Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

PHÊ PHÁN TÁC PHẨM "Ý THỨC HỆ ĐỨC" CỦA MÁC VÀ ENGELS

 

PHÊ PHÁN TÁC PHẨM “Ý THỨC HỆ ĐỨC”

(DIE DEUTSCHE IDEOLOGIE) CỦA MÁC VÀ ENGELS

 

Cuốn Ý hệ cộng sản của Mác thật ra chỉ có phần đầu là quan trọng nhất, còn phần sau chủ yếu chỉ là phần bút chiến giữa Mác cùng một số tác giả đương thời của ông ta, tức những người tư tưởng khác biệt, tuy cũng thuộc phái tả Hegel, như Bruno, Bauer và Max Stirner, phê phán lại Mác, hay Mác kình chống lại họ. Nó dài khoảng trên 400 trang tất cả nhưng nói chung nội dung hơi loãng, chưa thuộc dạng tác phẩm thật sự hoàn chỉnh mà phần lớn chỉ tập hợp lại nhiều bài đã viết trước đó. Nó ra đời năm 1945, nguyên bản tiếng Đức, sau đó được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Anh (L’Idéologie allemande, German Ideology). Tập trung phần đầu Mác phê phán về Ludwig Feuerbach, một triết gia Đức duy vật, nhưng khuynh hướng nặng về nhân văn tôn giáo. Thế nhưng đây lại là một trong những tác phẩm quan trọng nhất khi nói về Mác, chẳng khác gì cuốn Gia đình Thần thánh (La Sainte Famille) cũng chính yếu là các nội dung tranh luận, bút chiến vào thời kỳ đó của Mác. Có điều ở phần đầu của tập Ý thức hệ Đức này, thiết yếu Mác và Engels trình bày nền tảng căn cơ nhất về học thuyết của mình, nguồn cội của thuyết Mác xít hay là toàn bộ nội dung của quan điểm duy vật trong học thuyết này. Các tác phẩm này của Mác về sau Viện Mác-Engels-Lenin tập trung in vào trong bộ MEGA, tức Toàn Tập Mác Ănghen (Marx-Engels Gesamte Aufgabe) mà nói chung mọi người đọc đều biết.

Trước tiên trong phần mở đầu cho lời tựa (preface) của tác phẩm, Mác viết : “Die Menschen haben sich bisher stets falsche Vorstellungen über sich selbst gemacht, von dem, was sie sind oder sein sollen. Nach ihren Vorstellungen von Gott, von dem Normalmenschen usw. haben sie ihre Verhältnisse eingerichtet. Die Ausgeburten ihres Kopfes sind ihnen über den Kopf gewachsen. Vor ihren Geschöpfen haben sie, die Schöpfer, sich gebeugt. Befreien wir sie von den Hirngespinsten, den Ideen, den Dogmen, den eingebildeten Wesen, unter deren Joch sie verkümmern. Rebellieren wir gegen diese Herrschaft der Gedanken. Lehren wir sie, diese Einbildungen mit Gedanken vertauschen, die dem Wesen des Menschen entsprechen, sagt der Eine, sich kritisch zu ihnen verhalten, sagt der Andere, sie sich aus dem Kopf schlagen, sagt der Dritte, und – die bestehende Wirklichkeit wird zusammenbrechen.”

Hitherto men have constantly made up for themselves false conceptions about themselves, about what they are and what they ought to be. They have arranged their relationships according to their ideas of God, of normal man, etc. The phantoms of their brains have got out of their hands. They, the creators, have bowed down before their creations. Let us liberate them from the chimeras, the ideas, dogmas, imaginary beings under the yoke of which they are pining away. Let us revolt against the rule of thoughts. Let us teach men, says one, to exchange these imaginations for thoughts which correspond to the essence of man; says the second, to take up a critical attitude to them; says the third, to knock them out of their heads; and-existing reality will collapse”.

“Jusqu'à présent les hommes se sont toujours fait des idées fausses sur eux-mêmes, sur ce qu'ils sont ou devraient être. Ils ont organisé leurs rapports en fonction des représenta­tions qu'ils se faisaient de Dieu, de l'homme normal, etc. Ces produits de leur cerveau ont grandi jusqu'à les dominer de toute leur hauteur. Créateurs, ils se sont inclinés devant leurs propres créations. Libérons-les donc des chimères, des idées, des dogmes, des êtres imagi­naires sous le joug desquels ils s'étiolent. Révoltons-nous contre la domination de ces idées. Apprenons aux hommes à échanger ces illusions contre des pensées correspondant à l'essence de l'homme, dit l'un, à avoir envers elles une attitude critique, dit l'autre, à se les sortir du crâne, dit le troisième et - la réalité actuelle s'effondrera”.

Qua đoạn văn trên, có thể thấy được toàn bộ việc phê phán của Mác đối với các quan điểm của nhà tư tưởng tả khuynh Hegel cùng thời với Mác ở Đức khi ấy là như thế nào:

“Con người cho tới nay vẫn luôn có những hình dung sai lầm dối với chính họ, qua đó họ cho mình là gì hay mình cần phải như thế nào. Theo những hình dung đó của họ về Thượng đế, về con người bình thường như thế nào v.v…cùng hướng tới sự tương quan với họ như thế nào. Những sản phẩm đầu óc đó của họ đều thoát thai ra từ chiếc đầu của họ. Họ, những người sáng tạo lại phải phục phục trước những sự vật được sáng tạo ra bởi họ. Chúng ta cần phải giải phóng họ ra khỏi những quỷ ám đầu óc này, những ý tưởng, những giáo điều, những vật tưởng tượng này, hiện đang thành ra cái ách mà dưới nó họ phải cúi mình chịu đựng. Chúng ta phải nổi loạn chống lại chế ngự này của tư tưởng. Chúng ta cần cho họ thấy rằng phải thay đổi các hình ảnh tạo ra này để phù hợp theo yếu tính của con người đích thực, một người nói thế khi phê phán về những mối quan hệ của họ, người khác lại nói phải trục chúng ra khỏi đầu óc của họ, còn người thứ ba thì nói phải bẻ gãy đi ngay chính mối tương quan thực tại đó”.

Nhìn chung, Mác cho rằng nhóm các nhà Hegel tả khuynh đều chủ trương phê phán chỉ trích chính nội dung đầu óc, tư tưởng, quan niệm mọi mặt của con người, nhưng theo ông ta, họ đều thừa nhận mọi cái gì trong đầu óc con người đều chỉ do chính con người đó làm ra cả, như các ý tưởng về Thượng đế, về thân phận con người, về mọi tư duy của họ đối với các sự vật bên ngoài. Và đó cũng chính là cái ách do con người tạo ra để đè nén họ, vậy nên Mác bảo phải tìm cách nổi loạn, tức làm cách mạng, để thay đổi đi những điều như thế, giải phóng con người ra chính sự thống trị đó, để tìm về lại chính yếu tính hay bản tính chân thực, chính đáng nhất của chính con người, dù có người muốn phê phán như thế, có người muốn trục xuất mọi điều đó ra khỏi đầu óc của họ, có người lại muốn thay đổi chính thực tại khách quan đời sống đã tạo nên tất cả điều đó, tức mọi sai lầm trong tư tưởng đó. Nhưng Mác cho rằng những loại dạng các nhà ý thức hệ kiểu đó đều là những nhà tư tưởng kiểu duy tâm, tức chỉ nhằm giải quyết các vấn đề chung quanh bản thân tư tưởng con người, còn chưa quyết liệt mở rộng ra chính điều gì đó khác còn đáng nói nhất.

Đại để nội dung đầy đủ của phần này là thế này, là ý thức hệ nói chung, và ý thức hệ nói riêng ở Đức, trong đó, Mác trình bày về lịch sử, về sự tạo ra ý thức. Kế đó, nói về nền tảng thực của ý thức hệ, chia làm ba mục là những sự trao đổi và lực lượng sản xuất, các mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật về quyền tư hữu, những công cụ sản xuất và những hình thức của sở hữu tự nhiên và xã hội dân sự. Cuối cùng, là nói về xã hội cộng sản, việc tạo ra các sự trao đổi, và kết vào tiếp đó là những chủ đề về Feuerbach mà trong một bài viết trước đã được đề cập tới. Dù sao chăng nữa, tác phẩm Ý thức hệ Đức này, tuy quan trọng như là nền tảng nói chung của toàn thể học thuyết Mác, nhưng sự thật nó chưa hề được xuất bản thời gian Mác còn đang sống. mà chỉ về sau được tập hợp lại qua các bài bút chiến đã có của Mác và được hình thành sau khi Mác chết vậy thôi.

Mà nhìn chung các tác phẩm của Mác cũng vậy, phần lớn là các bài báo, bài bút chiến, tranh luận của ông về sau tập hợp lại, phần lớn nó chưa hề như những cuốn sách hoàn chỉnh nào cả, trừ cuốn ban đầu “Das Elend der Philosophie (Sự nghèo nàn của triết học), để chống trả lại cuốn của Proudhon “La philosophie de la misère” (Triết học về sự nghèo khó), hay bộ Tư bản luận, thật ra Mác cũng chỉ mới viết đầy đủ có cuốn đầu, còn các tập II, III đều là các bản thảo, tài liệu chưa hoàn chỉnh và về sau chính tay Engels biên tập lại để xuất bản. Bởi vậy ngày nay nếu đọc lại toàn bộ tác phẩm của Mác, trừ những người làm khoa học hay triết học muốn tìm hiểu riêng những vấn đề gì đó trong tư tưởng Mác, hay những người cộng sản muốn minh họa lại Mác theo nhiệm vụ của họ, phần lớn mọi người khác đều cảm thấy ngao ngán khi phải đọc lại các lập luận đã không còn gì mới mẻ, hấp dẫn mà đều trở nên nhàm chán vì lối lý luận kiểu giản lược, hay quy nạp kiểu một chiều mà Mác hay thường có.

Đại thể, hệ thống tư tưởng của Mác không ngoài là hệ thống tư duy với tiền đề khẳng định sẳn, kết luận khẳng định sẳn, còn mọi lập luận trung gian không ngoài nhằm liên kết hai điều đó lại với nhau, không cần có gì về chiều sâu phân tích khoa học hay triết học có liên quan đến các nội dung đó cả. Nó gần như một hệ thống các quan niệm, các quan điểm có sẳn, xác định sẳn, rồi cứ thế mà tổ hợp lại, gán ghép lại để cho thành đầu thành đuôi cách rành mạch mà không gì khác. Tức nó chứa đầy những cảm tính, thị hiếu để nhằm thuyết phục người khác, nhiều phần mang tính cách ngụy biện, hay tính cách áp đặt một chiều về lý lẽ, lập luận mà không nhằm mở ra lối lý giải độc lập, riêng biệt nào khác.

Như tiền đề hay tiên đề vật chất (duy vật, chỉ có vật chất là thuần túy và duy nhất tồn tại), Mác đặt ra như kiểu một định đề toán học, tức mặc cho nó mọi cái tất yếu, không cần và không thể phê phán nào khác. Hay điều kiện kinh tế (hoặc kinh tế xã hội) tác động duy nhất lên não bộ con người, uốn nắn não bộ con người, tạo ra mọi loại ý thức, tư tưởng, quan niệm của đầu óc mà ngoài ra không là gì khác. Kinh tế xã hội đó Mác gọi là hạ tầng cơ sở, và tư duy tư tưởng đó, Mác gọi là thượng tầng kiến trúc, cho muôn đời nó cũng chỉ như vậy, như là công thức hay quy luật bất biến duy nhất mà không thể nào khác hơn, không có gì ngoài ra khác hơn. Nói chung thì đó cũng chỉ là một loại tiên đề, nhưng tiên đề ở đây là tiên đề ý thức hệ, tiên đề của duy vật lịch sử, khác hơn hay cộng vào thêm cho tiên đề trước tiên đã có là tiên đề duy vật (hay duy vật biện chứng) như là nền móng duy nhất.

Như vậy đó thực chất chỉ là một hệ thống các tiên đề được định sẳn rồi Mác lý luận làm sao cho khớp lại với nhau một cách thật giản đơn, giản dị, không cần phải đòi hỏi được tư duy gì thêm cả. Thị hiếu duy vật, thị hiếu về một xã hội cộng sản, đó là hai điều chính yếu mà Mác muốn ráp lại với nhau, nhưng Mác cho đó mới là lý luận thực tiển, tức thực tế duy vật, dựa vào đời sống kinh tế chính trị cụ thể, hiện thực mà không phải chỉ duy trong tư tưởng như những nhà ý thức hệ tư sản, duy tâm mà Mác phê phán và lên án. Mọi lý luận khoa học và triết học của Mác thực chất đều không ngoài như vậy, tức nó không còn là khoa học và triết học đúng nghĩa nữa, mà kiểu chỉ là tư duy áp đặt nhằm vào mục đích phục vụ thị hiếu. Có điều Mác cho đó mới là tuyệt đối khoa học, bởi vì nó thiết yếu có “biện chứng” nằm trong đó. Tư duy hay quy luật biện chứng theo Mác có nghĩa là chân lý duy nhất khách quan tuyệt đối. Nhưng ý nghĩa và giá trị của “biện chứng” thực chất là gì, điều đó bản thân Mác và mọi người theo Mác đều không đặt vấn đề hay đều không hoặc không cần nghĩ tới.

Thật ra biện chứng là gì ? Đó là quan điểm đắp đổi, bổ sung về lý luận mà trước hết Socrate và Platon đã từng đưa ra vào thời kỳ cổ đại Hy lạp. Sự thảo luận giữa hai người, bù trừ thiếu sót qua lại mới vạch ra chân lý mà chân lý không thể là sự nhận thức chủ quan một chiều duy nhất nào đó. Biện chứng ở đây rõ ràng là biện chứng giữa hai hay nhiều chủ thể, chủ yếu trong tư tưởng nhận thức về chân lý khách quan ngoại tại và không thể có con đường nào khác. Đó chính là khái niệm đầu tiên mà con người xác định hay định nghĩa về nguyên tắc và quy luật biện chứng. Đây chỉ là một loại quan điểm triết học duy nghiệm thực tế thật sự.

 Nhưng đến Hegel thì khái niệm biện chứng không còn chỉ được hiểu kiểu đơn sơ theo khách quan thực tại như vậy. Hegel nâng lên một bậc, cho ý nghĩa tồn tại của vũ trụ tiên khởi là một loại bản thể Tinh thần nào đó thật sự, ông ta gọi là Der Geist (tiếng Đức), còn nói chung tiếng Anh, tiếng Pháp đều chủ yếu hiểu là The Spirit, L’ Esprit. Để cũng từ đó Hegel cho rằng quy luật biện chứng là quy luật cốt lõi và tiên quyết vốn có sẳn nơi chính bản thân của Tinh thần. Tức hiểu nôm na quy luật đó được diễn ra trong ba bước hay theo ba bước là Thesis, Antithesis, Synthesis. Hay là Tiền đề, Phản đề và Hợp đề. Nói cụ thể hơn, nó diễn ra liên tục kiểu phủ định, và phủ định tiếp tục (die Negation der Negation), tự vượt lên nó hoài (die Aufhebung), để từ hình trạng hay trạng thái ban đầu mà đi lên mọi kết quả cao nhất về sau này chỉ nhờ vào tính tự biện chứng như vậy (The negation of negaton, la négation de négation). Nhưng Mác cho triết học Hegel chỉ là triết học duy tâm, tư tưởng Hegel chỉ là tư tưởng duy tâm, nên Mác muốn lật ngược (renverser) Hegel lại. Có nghĩa Mác đem khái niệm vật chất (Materie, matter, matière) nhằm thế vào cho bản thể Tinh thần kia của Hegel.

