận thức, hay trình độ nhận thức và cả năng lực nhận thức.
Chẳng hạn có người đàn bà nào đó bị mất trộm con gà. Việc mất trộm nếu có xảy
ra thật, đó là sự thật, kể cả ai là người ăn cắp, đó cũng là sự thật, tức phải ở
trong hoàn cảnh nói có sách mách có chứng, tức là điều xác thật trong thực tế,
không phải suy đoán hay tưởng tượng.
Cả trong khoa học và triết học cũng
tương tự như vậy, nhưng ở trong hay thuộc về bình diện hoặc mức độ chính xác,
sâu xa, hoặc bao quát, bao trùm hơn. Đó là đặc điểm mà khoa học và triết học giống
nhau ở đây, nhưng triết học có phần trừu tượng và sâu xa hơn. Nói đúng hơn,
khoa học là phương cách đi tìm đối tượng khách quan càng ngày càng chính xác và
sâu sắc hơn, còn triết học đi tìm chính chân lý phổ quát ẩn nấp đàng sau mọi đối
tượng đó của khoa học.
Như trong thời cổ đại ở Hy lạp, Democrit
là nhà triết học đầu tiên đã suy đoán ra được lý thuyết nguyên tử, hiểu là
thành phần đơn vị nhỏ nhất của sự tồn tại hay vật chất trong vũ trụ. Nhưng khoa
học ngày nay lại đi đến tìm kiếm và hiểu biết chính xác các mức độ sâu xa hơn của
nguyên tử, như về mặt cấu trúc, vận động, của nó về phương diện hạt nhân, điện
tử, các hạt cơ bản, nguyên lý sóng hạt, trường vật lý v.v…
Có nghĩa đến đây chúng ta đã hiểu bản chất
của chân lý, luôn luôn là mối tương quan thật sự giữa đối tượng nào đó tồn tại
khách quan thật và năng lực nhận thức chủ quan của con người. Chủ quan đây
không phải là sự tùy tiện nào đó, mà chính là phương diện ý thức chủ thể. Còn tồn
tại khách quan là cái có thật trong thực tế, không thể vì tính chủ quan của nhận
thức nhân loại mà bị thay đổi hay biến dạng đi. Sự tồn tại đó chính là bản thân
hay bản thể của sự vật, sự việc về đối tượng mà con người muốn nhận thức, không
phải nhất thiết cụ thể mà có thể còn là trừu tượng, hay chân lý đầu là chân lý
khoa học còn chân lý sau lại là chân lý triết học.
Đây cũng là ý nghĩa mà triết học luôn
luôn cần đến và bao trùm cả chân lý khoa học song chưa chắc là ngược lại. Hay
nói khác đi, chân lý luôn luôn là sự nhận thức đa dạng theo mặt chủ thể ý thức
của con người, nhưng bản thân đối tượng thì vẫn mãi không thể thay đổi, không
liên quan đến hay không lệ thuộc gì về mặt chủ thể nhận thức kia. Chuyện người đàn
bà bị mất con gà có thật hay không, chỉ chính người đàn bà đó biết, còn người
người khác hay bàng dân thiên hạ chưa hẳn là biết nhưng vẫn không làm thay đổi
gì về sự thật có hay không có đó.
Thế nên khoa học nói chung chỉ tìm ra,
khám phá các đối tượng sự vật mà không hề làm thay đổi gì nó. Các hiểu biết về
địa chất, về sinh học, về thiên văn vũ trụ học, về vật lý, hóa học … từ thượng
cổ đến nay vẫn luôn phát triển nhưng mọi sự thật khách quan đó vẫn có thật, con
người biết đến hay không vẫn chẳng hề làm thay đổi gì về chúng cả.
Chân lý triết học cũng thế, từ thượng cổ
tới nay, có biết bao lý thuyết triết học đưa ra, Đông cũng như Tây, nhưng chẳng
qua cũng chỉ mô tả được phần nào đó chân lý khách quan mà không hề làm thay đổi,
biến dạng nó, và cũng chưa hề bao giờ biết chính xác hay tát cạn được nó. Thế
nhưng con đường triết học vẫn phải luôn luôn tiến tới, không thể bị dẹp bỏ,
cũng tương tự như con đường khoa học luôn luôn mãi tiến hoàn toàn như vậy.