Thế nhưng điều Mác quên rằng, Hegel quan niệm bản thể Tinh thần tự nó là năng lực tuyệt đối vô hạn, thế thì bản thân nó mới khả dĩ có thể tự biện chứng được. Còn Mác quan niệm hay hiểu vật chất chỉ là thứ thực thể tầm thường, vật thể, chất thể thuần túy, chẳng thể có thuộc tính, nội dung, năng lực nào có hơn chính nó, thế thì tự nó biện chứng làm sao ? Đây chính là điều khiên cưỡng đầu tiên, hay mẫu thuẫn, nghịch lý đầu tiên mà Mác vấp phải, làm cho học thuyết của Mác đã không có xương sống ngay từ đầu, hay chỉ là thứ xương sống giả tạo, vay mượn của người khác, bên ngoài đưa vào, và còn bản chất hoàn toàn trái ngược nữa. Kiểu làm thế nào một lò xo bằng tre có thể thay thế được một lò xo bằng kim loại, bản chất của đất, của nước, làm sao thay thế được bản chất của sự sống, bản chất của vật chất làm sao có thể thay thế được bản chất của tinh thần ? Đem râu ông nọ cắm cằm bà kia đó chỉ là sự cưỡng ép, buồn cười của Mác, mà qua đó Mác lại tự cho mình là khoa học để khiến nhiều người buộc phải lé mắt.

Mác viết : “Bewußtsein ist also von vornherein schon ein gesellschaftliches Produkt und bleibt es, solange überhaupt Menschen existieren”. “Und ferner, daß jede nach der Herrschaft strebende Klasse, wenn ihre Herrschaft auch, wie dies beim Proletariat der Fall ist, die Aufhebung der ganzen alten Gesellschaftsform und der Herrschaft überhaupt bedingt, sich zuerst die politische Macht erobern muß, um ihr Interesse wieder als das Allgemeine, wozu sie im ersten Augenblick gezwungen ist, darzustellen”. “Industrie und universelle Konkurrenz bedingten Kapital, dem reinen Privateigentum, das allen Schein des Gemeinwesens abgestreift und alle Einwirkung des Staats auf die Entwicklung des Eigentums ausgeschlossen hat. Diesem modernen Privateigentum entspricht der moderne Staat, der durch die Steuern allmählich von den Privateigentümern an sich gekauft”. “Der Kommunismus unterscheidet sich von allen bisherigen Bewegungen dadurch, daß er die Grundlage aller bisherigen Produktions- und Verkehrsverhältnisse umwälzt und alle naturwüchsigen Voraussetzungen zum ersten Mal mit Bewußtsein als Geschöpfe der bisherigen Menschen behandelt”.

“The production of ideas, of conceptions, of consciousness, is at first directly interwoven with the material activity and the material intercourse of men, the language of real life. Conceiving, thinking, the mental intercourse of men, appear at this stage as the direct efflux of their material behaviour. The same applies to mental production as expressed in the language of politics, laws, morality, religion, metaphysics, etc. of a people. Men are the producers of their conceptions, ideas, etc. -- real, active men, as they are conditioned by a definite development of their productive forces and of the intercourse corresponding to these, up to its furthest forms. Consciousness can never be anything else than conscious existence, and the existence of men is their actual life-process. If in all ideology men and their circumstances appear upside-down as in a camera obscura, this phenomenon arises just as much from their historical life-process as the inversion of objects on the retina does from their physical life-process”. “In direct contrast to German philosophy which descends from heaven to earth, here we ascend from earth to heaven”. “Communists do not oppose egoism to selflessness or selflessness to egoism, nor do they express this contradiction theoretically either in its sentimental or in its highflown ideological form; they rather demonstrate its material source, with which it disappears of itself. The Communists do not preach morality at all”. “They do not put to people the moral demand: love one another, do not be egoists, etc.; on the contrary, they are very well aware that egoism, just as much selflessness, is in definite circumstances a necessary”. “Form of the self-assertion of individuals. Hence, the Communists by no means want to do away with the "private individual" for the sake of the "general", selfless man. That is a statement of the imagination”. “Les hommes qui, en développant leur production matérielle et leurs rapports matériels, transfor­ment, avec cette réalité qui leur est propre, et leur pensée et les produits de leur pensée. Ce n'est pas la conscience qui détermine la vie, mais la vie qui détermine la conscience”. “La conscience est donc d'emblée un produit social et le demeure aussi longtemps qu'il existe des hommes. Bien entendu, la conscience n'est d'abord que la conscience du milieu sensible le plus proche les rapports sociaux existants sont entrés en contradiction avec la force productive existante; la force productive, l'état social et la conscience, peuvent et doivent entrer en conflit entre eux car, par la division du travail, le mode de production de la vie et le mode d'échanges qu'il implique”. “Le communisme n'est our nous ni un état qui doit être créé, ni un idéal sur lequel la réalité devra se régler. Nous appelons communisme le mouvement réel qui abolit l'état actuel. Les condi­tions de ce mouvement résultent des prémisses actuellement existantes”. “Pour le communiste réel ce qui importe, c'est de renverser cet ordre existant”. “La plus grande division du travail matériel et intellectuel est la séparation de la ville et de la campagne. L'opposition entre la ville et la campagne fait son apparition avec le passage de la barbarie à la civilisation, de l'organisation tribale à l'État, du provincialisme à la nation, et elle persiste à travers toute l'histoire de la civilisation jusqu'à nos jours”. “L'opposition entre la ville et la campagne ne peut exister que dans le cadre de la propriété privée”. “C'est à cette pro­priété privée moderne que correspond l'État modern”. “L'État étant donc la forme par laquelle les individus d'une classe dominante font va­loir leurs intérêts communs et dans laquelle se résume toute la société civile d'une épo­que, il s'ensuit que toutes les institutions communes passent par l'intermédiaire de l'État et reçoivent une forme politique”. “Dans l'opposition la plus ouverte avec toutes les autres classes, une classe que forme la majorité des membres de la société et d'où surgit la conscience de la nécessité d'une révolution radicale, conscience qui est la conscience communiste et peut se former aussi, bien entendu, dans les autres classes quand on voit la situation de cette classe”. “La révolution communiste par contre est dirigée contre le mode d'activité antérieur, elle supprime le travail et abolit la domina­tion de toutes les classes en abolissant les classes elles-mêmes, parce qu'elle est effectuée par la classe qui n'est plus considérée comme une classe dans la société, qui n'est plus reconnue comme telle et qui est déjà l'expression de la dissolution de toutes les clas­ses, de toutes les nationalités, etc., dans le cadre de la société actuelle”. “Elle est le seul moyen de renverser la classe dominante”. “Le communisme se distingue de tous les mouvements qui l'ont précédé jusqu'ici en ce qu'il bouleverse la base de tous les rapports de production et d'échanges antérieurs et que, pour la première fois, il traite consciemment toutes les conditions naturelles préalables comme des créations des hommes qui nous ont précédé jusqu'ici, qu'il dépouille celles-ci de leur caractère naturel et les soumet à la puissance des individus unis”.

Nói chung qua nội dung các đoạn trên, dù tiếng Đức hay dịch ra các tiếng Anh, Pháp, người ta đều thấy tràn ngập trong đó quan điểm hay tinh thần duy vật của Mác. Tức Mác cho rằng sự phân chia lao động trong xã hội cũng tạo ra lao động vượt khỏi phạm vi gia đình và chia xã hội thành vùng quê và thành thị, tạo ra sự khác biệt giữa xã hội bộ lạc, xã hội phong kiến, xã hội tư sản, và xã hội tư bản. Đó chẳng qua chỉ do định chế tư hữu tạo ra tất cả. Nó tạo ra giai cấp, bóc lột giai cấp, và từ đó mọi mâu thuẫn trong điều kiện xã hội phản ảnh vào trong óc não con người tạo thành mọi quan điểm ý thức hệ như tôn giáo, nhà nước, chính trị, triết học, tư tưởng v.v… mà không gì khác.

Hay ở đây quan điểm của Mác là quan điểm duy vật tuyệt đối, chỉ cho tồn tại vật chất là duy nhất tuyệt đối nên mới đề ra luận thuyết kiểu thế. Bởi Mác cho con người cũng chỉ là vật chất, sự sống hay óc não cũng là vật chất, sự vận động thần kinh là sự vận động vật chất, nên mọi ý tưởng, hoạt động cũng chỉ là vật chất. Điều đó cho thấy Mác không còn phân biệt gì giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, cái vật thể và cái tinh thần, thành đó hoàn toàn là quan niệm quá khích. Tức cấp con người cũng chỉ là loài vật, chỉ đấu tranh sinh tồn về mặt kinh tế vật chất, và tất cả điều đó đã phản ảnh vào trong và biến thành cả mọi khía cạnh não trạng của con người. Đây chỉ là kiểu lập luận nhân quả kiểu đơn giản, tầm thường, cốt yếu, chỉ là kiểu suy đoán một chiều mà không chứng minh khoa học cụ thể gì cả. Nhưng nếu tinh thần hoàn toàn không có, cũng chỉ là vật chất tầm thường, thế thì ý nghĩa và giá trị con người còn gì, ý nghĩa và giá trị xã hội còn gì để nhằm xây dựng xã hội “cộng sản” mà Mác cho đó mới là kiểu xã hội “tinh thần”, trút bỏ, thoát ly, giải phóng ra được mọi trạng thái vong thân của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản mà Mác đả kích, lên án. Rõ ràng đây cũng là tính cách hoàn toàn nghịch lý, mâu thuẫn, trống đánh xuôi kèn thổi ngược mà hệ thống quan điểm của Mác từ trước đến sau đều luôn luôn có.

Thành ra lý thuyết của Mác thực chất đều đưa đến mọi kết quả ngược trong thực tế. Như Mác kêu nhằm giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, nhưng cuối cùng lại chủ tương thiết lập độc tài vô sản, triệt hạ mọi tự do trong xã hội tư sản, thế thì còn giải phóng được gì nữa như con đường mà Mác chủ trương đi đến. Bởi ai cũng biết bản chất bản năng của con người, một khi độc tài đã thiết định rồi, làm sao nó có thể tự tiêu diệt được mà đi đến tự do, giải phóng. Ý Mác nói thời kỳ quá độ, một khi không còn tư hữu nữa, con người sẽ hào hứng phấn khởi say sưa, vô tư sản xuất và đến lúc nào đó vật phẩm sẽ tràn dư lênh láng, khiến thời kỳ quá độ vượt qua, xóa bỏ cả nhà nước, pháp luật nên cũng không còn chuyên chính nữa, hay chuyên chế tự diệt, thật chẳng khác gì  một quan niệm khờ khạo, ngây thơ và hoàn toàn không thực tế. Xã hội khi đã tự cùm chân mình rồi thì chắc chắn điều ấy khó thể thoát ra được, bởi tham vọng và bản năng ích kỷ của kẻ nắm quyền chẳng bao giờ hết.

Trong xã hội dân chủ, con người đã tiên liệu tất cả các điều ấy nên luôn chủ trương một nền chính trị tự do là hoàn toàn thế. Người ta tự thấy phải có tam quyền phân lập, phải có tự do báo chí, phải có đa đảng thì con người mới có thể chế ngự lẫn nhau, mới hòa hợp dân chủ được nhau, còn không thì xã hội phải hoàn toàn bế tắt, vì bản chất con người sẽ phải đưa đến khách quan như thế. Vậy mà Mác chủ trương hoàn toàn ngược lại. Bởi Mác chỉ tin tưởng vào đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp vô sản là trạng thái giai cấp cuối cùng trong lịch sử xã hội, tự nó có sứ mệnh lịch sử thiêng liêng là sẽ xóa mọi giai cấp trong đó có nó để đi đến xã hội không còn giai cấp nào cả. Đúng là một quan điểm hoàn toàn mê tín, ngây dại, phản thực tế, hay cũng hoàn toàn phản khoa học, phi khoa học chính là như thế. Bởi vì loài người khác loài vật là ngoài bản năng còn có lý trí. Lý trí là bản chất, năng lực tinh thần của con người, hay nói khác óc não con người chính là một chủ thể (Subjekt, subject, sujet) mà không phải chỉ là một trạng thái (Statut, status, état) hoàn toàn thụ động theo kiểu vật thể, vật chất. Đây cũng chính là một quan điểm khoa học và triết học thật sự ngờ nghệch, ấu trí, nông cạn, hay hoàn toàn thấp kém, quy giản trong quan niệm của Mác.

Nên nói chung lại, học thuyết Mác thực chất đã bất cập, nông cạn, thiếu sót, nông nỗi ngay từ đầu. Chính cái tiền để tiêu cực (tất cả chỉ là vật chất) và cái hậu đề hay kết quả tiêu cực (chuyên chính vô sản) đã làm triệt tiêu toàn bộ ý nghĩa, giá trị của học thuyết Mác, mà không mang lại bất kỳ kết quả nào đáng kể cả. Bởi thực tế nó chỉ làm ngưng trệ, thụt lùi về kinh tế, làm bế tắt, hổn loạn về chính trị, làm giật lùi về xã hội mọi mặt thế thôi, trong đó kể cả giáo dục và văn hóa các mặt. Bởi vì thực tế nó chỉ tạo ra kiểu xã hội hoàn toàn tiêu cực, con người bị chèn ép, khống chế lẫn nhau vì không có tự do, tạo nên xã hội xuống cấp, vì thụ động và trở thành nô lệ ý thức, nghèo nàn, ngưng trệ nhận thức, hay tệ hơn hết là sự phá nhân cách để có khuynh hướng phải tha hóa, nịnh nọt để cốt nhằm tồn tại cách phi lý nhất, đê tiện, phi nhân cách là điều thường thấy của cá nhân con người trong xã hội.

Hay để kết luận, có thể nói khoa học và triết học là cốt yếu tìm ra những nguyên lý khách quan, đầy đủ, trọn vẹn, bao quát nhất cho con người và xã hội. Điều đó không bao giờ ngừng lại mà luôn luôn phát triển, tiến tới. Các nguyên lý đó là các quy luật khách quan, tự nhiên trong vũ trụ vật chất, thiên nhiên, trong bản thân con người nói chung cũng như trong toàn xã hội và lịch sử loài người nói chung. Mục tiêu chính yếu của khoa học và triết học không phải cốt yếu chỉ mô tả hay ghi nhận thụ động mọi đối tượng sự vật nhận thức mà luôn cố tìm ra các nguyên lý, các quy luật khách quan chi phối chung chính là như thế.

Quan điểm của Mác bất chấp mọi chiều hướng đó mà nhằm chỉ kiên định cảm tính, thị hiếu bản thân mình để thay thế hẳn vào, tức nó chỉ chủ quan mà không phải hoàn toàn khách quan, bởi vậy sự thất bại của nó trong mọi vấn đề xã hội chỉ là tự nhiên, hay mọi sự kết thành của nó đều hoàn toàn giả tạo, cưỡng chế mà không bao giờ là bản thân đích thực. Cả chính quan niệm về “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa cộng sản” trong tươn lai cũng vậy, tức nó chỉ là hình ảnh không tưởng dệt nên mà không bao giờ trở thành thực tế khách quan, hiện thực được cả. Mác chỉ làm phung phí xã hội, phung phí lịch sử về rất nhiều mặt, đó không những là sự lỗi lầm mà còn là tội lỗi của Mác trong lịch sử nhân loại đã qua nếu có thể nói được như vậy. Bài học đó mọi người đều đã thấy và nếu không học ra được thì cũng chính là phần trách nhiệm của Mác. Những người đồ đệ của Mác, hay những người cộng sản, thật ra họ đều chỉ là nạn nhân vô tình tất cả, chỉ trừ ra một thiểu số rất nhỏ hữu ý nào đó, mà mục đích là nhằm lợi dụng chính chủ thuyết đó của Mác để thỏa mãn các tham vọng quyền lực, lợi ích ích kỷ, mang tính cá nhân tự nhiên của mình.

 

By VÕ HƯNG THANH

          (30/8/2021) 

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

VỀ MỘT LỜI NÓI CỦA NGƯỜI XƯA:

“TẬN TÍN THƯ TẮC NHƯ VÔ THƯ”

 

Đây là lời nói đã nổi tiếng ngay từ xa xưa ở nước ta và chắc không bậc tiền nhân trí thức nào không biết đến. Là lời nói của vị hiền triết Mạnh tử Trung Quốc (372-289 TCN) : “Tận tín thư tắc như vô thư”. Có nghĩa đọc sách mà tin hết vào sách thì thà đừng đọc sách. Câu này thật sự cũng nói lên tinh thần dân chủ và ý thức tiến bộ mà cách đây gần 25 thế kỷ người xưa từng biểu thị. Mạnh tử tự coi mình như học trò của Khổng tử dù Mạnh tử sống sau Khổng tử (551-479) trên cả trăm năm. Có nghĩa Mạnh tử đọc sách Khổng tử không phải chỉ thụ động mà ông ta đã chỉ tâm đắc phần nào tinh hoa cốt yếu nhất và về sau đã phát triển lên thành học thuyết riêng của mình cũng hoàn toàn ý nghĩa và giá trị trong phái Nho gia.

Đọc sách mà tin hết vào sách là sao ? Đó chỉ thành con mọt sách, con vẹt mà không có gì khác. Ở đây hiểu rộng ra đọc mọi tài liệu mà không hẳn chỉ là sách vở. Những tài liệu sách vở đó dĩ nhiên do những người cùng thời hay đi trước ta đã viết và người đến sau hay người tiếp thụ chỉ có việc đọc lại. Bởi đọc nhằm tiếp nhận ý nghĩa, giá trị tài liệu và thông tin trong đó mà không gì khác. Cho nên ý nghĩa đọc để làm gì, đọc như thế nào, đọc nhằm mục đích ra sao mới là tính chất quan trọng hơn cả.

Thật ra mọi nguồn tài liệu đang mang ý nghĩa thụ động, bởi mọi cái gì đó đã thành hình, đã viết ra rồi thì không bao giờ còn thay đổi nữa trừ khi nó được thay bằng một tài liệu mới khác hơn và cũng cứ như thế. Như vậy vấn đề không chỉ là nội dung, tính chất tài liệu mà chính là ý nghĩa, mục tiêu và tính cách người đọc. Đọc với tinh thần ý thức phê phán nhận xét để chọn lọc tiếp nạp hay đọc chỉ để ghi nhớ thụ động, nắm bắt, quán thông hoàn toàn thụ động, nô lệ mới hoàn toàn khác biệt.

Bởi tất cả mọi nguồn tài liệu đều có thể được truyền thụ từ người khác để viết ra, được tham chiếu cái vốn có từ một nơi nào đó, có hay không có ý đồ nào đó của người viết ra, nên tính chất đầy đủ hay thiếu sót, vô tư khách quan hay thiên kiến chủ quan của người tạo dựng ra nó đều không phải hoàn toàn không có. Sự thẩm định đánh giá tài liệu mình tiếp nạp như vậy đều luôn luôn cần thiết, bởi ý thức và năng lực trí óc con người không bao giờ là sự phản ánh thụ động suông mà phải qua năng lực chọn lọc, tiếp thu của họ.

Sự ích lợi của việc đọc là không thể thiếu, nhưng sự đánh giá, sàng lọc điều đã đọc cũng hoàn toàn không kém quan trọng hơn. Năng lực của người viết ra tài liệu là một điều, còn năng lực của người tiếp nạp và sàng sảy ý nghĩa, giá trị của vấn đề trong cái mình đọc cũng đều cần thiết chẳng kém. Điều này có nghĩa cái sau còn quan trọng hơn cả cái trước, bởi vì mức chứa đựng hay sức chứa đựng của nó ra sao, rộng lớn hơn hay nhỏ hẹp hơn thế nào, và cả khả năng lượng giá thế nào về cái trước mới là điều đáng kể nhất.

Người có trình độ nào đó hơn tài liệu mà mình tiếp đọc thì điều đó quá dễ dàng, chẳng nói làm gì. Nhưng nếu người tiếp nạp có trình độ hiểu biết nắm bắt thấp hơn, thì đó quả là sự nhiêu khê không thể nào lường hết trước được. Bởi vậy mọi sự tuyên truyền, dẫn dụ, lôi kéo chỉ có thể áp dụng vào các đối tượng thấp kém hơn mình, non nớt, ngây thơ, khờ khạo hơn mình mà không bao giờ ngược lại.

Nhưng thông thường mọi tài liệu truyền bá trong cuộc đời thực tế hay cuộc sống là gì nếu không phải là tài liệu viết, in ấn, tài liệu được định hình dưới dạng nào đó như một vật phẩm chẳng hạn, vẫn đều mang những ý nghĩa, giá trị tích cực hay không lại tùy vào bản thân chính nó và tùy vào sự giao thoa với người tiếp nhận. Điều đó thường xảy ra trong trao đổi thông tin, tuyên truyền, giáo dục, và giao lưu nhận thức sách báo, sách vở nói chung.

Và cả khi nói về những tài liệu thường có trong cuộc sống, đều vẫn không đi ra ngoài các lãnh vực như thường nghiệm, tức là mọi kinh nghiệm đời thường, lãnh vực văn học nghệ thuật, lãnh vực khoa học kỹ thuật, và cuối cùng cao xa hơn là lãnh vực tư duy triết học. Ví dụ trong văn học đọc và hiểu một bài thơ tới đâu, đánh giá nó như thế nào, một bài văn hay tác phẩm văn học cũng thế, các phương diện nghệ thuật khác cũng thế, như âm nhạc, điêu khắc v.v… đều có sự giao thoa nhất định giữa bên cung cấp hình ảnh, thông tin và bên tiếp nhận hình ảnh thông tin. Hiểu hay không chính xác đối tượng là một việc, còn có bị mê hoặc, lừa dối hay không về phần đối tượng lại là việc khác. Mọi âm mưu lợi dụng dẫn dắt đều có thể xảy ra và mọi khả năng, năng lực phê phán mới thật sự mang lại tai hại hay lợi ích.

Thật ra văn bản cũng chỉ là một hệ thống một tập hợp ký hiệu nào đó giống như mọi hệ thống ký hiệu khác. Có những loại ký hiệu trong tự nhiên hoặc các loại ký hiệu nhân tạo. Chẳng hạn ký hiệu về thời tiết qua bầu trời, ký hiệu nào đó mà một bộ lạc thể hiện khi vào cửa ngõ trong rừng sâu của họ, các loại ký hiệu giao thông mà ta thường thấy trên các hệ thống đường sá, nên văn bản cũng là những hệ thống ký hiệu ngôn ngữ viết phổ biến nhất. Tất nhiên mọi loại ký hiệu khách quan thì không nhầm lẫn, không có mục đích tạo lầm lẫn, trừ khi bị đánh bẩy bị dối gạt theo các ý đồ mục đích riêng tư nào đó.

Riêng thi ca là một loại ngôn ngữ nghệ thuật tinh tế và hình tượng nhất, nên người hiểu thi ca phải là người có tâm hồn nghệ thuật thi ca, cũng như người sáng tác thi cả là người có trình độ cao thấp khác nhau tùy theo tài năng mình có. Người bình dân thì ít hiểu sâu tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du giống như khi hiểu chuyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Cả khi đọc một câu chuyện văn học nào đó cũng vậy, tùy theo tài năng và trình độ người viết mà độc giả có thể có những mức thưởng ngoạn khác nhau. Ngay khi đọc một câu văn, có người hiểu dưới hai hàng (underlines) nhưng có người lại không. Thành nên ký hiệu văn chương văn học đã là phong phú, nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả. Văn chương văn văn học tuyên truyền kiểu rẻ tiền dối gạt nhằm mục tiêu mục đích chính trị thật sự khác hẳn với văn chương nghệ thuật nhân bản đúng đắn luôn chỉ vì chân lý sự thật và lòng yêu thương nhân ái.

Đặc biệt lãnh vực khoa học kỹ thuật, phần lớn hệ thống ngôn ngữ ở đây quy chiếu vào các khái niệm, công thức chuyên môn, các quy luật trừu tượng khách quan của thiên nhiên hoặc xã hội, như vậy phải có tri thức chuyên môn sâu mới có thể hiểu hoặc nắm bắt sâu xa được. Có điều khoa học kỹ thuật có thể lầm lạc, sai lầm, nhưng không thể nào tỏ ra gian dối, lừa mị được. Nó hoàn toàn khác với chính trị và nhiều lãnh vực đời sống khác. Bởi nó được xây dựng trên nền tảng của lý trí, không phải trên nền tảng cảm tính, thị hiếu, hay ngay cả cảm thức. Nó cũng khác với văn học, bởi văn học có thể có nội dung tư tưởng cho dù nội dung tư tưởng đó chỉ thuộc mức thường tình, không vươn tới được mức tư duy trừu tượng như trong triết học.

Vậy nên lãnh vực cuối cùng quan trọng nhất chính là lãnh vực tư duy tư tưởng triết học. Và câu mà Mạnh tử ngày trước nói chính phần lớn áp dụng vào cho phạm vi này hay nói chung là phạm vi ngôn ngữ, nội dung văn học. Đây chính là ý nghĩa nhiêu khê nhất bởi nó vừa trừu tượng vừa phức tạp, rất dễ khiến cho lầm đường lạc lối, nếu trình độ non kém thường có thể bị lầm lạc nếu tin tưởng quàng xiên non dại. Ngay từ thời cổ đã có những loại ngụy thư, giả cổ, tạo cho người đọc lầm lẫn tưởng là ý nghĩa hoặc giá trị thật. Giả cổ hoàn toàn khác với thác cổ. Giả cổ là giả tạo, giả dối điều cổ, còn thác cổ là mượn lời mượn ý của người xưa để nói điều nay. Khổng tử là loại thánh nhân trung thực nên Khổng tử không hề giả cổ mà có thể chỉ là thác cổ.

Do vậy Mạnh tử không hề nghi ngờ Khổng tử mà là đọc hiểu với sự chọn lọc để tâm đắc Khổng tử và tự nhận Khổng tử là thầy của mình dù vị thầy này sống trước ông trên cả trăm năm. Nhưng ngay cả xã hội hiện đại, sự lừa dối về tư duy tư tưởng không phải không có mà còn ngược lại là đàng khác. Sự đạo thơ đạo văn vẫn thường xảy ra như cơm bửa. Đó là tại sao, tại khả năng ngu dốt, tại tính háo thắng khoe mẽ, tại sự gian dối, vụ lợi, lừa lọc trong chính tâm lý thấp kém của con người. Nên thường người hiểu biết, có năng lực trình độ chiều sâu thì ít khoe khoang, khiêm tốn, có óc cầu thị, con người nông cạn, thấp kém, ngu dốt thì hoàn toàn trái lại. Đó cũng là lý do người trí thức thực sự thì thường đúng đắn, trung thực, còn người ít trí thức thì thường mạo nhận, lừa dối, lường gạt người khác, chỉ là điều hay dễ xảy ra. Có nhiều người vì mặc cảm nào đó hay tự phô trương mình như người hiểu biết, trí thức, thậm chí kiểu nhà tư tưởng, triết gia, nhưng thực chất đều dỏm, là điều hay hiện tượng đã từng có thấy.

Cho nên những nhà tư tưởng, nhà triết gia, nhà khoa học chân chính đều luôn luôn ngay thẳng và trung thực, làm mọi người đều có thể nhất thiết hay tuyệt đối tin cậy được. Như Socrate, Khổng tử, Mạnh tử, Thích ca, Lão tử, Trang tử, Jesus, Einstein, Newton, v.v… chẳng hạn. Họ thật sự đều là những bậc chính nhân quân tử, kể cả những bậc thánh nhân. Như Socrate, nhà tư tưởng triết học cổ Hy lạp từng nói câu nổi tiếng “Điều tôi biết rõ nhất là tôi chưa biết gì cả”. Bởi tư duy thì không biết lừa dối còn con người có thể lừa dối là sự có thật. Có người không biết gì cả mà tưởng là hay bịp bợm là mình biết tất cả, đó là điều trong cuộc sống vẫn không hề thiếu. Thành nên mọi sự lừa dối thường là có ý đồ mà cả khi chỉ là sự ngây thơ, nông nỗi nữa. Vì thế việc tin người khác một cách “sái cổ” có khi là một sự tồi tệ nhất mà con người thường hay gặp phải.

 “Tận tín thư tắc như vô thư” chính là lời dạy tuyệt vời nhất mà Mạnh tử, nhà tư tưởng trứ danh Á Đông ngày xưa đã từng thố lộ. Đọc sách không thể tin hẳn vào sách đó là thái độ sáng suốt, khôn ngoan nhất mà ngày xưa tiền nhân ta đã vẫn thường bảo ban con cháu. Bởi vì có thể có điều mình chưa hiểu hết mà đem tin ngay khác chi là sự nông cạn, thiếu sót, hời hợt, ngu dại. Đó là chưa nói những loại ngụy thư, tuyên truyền dối gạt mà đi tin hết có khác nào đem bán lúa giống. Cho nên người giả cả, kinh nghiệm thì thường chin chắn, thận trọng, trong khi người trẻ, ít hiểu biết thì thường hợm hĩnh, tự tin, nông nỗi, khoác lác thì rất dễ sa hố đều là như thế. Bởi đọc sách mà tin tưởng tuyệt đối thì thà không có sách, đừng đọc sách còn hơn, vì đó vẫn là cái sống hồn nhiên, tự tại, chưa hề bị nhiễm độc, chưa hề bị tacs động sai trái từ ngoài vào nếu tin vào những loại sách vở phỉnh gạt lừa dối.