Như thế rõ ràng trong thế giới thực hữu
có hai thực tại. Thực tại cụ thể và thực tại trừu tượng. Thực tại cụ thể là cái
hữu hình nào đó. Thực tại trừu tượng là cái vô hình. Như con gà là thực tại cụ
thể, mọi thành phần của nó cũng đều thực tại cụ thể. Còn lời chưởi của chị mất
gà, các suy nghĩ của chị ta luôn là thực tại trừu tượng. Nguyên tử và mọi cấu
trúc, thành phần của nó đều là thực tại cụ thể. Trước kia người ta chưa biết đến
thì nó cũng như vậy, ngay nay người ta biết đến, rồi dần dần con người còn biết
sâu hơn thì nó cũng như vậy không hề bao giờ thay đổi hay biến chuyển khác được.
Bởi nếu như nguyên tử mà chuyến biến, cả vũ trụ này cũng không thể còn như cũ nữa.
Hay nói tóm lại, tư duy của con người là thực tại trừu tượng, tức nó không phải
là “vật chất” như kiểu con gà hay nguyên tử, hay một tế bào sinh học hoặc một
loại khoáng chất cụ thể nào đó.
Bởi vậy nói chung triết học từ cổ chí
kim, từ Đông sang Tây, ngoài bao nhiêu xu hướng, trường phái khác nhau, tựu
trung lại có hai khuynh hướng chính yếu là học thuyết duy tâm và học thuyết duy
vật. Học thuyết duy vật chỉ giản lược mọi tồn tại vào vật chất. Học thuyết duy
tâm lấy tấm thức, lấy ý thức, lấy những thực tại tinh thần nào đó làm chủ đích,
làm nền tảng, làm cứu cánh. Có thể đây là hai khuynh hướng cực đoan, còn thực tế
có thể có khuynh hướng trung dung hay dung hòa, không chối bỏ thế giới vật chất
thực hữu, nhưng không công nhận đó duy nhất là thực tại sau cùng, mà vẫn tinh
tinh thần (spirit, spirituality) hay thực tại vô hình nào đó (non-concrete) mới
là cái tối hậu vượt lên tất cả ngay từ khởi thủy bước đầu.
Cho nên trong triết học cũng chia ra nhiều
lãnh vực, nhiều mục tiêu, đối tượng tư duy khảo sát khác nhau, song căn bản nhất
vẫn là hiện hữu luận (ontology) và nhận thức luận (epistemology). Rõ ràng nhận
thức chân lý luôn luôn là sự kết hợp cả hai chiều hướng hay nội dung này lại với
nhau. Điều đó cũng có nghĩa nhận thức chân lý không bao giờ kết thúc hay dừng lại,
mà luôn luôn diễn tiến bất tận, liên tục. Chân lý tối hậu tất nhiên hay nhất
thiết phải có, song chưa bao giờ đi tới được. Bởi chẳng qua chỉ đều những trích
đoạn nào đó qua thời gian. Phủ nhận chân lý tuyệt đối đều hàm hồ, nông cạn, còn
tự nhận mình đạt đến chân lý tuyệt đối đều chủ quan. Mác cho rằng mình đạt đến
chân lý tuyệt đối trong niềm tin là nếu giai cấp vô sản một ngày nào đó hiểu ra
vật chất là gì thì chân lý đã đạt được, nó sẽ chấm dứt hay bốc hơi đi, vì mọi sự
chỉ là vật chất, và cả Engels cũng tiên quyết tin điều như vậy. Đây đúng là niềm
tin tưởng, khẳng định vớ vẩn, mờ mịt không hơn không kém.
Mác, Engels, Lênin đều là những nhà duy
vật tuyệt đối. Tức chỉ thừa nhận là vật chất còn ngoài ra không có gì khác
trong cuộc đời này. Họ đều chỉ nói một điều là vận chất trong sự vận động hay sự
vận động của vật chất mà không còn gì khác. Tức quy nhận thức, ý thức, tinh thần
của con ngươi chỉ là thuần túy sự vận động vật chất mà không là gì khác. Như vậy
đã có sự nhập nhằng không phân biệt gì cả giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, vô
hình, giữa vật thể và chất thể (matérialité và essentialité).
Có điều ba người này không chỉ là duy vật
thuần túy cụ thể, mà họ còn hoàn toàn hãnh diện mình là duy vật biện chứng nữa
(Dialectical materislism, matérialism dialectique). Chính đây là điều mà họ tự
phân biệt mình với duy vật thuần túy hay duy vật cổ điển. Họ bảo duy vật cũ là
duy vật cơ giới, chưa có yếu tố “biện chứng”, còn duy vật của họ là duy vật biện
chứng, tức có yếu tố mới quyết định quan trọng chính là biện chứng.