Vậy nên đọc sách trước tiên luôn cân phải có óc phân tích và so sánh đối chiếu với những thực tại nào đó mà mình từng có kinh nghiệm hay từng hiểu biết chung quanh. Phân tích là óc phán đoán, đào sâu về những thông tin, nhưng ý nghĩa, hay kiểu lý giải nào đó mà nó chứa đựng. Có như thế mới hội đủ khả năng lựa chọn chủ động, chọn lọc hay loại bỏ những gì hữu ích hoặc vô bổ, hay tai hại. Đây là khả năng thấm lọc của ý thức và nhận thức mà luôn người đọc đều cần phải có. Điều đó cũng giúp tránh được mọi sự ngụy tạo, tuyên truyền lừa dối không đúng đắn. Nên kết quả đọc sách luôn luôn là kết quả hai chiều. Nguồn đọc có phải lành mạnh, trung thực, đúng đắn không, và năng lực chọn lọc đánh giá có đủ bao quát và chiều sâu không, thì kết quả đem lại mới thật hữu ích cũng như cần thiết. Tức một xã hội lành mạnh là xã hội trong đó mọi thành tố, thành viên đều thật sự lành mạnh, không có bất kỳ sự thiên lệch hay dối gạt nào, nếu không chỉ đều là xã hội hay môi trường vẫn không lành mạnh. Một sinh vật bơi hay sống trong môi trường bẩn, tất nhiên không thể nói nó hoàn toàn trong suốt, sạch sẽ, dù cho bản thân tuyệt đối của nó ra sao. Cá thể và môi trường chính là thuộc dạng tương quan kiểu vậy.

Nên người sáng suốt đọc sách dù qua bất kỳ phần đoạn hay câu kéo nào, cũng có thể thẩm lượng, đánh gia được mọi ý nghĩa, giá trị của nó tùy theo năng lực nhận thức sáng suốt của mình. Như nó có trái ngược điều gì không, có tự mâu thuẩn trong bản thân của nó không, ý nghĩa và giá trị nội dung nó mang lại cho lợi ích hay không lợi ích của mình thế nào, nó có trung thực, đúng đắn không, hay chỉ là mang ý nghĩa dẫn dụ và lừa dối theo một hướng giả tạo nào đó. Điều đó không những tùy khả năng, trình độ nhận thức, mà còn tùy vào năng lực trí thông minh của người tiếp nhận.  

Không ai sinh ra đời mà biết được tất cả. Thế nên học tập và đọc sách luôn luôn là điều thiết yếu. Đó là ý nghĩa của giáo dục và văn hóa. Sách chính là ông thầy mọi nơi mọi lúc mọi vấn đề đối với mọi người không phân biệt. Thế nhưng giáo dục thế nào và đọc sách thế nào mới là điều quan trọng nhất. Nếu giáo dục chỉ nhằm nhồi nhét, nhồi sọ một chiều, nếu đọc sách cũng chỉ bị tuyên truyền lừa dối kiểu khác, có nghĩa đều là môi trường không lành mạnh của xã hội, khi ấy hỏi giáo dục và đọc sách cũng còn có nghĩa lý gì. Trong khi đầu óc con người không phải chỉ là bộ nhớ, không phải chỉ là túi sách, mà con người chính là chủ thể nhân cách, một đơn vị sống, thành nó cần sự độc lập tự do, tự chủ, không thể bị biến thành bất kỳ thứ công cụ thụ động nào.

Tư tưởng tự do, ý thức tự do, nhân cách tự chủ, đó mới là giá trị, phẩm cách con người tối hậu mà không thể nào khác. Con người không thể bị rập khuôn theo bất kỳ “lý tưởng” nào mà không tự nó lựa chọn. Mọi sự áp đặt, rập khuôn người khác vì bất kỳ lý do gì, bất kỳ mục đích gì thực chất đều hoàn toàn giả tạo, giả dối và không có bất kỳ ý nghĩa hay giá trị nào cả. Giáo dục không phải là uốn nắn phản tự nhiên, mà giáo dục là vun xới, đào tạo, phát huy mọi nhân cách tự nhiên của chính con người. Tinh thần con người, dù cá thể hay xã hội đều có thật, đó là điều không thể phủ nhận hay chối bỏ được. Tinh thần chính là cái ý thức nhân bản tồn tại bên trong con người mà không bất kỳ loài vật nào có thể có được. Nên giáo dục là nhằm vun xới, không phải nhằm thay thế nó bởi bất kỳ cái gì, đọc sách là vào phân, bón phân cho nó, cái cây nhân bản đó, không phải tạo ra bản thân nó bằng mọi thứ phân rác đã được bón vào.

Nên năng lực nhận thức, khả năng trí thức, hiểu biết của con người là điều quan trọng và ý nghĩa tối cao nhất. Thân xác con người không hiểu biết gì cả, nó chỉ có cảm giác kích thích đưa vào từ bên ngoài, nhưng óc não con người mới chính là chủ thể nhận thức. Con người nếu chỉ có thân xác mà không có nhận thức, đều chỉ là cách sống của động thực vật, cách sống sinh học mà không có ý nghĩa hay giá trị nào cao hơn. Nhưng con người được đào tạo qua giáo dục lành mạnh, qua ý thức và nhận thức phát triển tương đối hay đầy đủ nhất, đó mới chính là con người được hoàn thiện theo các cách hoặc các mức khác nhau, và đó mới là con người mang ý nghĩa hay giá trị đầy đủ ý nghĩa nhất.

Đương nhiên mỗi cá nhân đều được sinh ra trong xã hội. Chính môi trường xã hội là môi trường nền tảng chung nhất, cá nhân không bao giờ tách ra khỏi xã hội, cũng không bao giờ tách rời hay thoát ly ra ngoài được nó theo nghĩa chung nhất. Có nghĩa thông thường cá nhân sinh ra là đã có sự tiếp xúc, giao tiếp với xã hội chung quanh trong những chừng mực nhất định nào đó, hưởng hưởng dụng nền văn hóa truyền thống đã có trước đó, đã ngang với mặt bằng xã hội chung vốn có cơ bản nhất, với những sự hiểu biết chung có sẳn mà không thể khác. Cho nên giáo dục và văn hóa đọc chẳng qua là đào tạo, là đưa cá nhân lên những mức lý tưởng và cần thiết hơn vậy thôi. Cá nhân được giáo dục, đào tạo trở thành những con người có giáo dục đào tạo, khác hơn những con người kém học và thất học còn ngoài ra không hề có sự khác nhau về nhân cách hay hiểu biết thông thường nào cả. Bởi mặt bằng cơ bản luôn luôn ngang nhau, chỉ khác nhau là chồng lầu lên cao thấp vậy thôi.

Chính bởi thế ý thức, tinh thần, nhận thức, sự hiểu biết, tư duy, tư tưởng con người là cái cao nhất. Đó chính là tiêu biểu chiều cao cho tầm vóc con người. Kinh tế, vật chất chẳng qua chỉ là cái chân, cái nền tảng, còn trí tuệ tinh thần mới là tiêu biểu cho ý nghĩa, năng lực, giá trị của người trí thức, mới là toàn thể bộ phán tinh hoa thiết yếu của dân tộc đó. Khi Phan Chu Trinh nói dân trí, dân khí, dân sinh, đó là quan điểm đích thực của nhà yêu nước chân chính, ông cũng là nhà giáo dục sáng suốt, đồng thời cũng là một trí tuệ, một vĩ nhân của dân tộc. Trong khi đó Mao Trạch Đông cho trí thức không bằng bải phân, đó là kiểu chính trị thủ đoạn một chiều, tầm thường thấp kém không chút tư duy nào cả.

Bởi chính tư duy, tư tưởng, nhận thức văn minh, văn hóa mới làm con người phân biệt với loài vật. Còn ý nghĩa thân xác thì mọi sinh vật đều thảy giống nhau. Con người ăn thức ăn cao cấp cũng chỉ cảm thấy hạnh phúc như con voi ăn mía cây hay con gà vịt đớp được con sâu con bọ nào đó thôi. Cảm giác lạc thú và đau đớn ở mọi sinh vật đều thảy như nhau, cho dù cá tính sinh thái và môi trường chúng sống có thể là khác nhau. Nên cái cao nhất chính là nhận thức tự do, tư tưởng tự do, hiểu biết tự do của con người. Chính điều này mới làm nên khoa học, kỹ thuật, và cả tư duy triết học mà chỉ loài người mới có. Nhưng Mác quy tất cả điều đó đều là bản thân “ý thức hệ”, tức mọi tư tưởng chỉ đều trạng thái vật chất, tức sự vận động vật chất, được chuyển thái hay phản ảnh hay quyết định ra do bởi hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể mà cá nhân đó sống, hay đích thật ra chỉ do mối quan hệ giai cấp, quan hệ lực lượng sản xuất và tương quan sản xuất trong xã hội đó tạo nên. Đó chỉ phán đoán suông mà không bất kỳ phân tích lý giải cụ thể hay khoa học nào cả. Chỉ đi từ tiền đề hay tiên đề đặt sẳn, tất cả mọi tồn tại đều chỉ là vật chất vậy thôi. Từ tiền đề đó diễn dịch ra mọi kết luận liên quan về não trạng con người và não trạng xã hội, thật là từ xưa đến nay chưa có loại tư tưởng nào kiểu như thế.

Mặt khác, Mác còn đi từ kết luận tiền chế, dựa theo cảm tính và thị hiếu, là xã hội cộng sản tất yếu tốt đẹp trong tương lai, như là kết quả tất yếu của quy luật biện chứng trong lịch sử tự nhiên và xã hội, để từ đó phăng ngược trở lên thời kỳ quá độ, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp, tư sản và bóc lột, sự phi lý của quyền tư hữu, của tiền tệ, của tư bản công nghiệp, của thị trường, của kinh tế tư nhân v.v… và v.v… như chu trình khép kín từ tiên đề vật chất đã nói và hậu đề “xã hội cộng sản” phải có, để Mác cho đó là tư duy khoa học khách quan duy nhất dựa trên nền tảng biện chứng của thực tại lịch sử qua tự nhiên và xã hội.    

Như vậy cũng có nghĩa Mác phủ nhận tất cả mọi chân lý khác trong cuộc đời, như chân lý tôn giáo, chân lý triết học, chân lý khoa học khách quan nói chung trong tự nhiên cũng như xã hội. Mác chỉ công nhận duy có một điều là sự tồn tại của vật chất, của sự vận động vật chất, và của quy luật biện chứng thế thôi. Chỉ có điều ai đọc toàn bộ tác phẩm của Mác, thông suốt cả toàn bộ hệ thống tư tưởng, tư duy của Mác, sẽ nhận thấy ra điều tiền đề và kết luận của hệ thống đó là hoàn toàn mâu thuẫn, nghịch lý, trái ngược nhau. Bởi vì nếu tồn tại vật chất là tuyệt đối duy nhất thì do đâu nó có. Bởi nếu vật chất tự có, tồn tại tự ên, thì đó là điều phi lý, vật chất tự nó đã trở thành tự sáng tạo, sáng chế ra mình trong khi nội dung thuộc tính của nó chẳng có gì cao chính bản thân trì lực của nó cả. Ví thử tảng đá triệu năm cũng chỉ là tảng đá đó đâu thể phát sinh gì khác nếu không nói có thể bị phong hóa và tiêu tan đi để trở thành bụi đất.

Có nghĩa khái niệm vật chất và khái niệm biện chứng là hai khái niệm hoàn toàn mâu thuẫn, trái ngược nhau mà Mác không thấy, trong khi hai khái niệm mâu thuẫn hay ngược nhau thì hoàn toàn không thể nào biến chuyển cho nhau, như lửa với nước, hư vô và hiện hữu, tinh thần và vật chất v.v… Vả chăng nếu vật chất hoàn toàn không có nội dung cao cả nào cả, thì cơ sở nào nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, nhằm xây dựng thiên đường lý tưởng như Mác nói. Không ai có thể biến đổi số không thành mọi số khác nếu bản thân chỉ luôn luôn tự nó, không có gì hơn nội hàm của nó. Biến cái thấp nhất thành cái cao nhất trong khi chẳng có mối liên hệ nào ở giữa, tức vật chất thấp kém và ý nghĩa giá trị tinh thần cao cả trong tương lai, thật chỉ hoàn toàn phi lý, một thứ lô-gích không có cơ sở khách quan, phi khoa học, hay thực chất, thực tề đều hoàn toàn hư ảo, tưởng tượng, hoặc hoàn toàn hư vô, không tưởng. 

Như vậy nếu đọc Mác mà hoàn toàn không thấy ra hết tất cả mọi mâu thuẫn, nghịch lý đó trước tiên nơi Mác thì liệu đọc để làm gì, đọc để ích lợi gì. Đó chỉ còn là niềm tin mê tín, không có căn cơ, không có cơ sở, chỉ đều huyễn tưởng mơ mộng, chỉ là niềm tin không xác quyết được mọi mặt liên quan, đó có khác gì niềm tin của tôn giáo trong khi đây lại là một thực tại đời sống xã hội hoàn toàn thiết thân, cụ thể, thì đó có phải cũng như kiểu câu người xưa đã nói : “Tận tín thư tắc như vô thư” có phải thế không ? Cho nên nếu đọc sách mà không biết phê phán chỉ là lối đọc vẹt, lối đọc nô lệ, mờ mịt chẳng khác gì ngu. Có người nói đọc Mác phải hiểu “đúng” về Mác, như kiểu Lữ Phương trước đây từng huênh hoang bảo, Lê Duẩn, Trường Chinh v.v… chẳng có ai “hiểu” Mác cả, ý nói là phải hiểu “đúng” Mác như cách Lữ Phương hiểu, thật sự chỉ là huênh hoang và rồ dại, bởi vì hiểu “đúng” Mác để làm gì, khi nếu chính bản thân Mác đã từng không đúng ? Tính chất buồn cười ở đây có lẽ là thế, xin để tất cả mọi người cùng nhận xét và phê phán.

 

By VÕ HƯNG THANH

              (28/8/2021)

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

 

VỀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI,

GIẢI PHÓNG LOÀI NGƯỜI

 TRONG LỊCH SỬ XÃ HỘI CỦA LOÀI NGƯỜI

 

Hành trình tư tưởng trong suốt cuộc đời của Mác là như thế này: tuyệt đối duy vật và tuyệt đối vô thần để cuối cùng nhằm giải phóng toàn thể nhân loại cho suốt lịch sử của loài người. Dĩ nhiên hai mệnh đề đầu phải nhất thiết đi cùng nhau, không thể cái này mà không có cái kia. Và tiền đề đó chính chính nhằm mục đích sau cùng của Mác. Vậy nhưng qua suốt các tác phẩm của mình không dưới nhiều nghìn trang, cuối cùng Mác thố lộ “Tôi không phải người Mác xít” (Je ne suis pas un marxist). Như vậy là thế nào ? Đó là điều thiết tưởng ngày nay cần trình bày ra cặn kẽ sau đây.

Thật ra muốn “giải phóng” con người điều trước tiên điều trước tiên cần phải biết con người là gì. Bởi nếu không biết đích thực bản chất cái gì đó như thế nào, làm sao nói việc xử lý sự vật đó hiệu quả được. Đối với Mác con người thật ra cũng chỉ là loài động vật, do từ tiến hóa vật chất mà ra, cả óc não con người vẫn chỉ thuần túy là sự hoạt động của vật chất, nói khác đi nguồn gốc và bản chất của loài người chỉ là vật chất, vậy thì từ “giải phóng” mang ý nghĩa ra sao ? Theo Mác đó chỉ là giải phóng ra khỏi giai cấp xã hội trong lịch sử, nhằm tiến đến xã hội không giai cấp, tức tuyệt đối đồng đẳng chỉ như là vật chất giống nhau chăng ? Cái nghịch lý hay mâu thuẫn đầu tiên nhưng rất nền tảng của tư tưởng Mác ai cũng thấy chính là như vậy.

Thế thì “giai cấp” trước hết là gì ? Mác cho là sự phân chia tầng lớp trong xã hội do bởi nguồn gốc yếu tố sản xuất vật chất mà ra. Tức điều tư hữu tạo nên sự sở hữu công cụ sản xuất khác nhau, đi đến sự bóc lột sức lao động lẫn nhau giữa người và người, đưa đến hai tầng lớp người luôn luôn xuất hiện, loại tư sản và kẻ vô sản, hay tầng lớp giàu và tầng lớp nghèo, tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị luôn luôn có trong xã hội. Điều đó cũng tất yếu tạo nên đấu tranh giai cấp liên tục không ngừng nghỉ để Mác kết luận rằng “xã hội loài người từ khởi thủy đến nay luôn luôn là xã hội đấu tranh giai cấp” (Lời mở đầu trong Tuyên ngôn cộng sản đảng). Tức chuyển từ xã hội nô lệ qua phong kiến, quân chủ, tư sản, rồi ngày nay xã hội tư bản đều luôn như vậy. Tức xã hội hiện đại là xã hội diễn ra sự mâu thuẫn khốc liệt giữa giai cấp vô sản (proletariat) và giai cấp tư bản (bourgeois, capitalism), để cuối cùng giai cấp tư sản nói chung phải bị tiêu diệt, chỉ còn lại giai cấp vô sản nắm mọi quyền quản lý lực lượng sản xuất vào trong tay mình nhằm tiến lên xã hội cộng sản rồi xã hội không còn giai cấp.

Thời kỳ tiến lên này Mác cho là thời kỳ quá độ hay thời kỳ chuyên chính vô sản. Mác đồng nhất giai cấp vô sản với nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước chỉ đại diện cho giai cấp vô sản, để cuối cùng lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tài sản làm ra như suối nguồn tuôn chảy, mối quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo, khi đó xã hội không còn nhà nước nữa, không còn giai cấp nữa, mọi người cùng làm việc hoàn toàn tự nguyện, đó là xã hội tuyệt đối bình đẳng mọi mặt, xã hội tự do mọi mặt, tức con người được giải phóng mọi mặt, không còn nhà nước, không còn chính quyền, cả pháp luật cũng không cần thiết nữa, một xã hội cộng đồng chỉ biết sản xuất mà không còn giai cấp nữa, đó mới là xã hội giải phóng tuyệt đối, đó mới là con người giải phóng tuyệt đối.

Rõ ràng ai cũng thấy quan điểm của Mác ở đây là quan niệm “lô-gích” kiểu hoàn toàn máy móc, diễn ra theo cách tính toán hoàn toàn trừu tượng mà không còn là con người cụ thể nữa. Bởi ngay từ đầu Mác cho bản thân con người chỉ là sinh vật, tức luôn luôn có chứa mọi bản năng tự nhiên khách quan, nhưng sau Mác quên mọi cái đó đi, chỉ còn thấy lịch sử diễn ra hoàn toàn cơ giới máy móc kiểu lực lượng sản xuất làm thay đổi quan hệ sản xuất và ngược lại, đó gọi là nguyên lý biện chứng theo duy vật lịch sử mà Mác đưa ra và tuyệt đối tin tưởng cũng như hoàn toàn tâm đắc. Nhưng lực lượng sản xuất là gì ? Là mọi công cụ sức mạnh sản xuất mà loài người tạo ra được từ trước đến nay. Còn quan hệ sản xuất là gì ? Mác cho đó là sự thuê mướn, chủ tớ, hay người nắm giữ tư liệu sản xuất và người làm thuê, chỉ bán sức lao động của mình. Tương quan đó là tương quan phân hai (dichotomy), nó luôn luôn đắp đổi, biến chuyển lẫn nhau qua lịch sử, cho đến khi mọi tư liệu sản xuất trong đó có cả tư bản trong thời kỳ hiện đại, đều thu vào trong tay duy giai cấp vô sản, mới là điều kiện loại bỏ tư sản đi, loại bỏ mọi quyền tư hữu sản xuất và đi đến xã hội sản xuất tập thể tuyệt đối, xã hội cộng sản tuyệt đối, không còn mọi giai cấp và đi tới loài người được hoàn toàn giải phóng.

Ở đây ta thấy Mác nhìn hoàn toàn máy móc mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mác chỉ nhìn điều đó trên cơ sở kinh tế vật chất thuần túy mà không nhìn yếu tố phát triển trí tuệ hay khoa học kỹ thuật của con người. Từ ngàn xưa, từ hái lượm, săn bắn, đến xã hội nông nghiệp nói chung, công cụ sản xuất hoàn toàn đơn giản, kéo dài cả nhiều ngàn năm ở mọi nơi trên thế giới, chẳng có gì thay đổi cả. Mọi thể chế xã hội như bộ lạc, phong kiến, quân chủ, tư sản chẳng hạn, đều chỉ là cái niềng chung giúp cho xã hội tồn tại và phát triển theo từng giai đoạn kế tiếp nhau, còn không làm biến chuyển gì về tổng thể hay chiều sâu toàn diện cả. Mãi đến đầu thế kỷ 19, khi nền khoa học kỹ thuật ở châu Âu tiến lên bước dài, công nghiệp bắt đầu xuất hiện mạnh mẽ, khi đó lực lượng sản xuất mới tăng tốc và làm thay đổi bộ mặt kinh tế thật sự. Như vậy lực lượng sản xuất là kết quả của khám phá kỹ thuật, khoa học, đâu phải do tác động của quan hệ sản xuất như Mác chỉ cốt nhắm vào hay hoàn toàn huyễn tưởng.

Điều đó cũng bộc lộ cho thấy quan điểm tuyệt đối duy vật của Mác, không cần đếm xỉa gì đến tinh thần hay ý thức con người. Bởi nếu không có các đầu óc của giới khoa học khám phá ra các lý thuyết, các định luật khoa học, thử hỏi kỹ thuật ở đâu mà có, lấy gì làm phát triển lực lượng sản xuất như Mác quan niệm ? Mà nguồn gốc phát triển của khoa học là gì, trước hết phải do trí tuệ, đầu óc tinh hoa cấu thành qua đào tạo giáo dục, qua những tài năng hay những đột xuất riêng biệt, có thể duy nhu cầu trí tuệ đòi hỏi riêng, hay nhu cầu muốn phục vụ những đòi hỏi thiết thân nào đó của cộng đồng hoặc xã hội. Nói khác đi lịch sử luôn phát triển theo cách đa dạng và yếu tố tinh thần, ý thức, lý trí hay trí tuệ vốn luôn là những động lực tiềm ẩn không bao giờ có thể xem thường được. Tính chất khách quan đó không những đúng trong khoa học kỹ thuật, trong đời sống kinh tế xã hội, mà kể cả trong lịch sử chính trị nói chung trên toàn thế giới. Thực tế luôn luôn đa dạng và đa diện, cả trong chiều hướng tốt lẫn cả trong chiều hướng xấu, tất yếu hay ngẫu nhiên, rõ rệt hay tiềm ẩn, khó mà có thể nắm bắt hay quy chiếu tất cả chỉ vào một mối nào đó mà Mác đã làm. Tính cách quy chiếu của Mác ở đây là tính chất quy thuộc đơn giản theo kiểu duy vật tuyệt đối, không phải có thể đa dạng như kiểu thuyết duy tâm lý giải.

Vả chăng trong bài trước khi bàn về hoạt động kinh tế trong xã hội loài người, dầu không loại trừ hay phi bác thuyết tiến hóa của Darwin về tiến hóa sinh vật, nhưng ta chỉ coi đó như trong chuỗi tiến hóa vũ trụ nói chung, không ngắt đoạn kiểu thuần túy duy vật hay sinh học như điều Mác muốn. Bởi thuyết Darwin dù có hiện thực ra trong lịch sử tự nhiên, nhưng còn nhiều điều lý giải sâu xa hơn nữa Darwin vẫn chưa đề cập tới. Bởi vậy đã có sự kiện khi Mác viết xong cuốn Tư bản luận đầu tiên, rất hứng khởi mang đến tặng Darwin, chính ông này dững dưng không hào hứng mấy hoặc gần như không thèm tiếp. Bởi mọi lý luận kinh tế xã hội của Mác ở đó chỉ là kiểu lý luận o ép, áp đặt một chiều, không mang tính cách khoa học sâu sắc đã chiều, mà cốt chỉ gò vào theo chiều hướng duy vật biện chứng, duy vật lịch sử nói chung ma Mác coi như nguyên lý chỉ đạo, quy luật khách quan nền tảng nhất, hay đặt kết luận làm tiền đề theo thị hiếu, cảm thức lẫn cảm tính của mình một cách hoàn toàn độc đoán, máy móc. Những phân tích về kinh tế xã hội của Mác trong đó đều cho thấy chỉ thuần như thế, như phân tích về hàng hóa, tiền tệ, lao động, giao dịch, thương mại, giá cả v.v… đều theo kiểu gọt chân cho vừa giày, tức cho vừa các thị hiếu về con người, về lịch sử phát triển xã hội mà Mác hoàn toàn có định hướng hay muốn áp đặt.

Thành ra tuy Mác chủ trương giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội, nhưng mọi sự “giải phóng” đó chỉ là giải phóng theo định kiến, theo công thức tiền chế, theo chủ quan cá nhân, theo sự tưởng tượng áp đặt thuần túy mà không hề là sự giải phóng khách quan, đích thực nào cả. Bởi thật ra giải phóng con người nhằm giải phóng ý thức, tinh thần là chính. Không phải chỉ giải phóng thân xác như giải thoát loài vật. Cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ trước kia nhằm giải phóng những người da đen trước tiên đó là giải phóng tinh thần lẫn giải phóng thân xác của những người nô lệ. Đó là cuộc giải phóng nhân bản thật sự, không phải chỉ là giải phóng “giai cấp” kiểu Mác quan niệm. Mọi cuộc giải phóng đất nước, dân tộc cũng đều là những cuộc giải phóng cộng đồng quốc gia thật sự, như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi v.v… đâu phải thuần là giải phóng “giai cấp”. Nên nếu nhân danh giải phóng giai cấp rồi cuối cùng nhằm nô lệ cả giai cấp, nô lệ toàn xã hội kiểu học thuyết độc tài vô sản của Mác mang lại đó thực chất chỉ là nô lệ hóa con người, nô lệ hóa xã hội, cả nô lệ hóa lịch sử nhân loại, đều phản giá trị mà đâu có ý nghĩa gì.

Cho nên khởi điểm học thuyết Mác nhìn con người đều sai (quy tất cả thảy vào vật chất), quy tất cả vào ý nghĩa giai cấp, thì đó quả thật chỉ là thứ tư tưởng hàm hồ, phi khoa học, phi thực tế, không mang ý nghĩa hay giá trị nhân bản nào cả. Bởi con người xác thân chỉ là điều kiện cần, không bao giờ là điều kiện đủ. Xác thân là công cụ mang chỡ não bộ, đầu óc con người, nhưng tự xác thân không bao giờ cảm giác, mà chính óc não mới là cơ quan cảm giác. Bởi khi con người đã chết lâm sang rồi, tức là chết óc não, toàn bộ xác thân đều trở thành vô tri và trở nên vô dụng. Nhưng óc não thần kinh không phải bộ phận sinh ra tinh thần ý thức kiểu gan tiết ra mật một cách thiển cận, nông cạn như Mác và Ănghen quan niệm. Tinh thần, ý thức của con người (hay ngay cả các loài vật) cũng đều có sự tồn tại độc lập của mình về những phương diện nào đó mà không hoàn toàn chỉ đồng hóa vào thân xác. Kiểu như ngọn đèn do dầu đốt lên nhưng ngọn lửa đó không phải chỉ thuần túy là dầu. Nhiều điều bí ẩn của ý thức, tinh thần con người khoa học và triết học vẫn mãi luôn khám phá và không bao giờ ngừng nghĩ vì đến nay vẫn chưa hề có kết luận sau cùng. Vật chất không giải thích được gì về mọi khía cạnh, bản chất của tinh thần dù vật chất vẫn là điều kiện đầu tiên và tiên quyết của tinh thần. Cho vật chất luôn luôn có trước tinh thần thực chất chỉ là điều trực quan nông cạn, chẳng mang tính cách thông minh hay tinh vi nào cả, kiểu chỉ khù khờ cho gà sinh ra trứng hay do trứng nở ra gà.

Đạo Phật từ ngàn năm xưa cũng chủ trương giải phóng con người, nhưng chủ yếu là giải phóng về mặt tinh thần, tức giải thoát ra khỏi thế giới ngũ uẩn, thế giới trần tục đầy tham sân si, đầy cảm xúc và mê muội, giải phóng là thoát khỏi mê lầm trong nhận thức, giải thoát khỏi mọi sự mê muội trong đắm chìm trần gian để trở về bản thể tuyệt đối riêng của mình, cái Phật giáo cho là niết bàn không sinh không duyệt hay là thoát ra khỏi mọi sự vô thường tuyệt đối. Sự giải thoát đó không ai có thể thay thế được cho chính bản thân của họ. Trong khi quan điểm giải phóng con người của Mác chỉ là sự áp đặt chủ quan tùy tiện lên người khác, lên xã hội nói chung, thật chỉ mê muội, cực đoan, áp đặt và kể cả áp chế. Ai cũng biết học thuyết Mác mà mọi xã hội cộng sản mang lại đều thật sự chỉ là sự áp chế con người, tướt đoạt đi thảy mọi tự do mọi ý thức tinh thần riêng tư của cá nhân con người, chỉ còn thân xác và ý thức tư duy nô lệ hàng loạt không hơn không kém. Như Mao Trạch Đông đã từng áp dụng điều gì cho toàn thể xã hội Trung Quốc. Chỉ còn là xã hội đàn bầy, bị lừa dối khiến không còn chút tư duy ý thức cá nhân nào riêng biệt, độc lập, hay có giá trị ý nghĩa riêng tư nào cả. Các phong trào đại nhảy vọt, bốn hiện đại hóa, cách mạng văn hóa … nói chung chỉ biến dân tộc Trung Hoa thành dân tộc đàn bầy, nô dịch, mất mọi ý thức tự chủ, mất mọi giá trị con người chẳng còn ra cái ôn dịch gì cả. Bởi chỉ tạo nên mọi sự sợ hãi và bạc nhược và sợ hãi của cá nhân và xã hội nói chung, lại mệnh danh giả đối là giải phóng.