Thật vật chiếc máy chạy là vật chất thuần
túy, sự chuyển động, tác động giữa vật chất thuần túy, điều đó cũng chẳng khác
gì sự vận động trong thái dương hệ hay điện tử chạy quanh hạt nhân nguyên tử.
Thế nhưng khi nói đến sự sống của tế bào, của sinh vật sống, điều đó ta thấy đã
hoàn toàn khác, còn nói đến ý thức loài vật hay nhận thức con người lại còn
hoàn toàn khác nhiều hơn nữa. Bởi một bên là cơ giới quán tính thuần túy với nền
tảng là vật chất, còn bên kia là sự sống trừu tượng luôn luôn triển khai mới
hay phát triển tiến tới.
Bởi vậy biện chứng luận (Dialectics,
dialecque, Dialektik) chính là cái phao cứu sinh cho học thuyết Marx, Engels và
cả Lênin. Bởi vì họ đều thấy thuyết duy vật cổ điển hay duy vật thuần túy khó
chấp nhận hoàn toàn, chỉ do nó thụ động, bế tắt, bởi vậy mới dùng khái niệm “biện
chứng” đưa vào để nhằm cứu vãn. Có điều khái niệm “biện chứng” đó lấy từ đâu,
hay từ đâu mà có. Đúng ra khái niệm biện chứng này (Dialektik) là do từ Goerg Wilhem
Friedrich Hegel mà ra, lại là một nhà triết học duy tâm người Đức, Hegel cho rằng
bản thể của tồn tại vũ trụ là Tinh thần (der Geist), hay Tinh thần là tiền đề đầu
tiên tuyệt đối tối hậu của bản thân vũ trụ về sau. Tinh thần đó tự phát triển
theo quy luật biện chứng nói nôm na là “tiên đề, trung đề, hậu đề”, hay là “tiền
đề, phản đề, hợp để”, nghĩa là “tự phủ định” liên tục, hay “phủ định, chối bỏ (mà
giữ lại) và vượt lên, để tạo ra mọi sự sau này, cuối cùng đi đến tự nhận thức về
bản thân của mình như là nhận thức tuyệt đối hay cũng là chân lý (die Warheit).
Đây chẳng khác gì một sự “cặp đôi”, một
hôn nhân giả tạo, cưỡng chế giữa hai bên duy tâm và duy vật. Nó không thể thuần
nhất mà chỉ là sự nhận bừa nhận vơ, hoàn toàn mâu thuẫn, bất hợp lý, khiên cưỡng,
đầy nghịch lý kiểu đem râu ông nọ cắm cằm bà kia hoàn toàn oái oăm phi lý. Đó
là điều mà về sau Marx cho là “lật ngược” Hegel lại, cho Hegel đi bằng cái đầu,
nay dựng ngược lại để có thể đi bằng đôi chân duy vật hay vật chất. Tức ý Marx
muốn nói Hegel chỉ tư duy, suy nghĩ bằng cái đầu “tư sản”, tức cái đầu bị lộn
ngược xuống đất, đi trên đất. Giờ đây Marx lật ngược Hegel lại, đứng trên đôi
chân là vật chất, là cái đầu của giai cấp “vô sản”, tức Mác biên duy tâm Hegel
thành ra duy vật của Mác.
Nhưng thử hỏi khi đem bình rượu, chai rượu
mà lật ngược lại, cho đầu chai cắm xuống dưới hay đít bình chổng lên trời, vậy
rượu trong bình có thể nào biến ra đất, ra nước được chăng ? Rõ ràng ở Mác chỉ
nhằm “đánh tráo khái niệm”, hay nói khác là mục đích ngụy biện hoặc ngây thơ
nông cạn mà không gì khác. Nói khác đi chỉ là một kiểu thần bí hóa (mystify, mystifier)
thuyết duy vật đơn thuần của chính Mác mà không sai mấy. Sự huyền bí hóa, thần
bí hóa của thuyết duy vật biện chứng, hay duy vật hóa duy tâm của Hegel, thật sự
chỉ là điều phi lý, hoang tưởng, nhưng đó lại là nền tảng căn cơ, sâu xa nhất để
Mác, Engels, Lenin suy diễn, phỏng đoán thêm khúc đuôi duy vật lịch sử (Historical
materialism, materialisme historique) như là nòng cốt hay mục tiêu của cuộc
cách mạng vô sản (Proletariat Revolution) mà Mác cho là mục đích tối hậu của cuộc
cách mạng cộng sản, của chủ nghĩa cộng sản (communism, communisme) một cách
hoàn toàn quả quyết.