Trong khi đó từ ngàn xưa Khổng từ đã xướng lên thuyết “nhân linh ư vận vật”, tức con người có ý thức, giá trị tinh thần vượt lên trên muôn vật. Câu nói đó không phải nói ngoa mà chính bản thân Khổng tử đã chiêm nghiệm vào chiều sâu ý nghĩa và giá trị tinh thần của bản thân ý thức con người là gì. Lão tử, Trang tử cũng là kiểu cách giải phóng tinh thần như thế. Tức ý thức con người tự giải phóng mình ra khỏi chính bản thân tầm thường, thấp kém của mình. Tự giác mới có thể giác tha như trong đạo Phật có nói. Không phải chỉ như kiểu Mác giai cấp vô sản tự giải phóng mình làm điều kiện đầu tàu giải phóng con người, giải phóng nhân loại. Đây chỉ là kiểu lý luận và niềm tin hoàn toàn huyền hoặc, mê tín. Bởi tự bản thân giai cấp đó đâu phải hầu là tuyệt đối tinh hoa mà đòi giải phóng người khác, giải phóng giai cấp khác, giải phóng xã hội, giải phóng lịch sử theo ý thức của mình. Đây chỉ là tính cách mê tín, mị dân, mờ tối của chính bản thân Mác. Bởi giải phóng con người thực ra trước tiên phải giải phóng chính đầu óc của họ khỏi mọi mê muội để vươn lên ý thức tự do, nhân bản mới có ý nghĩa và giá trị. Làm nô lệ tinh thần, làm nô lệ thân xác, đó không bao giờ là sự giải phóng mà chỉ là sự nô lệ hóa và đày đọa con người về mọi mặt.

Chỉ nghĩa cộng sản theo kiểu Mác thật sự cuối cùng đã thất bại ở Trung Quốc bởi vì nó chỉ áp đặt nô lệ con người theo kiểu đàn bầy dù là họ Mao nói theo giọng lưỡi Mác nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại. Giải phóng con người mà làm mô dịch, nghèo đói con người và xã hội thì thực chất gọi là giải phóng cái gì. Mác quên một điều là phần lớn đám đông quần chúng đều không phải tinh hoa. Họ thường có thể bị kích động và lợi dụng do mọi thành phần cơ hội, tham vọng ích kỷ riêng nào đó mà vẫn mị dân là giải phóng cho họ. Nên quan niệm đấu tranh giai cấp kiểu cơ học, quan niệm quần chúng vô sản theo kiểu theo cách ngu muội của Mác thực chất đều là các quan điểm phản khoa học, phi nhân, mê tín, huyễn hoặc lại tự nhận là khoa học, nhân bản, chẳng khác nào ngu dân và lừa bịp, kể cả chi nhằm khoác lác.

Nên thật ra giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội là gì nếu trước hết không phải giải phóng đời sống vật chất, đời sống tinh thần của họ. Đời sống vật chất có sung túc thì nó sẽ tự giải phóng mọi mặt không cần nhờ ai để giải phóng cả. Mà vật chất giải phóng thì tất yếu tinh thần trước và sau cũng tự dần dần giải phóng. Phú quý sinh lễ nghĩa hiều theo rất nhiều mặt là như thế. Tức điều kiện vật chất tạo thành điều kiện văn minh và văn hóa tinh thần mọi mặt mà không cần bất kỳ cái gì thấp hơn có thể can thiệp vào. Nhưng kinh tế phát triển chủ yếu là nhờ đâu, là nhờ khả năng nội lực của con người. Khi điều kiện biến đổi tự nhiên đã trở nên phong phú thì vật chất dư giả, đó là vận động xã hội văn hóa và kỹ thuật đa chiều mà không phải bất cứ sự áp đặt một chiều giả tạo nào có thể mang tới được. Kiểu toàn dân làm lò luyện thép ở Trung Quốc, biến đất nước đều thành công xã thực chất chỉ toàn là trò hề ngu xuẩn, bịp bợm, và cuối cùng đã hoàn toàn thất bại, vì nó hoàn toàn đi trái mọi quy luật khách quan của xã hội con người. Ngày nay sở dĩ Trung Quốc giàu lên là nhờ Đặng Tiểu Bình quay lưng lại với lý thuyết công xã cộng sản của Mao và trở lại với nền tư bản bước đầu sơ khai. Mọi công dân đều trở thành công cụ sản xuất kinh tế cho nhà nước còn ngoài ra vẫn tiếp tục đánh mất bản thân chính họ, hầu như không phát triển gì mọi mật tinh thần và ý thức tự chủ cho mình cả. Lý thuyết con người, giải phóng con người từ đầu đưa ra của Mác thực châts bị hoàn toàn tiêu diệt và phá sản.

Cho nên khoa học kỹ thuật khách quan (tự nhiên cũng như nhân văn xã hội) chính là nền tảng phát triển xã hội loài người mà không phải bất kỳ thứ ý thức hệ giả danh, ấu trĩ, lừa bịp, sai trái nào cả. Thực tế con người lừa dối, lừa bịp con người vẫn là chuyện không bao giờ thiếu trong mọi hoàn cảnh xã hội. Khi loài người chưa thể tự giải phóng ra khỏi mọi điều đó đừng nói con người giải phóng con người hóa ra chỉ là sự bịp bợm mà tự nó chỉ nuôi nó không phải gì khác. Hay nói khác, khuynh hướng giải phóng nhân loại chỉ là khuynh hướng khách quan phát triển tự nhiên qua sự tiến hóa đi lên của lịch sử, không phải chỉ ai nhân danh, ai áp đặt, hay ai cố ý thực hiện được. Sự giải phóng vật chất mọi mặt tạo ra sự giải phóng tinh thần mọi mặt cũng như ngược lại mà không thể nào khác. Trong khi đó bản chất con người luôn luôn lợi dụng con người về mọi mặt bởi vì sự đấu tranh tiêu cực và tích cực trong xã hội lẫn trong lịch sử xã hội luôn luôn là điều tất yếu xảy ra không thể tránh khỏi. Từ thời cổ đại đã xảy ra mọi sự tranh bá đồ vương, thời hiện đại vẫn xảy ra bao thủ đoạn chính trị xấu xa, dã man, tàn ác, xảy ra bao sự lừa dối trong xã hội khác nhau, đó đều bản chất tự nhiên khách quan của xã hội loài người không bao giờ dẹp bỏ được chỉ theo kiểu đấu tranh giai cấp như Mác nói. Bởi thực chất thuyết Mác chỉ làm vong thân con người qua kiểu áp chế độc tài vô sản mà không bao giờ mang lại hay phát huy đích thực chút gì về mặt nhân bản của bản thân họ cả. Họ phải hoàn toàn đánh mất bản thân mình qua sự giả dối và tuân phục không điều kiện đối với quyền lực áp chế bên ngoài bản thân họ.

Bởi thật ra giai cấp xã hội là gì, đó chỉ do hiện tượng “đẳng cấp xã hội” tạo ra như trong bài trước chúng ta đã nói. Chỉ khác là nó nằm trong ý hướng hoặc mục tiêu nào đó khác nhau vậy thôi. Một xã hội có nhân bản hay không là bởi ý nghĩa này, là ý thức con người có tự do hay không, tinh thần mỗi người có phát triển hay không, còn tồn tại khách quan mặt thể lý thân xác chỉ là việc khác. Bởi thực chất, mọi sự vật đều phải có cấu trúc, đó là khách quan tất yếu, cả xã hội hay sự vật đơn thuần cũng vậy. Dù đó chỉ là chiếc lá, thân cây, trái cây, hạt cây, con sông, con suối, hay cả biển cả cũng vậy. Nhìn lên bầu trời mọi áng mây đều có cấu trúc riêng, nhưng đó chỉ thoáng qua, không bao giờ là hiện tượng cấu trúc bất biến nơi tất cả mọi loài. Sự thay đổi, vận động vẫn còn luôn là quy luật khách quan luôn có trong mọi sự vật. Từ hạt nhân nguyên tử đến vận động điện tử chung quanh, từ tế bào sống đến vận động của hệ mặt trời, ngân hà cùng các thiên hà xa xôi vô tận, đều luôn có quy luật cấu trúc và sự vận động gắn kết nhau không bao giờ thay đổi. Vậy giai cấp hay đẳng cấp xã hội cũng thế, nó luôn luôn xuất hiện mỗi lúc nơi tất cả mọi người tùy theo nội hàm bên trong hay hoàn cảnh bên ngoài đổi thay từng lúc và kết quả biến chuyển của mọi sự vật tồn tại đều lâu hay chậm vẫn có thể xảy ra. Và nhất là chỉ có sự vật cụ thể, con người cụ thể mới là những cái có thực mọi nơi mọi lúc trong không gian và thời gian. Còn giai cấp xã hội về mặt kinh tế thực chất chỉ là sự trừu tượng hóa, sự khái quát hóa, nhằm phạm trù hóa những thực thể nào đó. Chỉ có cái cụ thể đấu tranh lẫn nhau mới đưa ra kết quả. Thuyết đấu tranh giai cấp của Mác thực chất chỉ là sự mê tín, thêu dệt, nhằm kích thích vào bản năng ích kỷ quyền lợi riêng để nhằm lừa dối, thu hút những người liên quan, thế thôi, bởi Mác vốn biết bản năng lừa dối và bản năng trấn át con người trong xã hội vẫn luôn luôn thường có. Mọi sự vận động tốt luôn luôn phải theo nguyên lý tốt, không phải chỉ cốt tồn tại thuần như một thực trạng nào đó, cả cái tiêu cực khuynh loát và chiến thắng cái tích cực, cái bạo lực, gian giảo thắng cái lương thiện, lành mạnh và trong sáng.

Vậy nên khuynh hướng và mục tiêu việc đấu tranh giải phóng con người, giải phóng thế giới, giải phóng nhân loại, trong suốt lịch sử của mình vốn đã có tự ngàn xưa không bao giờ ngừng nghĩ. Đó là vì cảm thức của loài người nó vẫn luôn như vậy. Điều đó thể hiện rõ rệt nhất qua mọi thể dạng tôn giáo, mọi lý thuyết triết học, kể cà nhiều lý thuyết chính trị xã hội khác nhau, nhưng mãi đến thời hiện đại đều vẫn chưa bao giờ thành công tuyệt đối lần nào cả. Điều đó chẳng có gì phải ngạc nhiên hay thắc mắc. Bởi vì bản thân của mọi tồn tại trong đó có cả bản thân xã hội loài người, bản thân của chính mỗi người đều có lực đi tới và lực phản động lại của nó. Không thể có cái nào trong hai có thể hoàn toàn trấn áp, trấn yểm hay tiêu diệt tuyệt đối được cái kia. Sự phát triển của lịch sử nhân loại bởi vậy chỉ có thể tiệm tiến mà không thể bột phát, xé rào kiểu tự nhiên là như thế. Nên mọi hiện tượng lên đồng cá nhân hoặc tâp thể về sự đột phá, phát triển ngoạn mục ngoại lệ nào đó chỉ là sự lừa bịp, ảo tưởng, ngụy tín mà không có gì khác. Học thuyết chủ nghĩa Mác về điều đó từng trên một trảm năm cho thấy cũng không hề trở thành ngoại lệ. Cách mạng không bao giờ và cũng không thể nào là một sự xóa bài làm lại từ đầu. Cách mạng vô sản của Mác cũng chỉ kiểu cuộc cách mạng như thế, nó hoàn toàn chỉ là ảo tưởng và thực chất đã làm hại cho nhân loại về nhiều mặt, về mọi mặt, mà không phải làm lợi gì nhiều cho thảy lịch sử nhân loại. Chỉ bởi vì nó đi ngược lại mọi nguyên lý phát triển khách quan tự nhiên của xã hội như nguyên lý tự do dân chủ, nguyên lý khách quan khoa học, và nguyên lý đạo đức, nhân bản tối hậu. Kiểu Mác chỉ là kiểu thả mồi bắt bóng, cả vú lấp miệng em, cố đấm ăn xôi về ý nghĩa con người và mục đích xã hội con người mà không gì khác,

   

By VÕ HƯNG THANH

       (27/8/2021)

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2021

NÓI VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

NÓI VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ

CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

(I)

 

Sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên địa cầu cách đây từ 3 tỷ rưởi đến 4 tỷ năm. Tất nhiên đó là sự sống sơ khai nhất, kiểu dạng sống đơn bào, rồi qua tiến hóa dần dưới nhiều dạng khác nhau, như thực và động vật phát triển thành các dạng sống đa bào. Đến cách đây khoảng 7 hoặc 8 triệu năm, tại những nơi nào đó trong vùng rừng rậm Châu Phi, đã xuất hiện ra một dạng sơ giả nhân (hominini) như kiểu một sự định hình sơ khai giữa giống người nguyên khởi ở ngay từ trong lòng chính loài khỉ vượn (the human and chimpanzee lineages) khi đó. Cũng từ đây, bắt đầu xuất hiện ra loài dã nhân khôn khéo (Homo habilis) cách đây khoảng 2,3 triệu năm. Tiếp đến, là loài dã nhân đứng thẳng (Homo erectus) cách đây ít nhất chừng 2 triệu năm. Rồi sau hết, mới đến loài người khôn ngoan (Homo sapiens). Theo tiếng La tinh, sapiens, có nghĩa là khôn ngoan (wise), hay thông minh (intelligent), ra đời cách đây chỉ mới chừng khoảng  300.000 năm thôi.

Đây là kết hợp giữa thuyết tiến hóa của Darwin và thuyết tiến hóa vũ trụ nói chung mà ngày nay các ngành khoa học như tiến hóa sinh học, cổ sinh vật học, thông qua các mẫu hóa thạch còn lại từ các thời kỳ tiền sử đều phải thừa nhận. Khoa học thực nghiệm luôn luôn là sự mô tả, trần thuật, tìm ra các lý giải thực tế còn không cần đi hay cũng không thể đi sâu xa hơn. Việc muốn hay cần đi sâu xa hơn, đó thuộc phạm vi triết học mà không còn là khoa học thuần túy nữa. Tất nhiên triết học cũng không thể đi ra ngoài khoa học, nhưng nó vẫn có lãnh vực riêng của mình mà khoa học không muốn, không thể, hay cũng không cần đụng tới. Sự giao tiếp giữa khoa học và triết học ở đây là vậy. Triết học không hề là sự trang trí cuối cùng cho khoa học, dù lãnh vực khoa học nào cũng vậy, nhưng triết học vẫn luôn là sự đóng góp ý nghĩa tối hậu nào đó cho chính bản thân hay nội dung khoa học. Bởi cấp độ khoa học luôn luôn chỉ là cấp độ mô tả cấu trúc, còn cấp độ triết học phải luôn luôn là cấp độ mô tả hay lý giải về ý nghĩa. Sự giao thoa hay hỗ trợ giữa hai bên chỉ có thể là như thế.

Thế thì đến đây điều cần nói chính là ý nghĩa của nhu cầu sự sống. Ý nghĩa đó tất nhiên không ngoài là thức ăn. Hay nói rộng ra, trong thế giới sống là chuỗi thức ăn liên tục  hay xoay vòng. Từ tế bào thấp nhất đến sinh vật cao nhất luôn luôn phải cần thức ăn. Không thức ăn tức không có việc trao đổi chất với bên ngoài, mọi sự sống sinh học đều không thể tồn tại và phát triển cần thiết. Lá cây cần ánh sáng mặt trời tạo ra chất diệp lục dưới bề mặt của lá. Thực vật thành thức ăn cho nhiều loài động vật. Nhiều loài động vật thành chuỗi thức ăn cho nhau. Chất mùn hay chất bã động thực vật lại thành thức ăn cho nhiều loài thực vật khác nhau thông qua việc hấp thụ vào bộ rễ của chúng, và sự quay vòng tổng quát nói chung đều không ngừng hoạt động.

Vậy thì thế giới con người cũng vậy. Nhu cầu thức ăn của xã hội con người đều luôn thiết yếu. Một ngày xã hội không có thức ăn sẽ liền bắt đầu khủng hoảng và lâu dài cũng không thể nào tồn tại tiếp tục được. Nhưng đối với loài vật, thức ăn luôn có trong tự nhiên, chúng chỉ đi tìm và tiếp nhận mà không bao giờ tạo ra hay có thể sản xuất ra. Cây cỏ sống nhờ mặt đất, nước, không khí, loài vật thì nhờ có cây cỏ hay thịt các loài vật khác, quy luật của tự nhiên khách quan là vậy. Nhưng con người ngoài thức ăn phải cần có vật dụng. Thức ăn chỉ duy trì sự sống nhưng chính vật dụng mới tạo ra các nhu cầu, ý nghĩa văn minh, văn hóa khác nhau. Thực phẩm, lương thực, vả vật dụng tiêu dùng đều luôn cần thiết, không thể thiếu cái nào trong các cái ấy. Đó chưa nói công cụ sản xuất còn tạo ra cả sự sản xuất thực phẩm mà từ ngàn xưa đã phải có, có khi cả loài vật cũng cần dùng đến. Con khỉ có thể dùng hòn đá đập bể hạt cứng, sò ốc để lấy ruột mà ăn. Loài người nguyên thủy cũng dùng đá được ghè ra để làm nhiều công cụ trong săn bắn, lao động, nghiền, cắt, xẻ thức ăn. Từ thời kỳ đồ đá đến đồ đồng và đồ sắt, công cụ dần dà phát triển theo nền văn minh và văn hóa cũng theo đó mà phát triển.

Có nghĩa sự sản xuất là nhu cầu thiết yếu và sự sản xuất nhất thiết phải gắn với công cụ sản xuất. Công cụ sản xuất càng phát triển thì nền sản xuất càng phát triển và đời sống mọi mặt cũng càng phát triển. Sự tiến hóa tự nhiên, kiểu cơ giới máy móc chỉ là giai đoạn ban đầu trong nhiên giới. Nhưng khi qua xã hội loài người, chính sự tính toán của óc não mới là điều quan trọng nhất. Nên Mác chỉ nhìn sự vận động hay sự phát triển xã hội chủ yếu kiểu vận động theo cách máy móc như thể hiện qua duy vật biện chứng, duy vật lịch sử mà Mác quan niệm thực chất còn rất sơ đẳng, ấu trĩ và có khunh hướng hoàn toàn giản lược. Mác coi kinh tế là căn cơ của đời sống thật ra cũng vẫn trong cốt lõi hiểu theo dạng này. Mác và Engels xem đầu óc tiết ra ý tưởng, quan niệm, tư duy mọi mặt chẳng qua giống như gan tiết ra mật. Đó là do quan điểm duy vật tuyệt đối hẳn nhiên đưa đến kiểu quan điểm như vậy. Họ đều phủ nhận tinh thần ý thức con người như như một năng lực hoạt động hoàn toàn riêng. Mà coi nó như sản phẩm phản ảnh của mọi điều kiện xã hội khách quan từ ngoài. Tính chất cực đoan trong tư duy suy nghĩ của Mác về nhiều mặt thật sự chỉ có như thế.

Chúng ta thấy sinh vật nhiều khi cũng biết kết hợp trong liên kết hoạt động của chúng, nhiều loài vi khuẩn hay các dạng san hô cũng vậy. Sư tử hổ báo có khi cũng biết đi săn theo đàn, kết hợp sự hành động chung lại với nhau nhằm tạo ra kết quả hữu hiệu nhất. Việc sống đàn bầy ở loài vật không thiếu, nhưng mọi sự kết hợp đàn bầy đỏ vẫn không bao giờ làm thay đổi được bản chất của chúng. Điều dễ hiểu là chúng không có hoạt động ý thức tinh thần theo kiểu tầm cao riêng. Như vậy bản chất ý thức quyết định tất cả trong thế giới loài người là điều vẫn hoàn toàn dễ hiểu. Trong khi đó Mác cho rằng quan hệ sản xuất quyết định cho chính lực lượng sản xuất. Sự làm ăn tập thể, sự xóa bỏ tư hữu để bước đầu chỉ tập trung quyền công hữu vào trong tay duy giai cấp vô sản sẽ làm cho lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc. Điều này trong thực tế cho thấy hoàn hoàn toàn trái ngược lại. Cha chung không ai khóc, đó là điều từ ngàn xưa người bình dân đã hoàn toàn hiểu được. Thành nên quan điểm kinh tế học của Mác hoàn toàn định kiến, lệch lạc, không xác đáng, khách quan mà chỉ theo thị hiếu, thành ra không tưởng và ảo tưởng.

Vậy đời sống kinh tế trong xã hội là gì. Đó là một hệ thống mang tính truyền thống và luôn luôn tiến hóa, phát triển, tùy theo mỗi tế bào đơn vị kinh tế phát triển. Tế bào đó không ngoài là những cá nhân con người, gồm có năng lực trí tuệ tinh thần, sức manh lao động thể chất, đôi khi lẫn cả kỹ năng vận dụng hay sự dụng công cụ. Tất cả những yếu tố này gắn liền với nhau, mất thiết với nhau, và cùng tiến hóa phát triển cùng nhau. Điều này đúng trong hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, cả trong phương diện lịch sử. Tại sao trong lịch sử tự nhiên loài người tiến hóa hướng lên cao mà loài vật phải thiết yếu bị dừng lại. Dầu khởi thủy sự sai khác chi là hominini, một sự sai khác vẫn còn tối thiểu, nhưng rồi các tiến trình tiếp sau homo habilis, homo erectus, cuối cùng đến homo sapiens mới bắt đầu hình thành nên tất cả.

Có nghĩa lịch sử tiến triển không hề gãy đứt mà luôn phải có sự liên tục từ trên nền tảng nào đó có trước. Con người thời mê muội chưa hề có ý thức chiếm hữu. Nhưng rồi khi dân cư (population) phát triển ra trong bộ lạc, nhu cầu tư hữu trở nên cần thiết để duy trì bảo đảm phát triển các nhu cầu thiết yếu của mình, vậy là tính chiếm hữu tất yếu phải ra đời, chỉ là sự phát triển khách quan tự nhiên không thể nào khác. Lúc đầu săn bắn theo bầy đàn, nhưng rồi săn bắn cá nhân vẫn có thể xuất hiện. Ngay cả hái lượm cũng vậy. Cái chung trở thành cái riêng, hoạt động chung trở thành hoạt động riêng, về nhiều mặt nào đó, đó không phải nhất thiết tiêu cực, mà có khi còn là dạng tích cực. Như ban đầu là quần hôn, nhưng rồi hôn nhân riêng lẻ lại phát triển, bởi nhu cầu tư hữu hóa truyền thụ riêng của mình nơi con người vẫn là nhu cầu riêng mang tính chung nhất trong mọi cá thể sống sinh vật. Sự phát huy dòng gien riêng và duy trí, bảo vệ, phát huy dòng gien đó, vẫn là nhu cầu chính đáng mà mọi sinh vật đều có huống chi là ý thức tâm lý mạnh mẽ cụ thể nơi loài người.

Vậy nên lịch sử phát triển xã hội không hoàn toàn ngẫu nhiên, tùy tiện, chỉ mang tính bề ngoài, mà thật ra đều xuất phát từ nhu cầu nội tại bên trong mà ra. Con người chế tát các công cụ ra từ đầu óc của mình thuộc mọi loại đó để nhằm phát triển chính bản thân mình và cho cộng đồng đây không phải chỉ thúc đẩy bởi khuynh hướng cá nhân mà cũng là ý nghĩa kinh tế hàm chứa cho toàn xã hội. Mỗi cá nhân sống tốt thì cộng đồng xã hội cũng sống tốt. Đó là nguyên tắc giao và hợp hay nguyên tắc phép cộng và phép tích áp dụng chung cho mọi trường số thuộc dạng nào đó mà ai cũng rõ.

Thế nhưng nói như vậy xã hội không hề là một tổ hợp máy móc mà có các quy luật diễn tiến riêng trong lòng nó. Bởi thiên nhiên vẫn xảy ra những bất ngờ đối với từng cá thể cũng như chung cho toàn thể. Những yếu tố về bệnh tật, thiên tai, hay sự cố mọi loại khách quan bên ngoài, làm sự đấu tranh sinh tồn của cá nhân và xã hội luôn luôn có. Con người không những đấu tranh sinh tồn giữa nhau trong xã hội mà còn đấu tranh sinh tồn với cả thiên nhiên. Bởi vì thật ra luôn có hai lực lượng hay hai lực đối kháng nhau ngay trong bản thân tồn tại. Lực đi lên hay tích cực, và lực kéo xuống hay tiêu cực. Có khi sự thăng bằng hay cân bằng giữa hai lực, có khi nó bị lệch đi, hoặc cái này thắng thế hay cái kia thắng thế, tạm thời trong khoảnh khắc, thời gian nào đó bởi vô số nguyên nhân mà khó hoàn toàn chỉ ra hay lượng định hết được. Đó dĩ nhiên là nguyên lý tôn tại, nguyên lý phát triển, và cả nguyên lý kéo lùi như quy luật khách quan tự nhiên mà không phải chỉ đơn thuần thiết yếu phải luôn theo chiều nào đó.

Ngay như lao động sinh tồn của cá nhân trong xã hội cũng vậy. Đã là thành tố trong xã hội rồi thì không bất kỳ ai có thể tách ra sống hoàn toàn theo kiểu Robinson trên hoang đảo được. Nguyên lý xã hội là nguyên lý khách quan tự nhiên, không cần ai phải rao giảng, nhấn mạnh hay tuyên truyền gì cả. Quan niệm “xã hội” của Mác hay quan niệm xã hội xã hội chủ nghĩa của những người tiếp theo Mác, chỉ là một bộ phận giáo đầu của quan niệm “cộng sản” về sau này mà Mác muốn thiết kế. Đó không phải quan điểm xã hội theo cách phổ thông, khách quan, tự nhiên hay lý tưởng mà nhiều người theo đuổi. Tức quan điểm xã hội theo kiểu lý tưởng, tinh thần, đặt xã hội như đích điểm cao cả mà cá nhân muốn hướng đến theo cách tự do hoặc tự chủ. Trái lại quan niệm xã hội mác xít chủ yếu hay thực chất phải là kiểu quần chúng, đàn bầy, không thể được quyền lựa chọn tự do nào khác.

Thành nên đúng ra trong mọi xã hội bình thường, quyền tư hữu và quyền lao động sinh tồn cũng như phát triển cá nhân đều là quyền khách quan tự nhiên không ai có thể ngăn cản hay cấm đoán cả. Tuy nhiên có điều tự bản thân nó không bao giờ có thể vượt giới hạn tối đa nào đó. Bởi vì không ai có thể tự mình có thể làm hết mọi sự. Nên việc phải nhờ cậy đến người khác, hợp tác với người khác dưới mọi hình thức cần thiết và chính đáng chỉ là điều hoàn toàn tự nhiên. Điều đó đưa đến một hệ cộng đồng là điều không thể không có. Như phải thuê mướn người khác để giúp cho mình làm việc, giúp cho mình quản lý về một hay nhiều phương diện nào đó, hợp tác với người khác hay đơn vị khác bằng nhiều hình thức nào đó, điều đó làm phát sinh ra những tổ hợp, công ty kinh tế mọi loại, cả mặt giao thương tài chánh, cả mặt phát triển sản xuất lẫn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nói chung. Dầu người ta giàu đến mấy cũng không ăn ăn quá một khẩu phần thông thường một ngày cho dù chất lượng của nó khác biệt ra sao. Nên nhu cầu làm việc, nhu cầu giàu có nhiều khi chỉ là sở thích, thú vi, lòng đam mê và cuối cùng hòa vào dòng chảy chung của xã hội tất cả. Chết cũng chẳng đem được hết theo, chỉ còn thú vui, mục đích di sản lại cho con cháu, người thân tình vậy thôi. Cho nên mục đích của Mác nhằm hủy bỏ tư sản, hủy bỏ thừa kế, làm xã hội hóa theo mục đích giai cấp tất cả, thật là khác thường và thật sự chẳng có gì hữu lý hay cần thiết khách quan cả.

Trong khi đó, thật ra trong môi trường kinh tế xã hội của cộng đồng hay của toàn xã hội, mỗi cá nhân, đơn vị đều chỉ như một nguyên tử, một phân tử đang cùng vận động nói chung. Nhưng toàn bộ máy đó diễn ra một cách khách quan, tự động, tùy theo quy luật vận động chung được cụ thể hóa riêng cho trường hợp mỗi người. Không có gì phải tuyệt đối máy móc, khiên cưỡng hay hoàn toàn áp đặt cả. Đó chính là nguyên lý tự do tối hậu trong sự vận động của cá nhân và xã hội. Nói khác đi đó là quy luật thị trường, sự kết hợp giữa ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng luôn đa chiều, đa dạng thật sự hữu lý và hiệu quả mà ai cũng biết. Bởi về nguyên tắc chính đáng luôn phải có, đó phải là hình ảnh mỗi cá nhân chính là một véc tơ tự do vận động trong những tổ hợp tự do, ngay chính trong xã hội cũng như một trường véc tơ tự do.