Như vậy tuy Mác chủ trương quan điểm hiện
thực (réelle, praxis) về đấu tranh cách mạng, để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản (socialism nhằm tiến lên communism), nhưng cái cốt lõi sâu xa nhất,
nền tảng tối hậu nhất của nó lại chỉ là sự thần bí hóa (mystification) huyền hoặc
theo ý nghĩa “biện chứng” duy tâm của Hegel là điều Mác không thể nào chối cãi
được. Tức thiếu yếu tố “biện chứng” cũng không thể nào có được học thuyết Mác.
Tức là quan điểm “đấu tranh giai cấp”, cũng từ ý nghĩa hay yêu cầu “biện chứng”
mà ra, bởi không có điều này cũng không còn ý nghĩa của học thuyết Mác, tức bề
mặt chỉ là sự đấu tranh giàu nghèo cụ thể, nhưng sâu thẳm bên trong chính là niềm
tin huyền hoặc vào nguyên tắc biện chứng luận mà Mác vốn đã “thuổng” ra từ duy
tâm luận của Hegel thật là điều hoàn toàn ngược ngạo và quái gở.
Chính bởi thế nên ở đây cần đi sâu thêm ý
nghĩa của nguyên lý “biện chứng” là gì. Bởi theo Hegel, sự vật như nó là nó thì
muôn đời vẫn không ý nghĩa, có Tinh thần đầu tiên cũng vậy. Nên nó phải vượt
qua nó, phải tự phủ nhận nó đề đi đến cái khác (nier, supprimer). Nhưng vượt
qua, phủ nhận để thành cái đối ngược (opposé) như vậy cũng chưa là ý nghĩa gì,
cũng vẫn chỉ thành, cũng vẫn còn tiêu cực. Nên từ đề (thèse), đi đến phản đề (antithèse),
còn phải đi đến hợp đề (synthèse) là cái tổng hợp sau cùng, hay cái đích điểm mới
là mục tiêu tối hậu của mình. Hay biện chứng là sự tự phủ nhận liên tục bản
thân chính mình của sự vật khách quan. Nếu thế thì làm sao phân định rõ ràng cụ
thể được đâu là hay khúc nào là tiền đề, phản đề, hợp đề (thesis, antithesis,
synthesis), mà lại bị rơi vào nghịch lý của Zenon, tức mũi tên bắn ra không hề
bay được, đó là cách lý luận kiểu lượng tử tư duy (quantum pensant) mà không
còn kiểu tam đoạn luận cổ điển thông thường nữa (tiền đề, hậu đề, kết luận). Có
nghĩa biện chứng luận tự nó không có ý nghĩa gì cả nếu không có cái gì đó làm nền,
làm nòng, làm tiêu chí cho nó, tức làm động cơ, mục đích cho nó, và như vậy lại
rơi vào quan điểm mục đích luận, cứu cánh luận (teleology) mà chỉ riêng quan điểm
duy vật thuần túy, duy vật cơ giới máy móc không còn thể nào đảm nhận được nữa,
đó chính là chỗ yếu mà cả bản thân Mác vẫn không hề nhận thấy.
Cụ thể hơn, hãy nói về con gà của bà hàng
xóm. Con gà nếu không bị trộm, nó sẽ lớn lên, tức liên tục tự phủ nhận nó, rồi
đẻ ra trứng, trứng nở ra con cách tự nhiên và cứ tiếp tục như vậy. Nhưng nếu nó
bị ăn cắp về làm thịt, lại cũng quy trình biện chứng nhưng “biện chứng ngược”,
bị trụng nước sôi, nhổ lông, phay thịt … đến khi chỉ còn cái xương cho chó gặm,
còn lòng thịt tiêu hóa vào bụng con người và sau cùng lại ị ra v.v… và v.v… Như
thế chiều nào của biện chứng mới là đáng kể, chiều âm hay chiều dương, chiều
ngược hay chiều xuôi, chiều tích cực hay chiều tiêu cực trong tọa độ cuộc đời,
không phải chỉ là biện chứng tư biện suông kiểu hoàn toàn vô nghĩa.