Thế thì pháp luật là gì ? Pháp luật là nguyên lý khách quan cần phải tuân thủ mà bắt buộc mọi người phải cần chấp nhận thế thôi. Thị trường tự nó tự do, và pháp luật làm cho sự tự do đó được bảo đảm điều hóa tốt đẹp, nhằm cho mọi người đều được công bằng và ích lợi. Rõ ràng đây là đây là quan niệm phi giai cấp hay quan niệm xã hội dân sự phổ biến rõ rệt. Nó được gắn với nền tự do dân chủ khách quan thật sự. Tức không rơi vào bất kỳ định kiến tiền chế nào mà chỉ tuân theo nguyên lý tự do theo nguyên tắc công bằng tự thân vốn có. Bởi nguyên tắc công bằng thật sự không hề là nguyên tắc công bằng toán học, đếm đầu chia xôi, chỉ kiểu trừu tượng và máy móc. Mà công bằng ở đây là công bằng trong tương quan xã hội, hay công bằng trong tương quan cá nhân với cá nhân giữa điều kiện cụ thể với nhau, cũng như tương quan giữa cá nhân và xã hội cũng theo cách đó. Tức công bằng theo kiểu cân đối đa dạng, không phải công bằng kiểu vô tâm, vô cảm hoặc máy móc. Tức công bằng thực tế khách quan đa dạng hoàn toàn khác với cộng bằng thoát ly hoàn cảnh và thoát lý yếu tố con người cụ thể. Pháp luật chân chính nhằm để bảo đảm sự công bằng và tự do chính đáng của tất cả mọi người, điều chỉnh những bất công phi lý, giúp đỡ lo toan sự phát triển của mọi người, không phải chỉ để cưỡng chế, bó buộc mỗi cá nhân hay toàn xã hội  phải đi theo những quy thức tiền chế phi lý nào cả.

Nên nói khác đi, Mác chỉ hiểu công bằng phải theo cách áp đặt. Bởi cho xã hội tự do đều chỉ là kiểu xã hội “tư sản”, đều chỉ nhìn thấy nó xấu xa, áp bức, bất công, bóc lột, bởi có nền tảng là tư hữu, thế làm gì còn có bất cứ loại công bằng nào ở đó nữa theo Mác. Bởi vậy Mác đặt tiền đề cho tư hữu là nguyên lý sai trái, là điều kiện làm phát sinh ra phân chia giai cấp, là đầu mối của đấu tranh giai cấp, xã hội tư sản chỉ là xã hội thống trị của giai cấp tư sản thống trị lên giai cấp vô sản, vậy còn đâu có đạo đức, có công bằng khách quan được nữa, mà xã hội đó chỉ toàn thối nát, bất công. Như thế, lý luận của Mác luôn luôn là lý luận một chiều, lý luận theo tiền đề đặt sẳn, lý luận kiểu áp đặt mà không cần nại đến bất kỳ nguyên lý khoa học khách quan đúng đắn nào. Chẳng qua Mác chỉ chăm chăm vào các định kiến mâu thuẫn, giai cấp, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp không phải chỉ tiền đề đặt trước mà còn là kết luận đặt trước, mục tiêu đặt trước, thế thôi. Vậy đâu còn là nền tảng, là yếu tố hay nguyên lý khách quan của lý luận, đâu còn khoa học trong lý luận, mà thật ra chỉ nhằm cực đoan ngụy biện, kiểu nhằm đặt con trâu sau cái cày thế thôi.

Thật ra nhà nước và pháp luật chỉ là kết quả tự nhiên của sự phát triển xã hội. Mỗi cá nhân bản chất không loại bỏ được bản năng nên giáo dục và pháp luật luôn cần. Nhưng pháp luật và giáo dục cũng chuyển biến, thay đổi, phát triển tùy theo kết quả xã hội đi lên. Không giáo dục, không pháp luật xã hội sẽ loạn, bởi không rào cản, kèm chế nào của bản năng, sẽ trở nên sẽ hổn loạn, hoang dã sẽ chiến thắng, hủy diệt mọi nhân tính, văn minh xã hội. Đó là nhu cầu thiết thân cho tất cả mọi người, của toàn xã hội, không riêng thành phần hay giai ấp nào cả. Nhà nước hay tổ chức đất nước là cái nền móng luôn luôn cơ bản nhất, tuy có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh, giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội nhưng không bao giờ mất đi hay bị tiêu diệt, nó chỉ có thể thay thế lẫn nhau tùy theo hoàn cảnh, điều kiện mà thôi. Hẳn nhiên cái gì cũng có mặt phải và cả mặt trái của nó, nó có thể bị một số cá nhân lũng đoạn, lợi dụng để trở nên xấu đi, nhưng không có nghĩa nó luôn là vật thể vô dụng hoặc hoàn toàn tiêu cực.à Mác lý luận nhà nước và cả pháp luật của nó chỉ là công cụ của giai cấp, một phương tiện đấu tranh giai cấp, là công cụ của giai cấp thống trị, thì chẳng cần mọi điều khách quan thực tế nào cả mà chỉ nói bừa nói bướng.

Thực chất khi thế giới hoang dã đi vào thế giới loài người, sự phát triển không phải chỉ do bởi những yếu tố bên ngoài mà còn chính là yếu tố bên trong, như tâm lý, hiểu biết phát triển lên, không phải thuần túy chỉ bản năng sự sống. Trong yếu tố này vẫn còn có yếu tố kia, không khi nào chỉ thuần túy là một như mọi loài vật hoang dã. Sự đấu tranh sinh tồn và khuynh hướng phát triển tiến bộ chung vẫn luôn luôn có. Sự đấu tranh giữa cái tiêu cực và cái tích cực, mặt phải và mặt trái của xã hội vẫn luôn luôn có. Sự đấu tranh đó bởi vậy không luôn luôn chỉ thuần yếu tố hay mục đích sinh tồn, kinh tế, mà còn là sự đấu tranh văn hóa và phát triển khi bản chất xã hội con người đã dần dần phát triển qua lịch sử. Nên cái nhìn của Mác luôn luôn chỉ là cái nhìn tầm thường, cái nhìn duy vật hóa, sinh vật hóa thuần túy con người và xã hội. Ở đâu cũng chỉ thấy có thuần là vật chất, chỉ thuần là tranh giành quyền lợi miếng ăn, lợi lộc qua đấu tranh giai cấp mà ngoài ra không còn gì khác. Mác nhìn con người và xã hội thực chất không có tính nhân bản, chỉ nhìn trừu tượng qua yếu tố đấu tranh biện chứng phi nhân, bị vật thể hóa kỳ cùng, mà không còn như con người hay xã hội cụ thể dầu tự tin hay tự tuyên bố mình là khuynh hướng xã hội cụ thể, thực tế nhất.

          

(II)

 

Thật vậy, khi xã hội loài người chuyển biến từ trạng thái bộ lạc, du mục sang dạng thức phong kiến, quân chủ, cuối cùng đi lên tư bản dân chủ, đó không phải chỉ là sự vận động thuần túy vật chất hay sinh vật mà còn là chính yếu tố tinh thần, ý thức nội tại phát triển trong đó. Bởi hòn đá chuyển động thì ngàn đời vẫn chỉ là hòn đá, cái cây và sinh vật phát triển hay vận động, ngàn đời cũng không thoát ly ra khỏi nó, nhưng yếu tố tồn tại con người từ hoang dã đến văn minh thì hoàn toàn khác. Sự phát triển khoa học kỹ thuật trong xã hội loài người không phải thuần túy là qua sự vận động vật chất trong óc não như Mác và Engels quan niệm mà thật ra phải có nguyên nhân nội tại tiềm ẩn nào đó, hay nguyên nhân nhân tính đã vốn chứa trong đó. Cho nên thuyết duy vật thuần túy và thuyết kinh tế chính trị chuyên chính vô sản tuyệt đối của Mác, thật ra chẳng khác nào một loại “dị thuyết”, một loại “giả” thuyết (false theory), một loại “tà thuyết”, tức hoàn toàn không đích thực hay đúng đắn khách quan, mà nhất thiết chỉ thật sự xa lạ, thật sự tách biệt với mọi truyền thống nhân bản đã vốn có từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, mà mọi học thuyết cổ xưa trong lịch sử nhân loại đã từng đều có. Mác đều quơ tất cả điều đó vào chung khái niệm “đạo đức tư sản, kiểu tư sản”, để từ đây muốn dùng “đạo đưc vô sản, kiểu ý hệ vô sản” để nhằm thay thế tất cả vào đó. Bởi vì ở đây mọi quyền tự do chính đáng của con người đều bị triệt tiêu, loại bỏ.

Điều đó là bởi vì Mác và Engels đã tự định hình cứng nhắc vào quan điểm duy vật tuyệt đối, cả dưới dạng duy vật biện chứng, rồi kế đến cả quan điểm duy vật lịch sử đã có ngay từ đầu. Trong khi đó, thật sự cả ba quan điểm này đều hoàn toàn vô nghĩa, hay nghịch lý, mâu thuẫn nhau tự trong chính bản thân chúng, hay cả trong mọi sự phát triển của lịch sử xã hội loài người. Sự diễn dịch từ cái này ra cái kia đó thực chất đều hoàn toàn giả tạo, phi lý, hời hợt, nông cạn, áp đặt, mà không hề chứng minh được cái lô-gích nào khả dĩ làm bằng chứng xác đáng, cụ thể cả. Đó chỉ là kiểu lý luận suông, trừu tượng, máy móc theo cách suy đoán toán học, chẳng có căn cơ gì cụ thể rõ ràng cả. Sự vận động của nguyên tử cho dầu cả tỷ năm cũng chỉ là sự vận động của nguyên tử, nhưng nguồn gốc sự sống đến nay khoa học loài người vẫn chưa có được chứng minh nào rõ rệt cả. Như thế mọi ý nghĩa vấn đề ở đây không phải chỉ đều đơn giản. Học thuyết của Mác chỉ kiểu là học thuyết theo lối quy giản, quy lược đầy cách áp đặt một chiều chưa hề có chút gì hiển nhiên, rốt ráo về mọi lý giải khoa học hoặc triết học gì hết. Nó chỉ dễ phỉnh gạt, lừa mị mọi đầu óc thiển cận, nông cạn hay kém hiểu biết mặt tri thức, nhận thức mà thôi.

Như nhu cầu cái ăn nơi loài vật thật ra chỉ là một chuỗi mắt xích hoàn toàn tự động theo bản năng và ngàn năm cũng không hề thay đổi. Nhưng kinh tế trong xã hội loài người cho thấy qua lịch sử đã biến chuyển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nông cạn đến chiều sâu, hoàn toàn khác hẳn với mọi giới sinh vật. Đành rằng yếu tố thay đổi đó được tạo ra nhờ bởi sử dụng công cụ, nhưng cũng bởi sự phát triển tự nhiên của não bộ con người. Não bộ thực chất không phải đơn thuần chỉ là một tổ hợp tế bào sinh học hoạt động cơ giới máy móc như kiểu vật lý (physical) bậc cao, nhưng đích thực đây lại là một hình thức chủ thể tính (subjectivity) là điều mà Mác-Engels chẳng bao giờ muốn thấy hay thấy được hết. Bởi ngay từ nền tảng ban đầu đều chỉ giản lược tuyệt đối tất cả chỉ là vật chất, chất thể (matter, material) vậy thôi. Giản lược và suy đoán kiểu thuần tư biện, đó là khuynh hướng cả hai người này vẫn thường có nhưng đều xem là đỉnh cao trí tuệ tuyệt đối nhất của mình.

Bởi đơn vị con người ban đầu thời nguyên thủy, cho dầu sản xuất, tạo ra vật chất nhằm tiêu dùng theo nhu cầu của mình, nhưng điều đó khó có thể làm hoài một mình mà vẫn có sự cạnh tranh và nhiều khi cần có sự hợp tác với các cá thể khác. Sự cạnh tranh và hợp tác bởi thế luôn là nguyên lý hay quy luật tự nhiên trong toàn xã hội, không thể chỉ tồn tại một trong hai và cái này có thể tiêu diệt được cái kia. Do vậy nguyên lý hay sự xuất hiện việc chiếm hữu ban đầu nào đó đối với các sự vật đều phải luôn có giới hạn bởi sự cạnh tranh và sự chia sẻ của nó. Tư hữu là thiết yếu nhưng không thể vượt ra ngoài các giới hạn là điều luôn luôn có trong xã hội. Bởi vậy không thể có chuyện lo bò trắng răng như Mác vẫn thường hay có. Hơn thế mọi công cụ kinh tế luôn luôn thay đổi phát triển qua dòng thời gian lịch sử, có khi đi đến từng mỗi thế hệ trong xã hội, bởi vậy không thể có sự đấu tranh giai cấp kiểu rạch ròi, bất định trong quảng thời gian dài cho tới khi lực lượng sản xuất làm thay đổi quan hệ sản xuất như kiểu Mác suy đoán.

Nên chi mọi diễn tiến định chế trong xã hội từ bộ lạc qua phong kiến rồi quân chủ và tư sản nói chung đó đều là diễn tiến khách quan của lịch sử, không cá nhân nào có thể làm thay đổi được, cũng không bất kỳ ai có thể phủ hận được. Nó kết hợp bởi nhiều yếu tố như sự phát triển xã hội, các tác động bên ngoài nào đó, kể cả các tham vọng riêng biệt của số cá nhân nhất định nào đó đã đi đến thắng lợi được. Thành nên yếu tố tất yếu và ngẫu nhiên trong lịch sử cũng khó quy giản cái nào vào cái nào, hay nói khác có nhiều tính lô-gích khác nhau trong tồn tại lịch sử và xã hội, không chỉ đơn thuần nhìn riêng kiểu giả tạo theo loại tư duy hay cảm tính nào đó. Đấu tranh giữa chủ thể lẫn nhau vẫn luôn có, theo chiều hướng này hoặc chiều hướng nọ, nhưng giai cấp chỉ là một phạm trù khái niệm trừu tượng kiểu phổ quát hóa theo dạng nào đó, nó đều không phải thứ chủ thể tính riêng biệt nào cả. Đó chẳng qua Mác chỉ thêu dệt tưởng tượng gượng ép phi lý, giả tạo, chẳng chút thực tiển, khoa học nào cả, mà còn gây những ảo tưởng, những hệ lụy xấu cho toàn xã hội.

Lòng tham vọng ích kỷ luôn luôn có ở con người, nên người tuyệt đối lương thiện, vị tha, cao cả không phải bao giờ cũng nhiều mà chỉ là thiểu số tinh hoa nào đó. Có nghĩa trí thức, tinh thần, đức tính mới luôn là động lực phát triển lịch sử xã hội mà không phải khái niệm giai cấp trừu tượng nào đó cả. Lực lượng quần chúng luôn luôn là lực lượng ô tạp trong chính trị. Lực lượng sản xuất và tiêu dùng luôn luôn là lực lượng thực tế trong phát triển xã hội. Giới tinh hoa chỉ là đầu tàu mà không gì khác. Bởi vậy không có quần chúng ô tạp cũng khó có quyền lực chính trị, không có lực lượng sản xuất tiêu dùng cũng khó có kinh tế. Đầu tàu có