Nên đúng ra biện chứng chỉ diễn ra có ý
nghĩa riêng trong mục đích nào của nó, không phải biện chứng chung chung, tư biện,
ngụy biện, mê hoặc, tưởng tượng như trong kiểu lý thuyết Mác. Bởi Mác hoàn toàn
duy vật, vô thần (không công nhận tinh thần, không công nhận nguyên nhân,
nguyên lý tối hậu nào cả), thì đem “biện chứng” vào thật sự cũng chỉ hoàn toàn
vô nghĩa. Bởi tảng đá ngàn năm nó cũng chỉ tồn tại như tảng đá, như nó là nó,
không thể nào biến chuyển hay tự biện chứng để thành ra cây, thành ra sự sống,
mà nó chỉ có thể bị tự phong hóa, cho dầu rong rêu có thể tạm thời sống bám bên
ngoài. Hay như cái cây, sinh vật, nó luôn quay lại chu trình sống ban đầu của
nó, để lặp lại như cũ, đâu thể nào chỉ tiến tới hoài mút mùa lệ thủy. Cây sinh
ra hạt, hạt sinh ra cây, gà đẻ ra trứng, trứng nở ra gà, cứ thế mà ngàn đời nội
hàm trong luật tiến hóa, đâu thể chỉ kiểu biện chứng mái chỉ trong bản thân hay
tự thân của nó.
Vả chăng biện chứng nếu áp dụng trong nhận
thức của con người, chỉ loài người mới có, loài vật không thể có. Ngày nay đã
có nhiều khám phá mới về ngữ nghĩa học, cấu trúc ngôn ngữ, nói chung ngôn ngữ học,
mà thời Mác chưa hề có, thế nên ý nghĩa “biện chứng” đã trở thành ý nghĩa trừu
tượng, mông lung, lỗi thời, mờ nhạt, vô nghĩa, thậm chí nội dung rỗng tuếch,
huyền hoặc, mà trước kia Mác, Engels đều mê mãi nghĩ là nội dung “khoa học” thật
sự, khiến chủ nghĩa cộng sản của Mác được tự xưng là “chủ nghĩa cộng sản khoa học”,
nhằm tạo dựng một “xã hội cộng sản khoa học”, đã từng hấp dẫn cả một phần nhân
loại, mà thật ra đó chỉ là hư tưởng, huyễn hoặc, không tưởng. Ở đây cũng cần nhắc
lại Trần Đức Thảo, một “triết gia” tiên khởi của Việt Nam cũng chỉ có bấy nhiếu
hoàn toàn lặp lại mọi ý tưởng của Mác mà hoàn toàn chẳng có gì khác.
Hơn nữa, về mặt nguyên lý khoa học khách
quan cụ thể, sự vận động lịch sử của sự vật hay xã hội đều là sự vận động tuyến
tính, đường thẳng (leanear), tức quá trình không thể lặp lại, không thể quay lại
từ đầu nếu nhìn trong tổng thể của nó. Vậy mà Mác cho là xã hội đầu tiên chỉ là
xã hội cộng sản nguyên thủy, giờ đây nó được lặp lại theo biện chứng khoa học để
đi lên xã hội chủ nghĩa khoa học, xã hội cộng sản khoa học, thật sự chỉ là sự
áp đặt tư duy, úp bộ từ duy mà Mác tự khoái trá và tự lấy làm hãnh diện bởi vì
tin chắc một niềm tin như kiểu đinh đóng cột. Rõ ràng Mác đã sử dụng khái niêm
biện chứng phi lý và cuối cùng lại đi đến một kết luận hoàng toàn phản biện chứng,
đó là điều thực tế hài hước và thực chất phi lý tức cười nhất.
Nói chung lại, đây chỉ là bài viết khởi
đầu, khơi mào cho các bài viết khác đi sâu phê phán sắp tới về các trường phái
triết học từng có, về các nhà triết học nổi bật đã có, các lý thuyết triết học,
các quan điểm triết học nổi cộm đã có, nhất là trong đó có các học thuyết Mác,
Engels, Lênin đều là những học thuyết đã từng khống chế lịch sử nhân loại suốt
gần cả trăm năm, là điều ngày nay không thể không quan tâm đến. Bài viết khơi
mào này “Bàn về ý nghĩa Chân lý hay Chân lý là gì ?” tưởng cũng như một sự dẫn
nhập tổng quát nhất, tuy có phần khá bao quát, nhưng thật sự vẫn chưa hoàn toàn
đầy đủ, và nhiều phần chi tiết thú vị khác chắc phải còn cần chờ đợi để được bổ
sung tiếp thêm sau.
By VÕ HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét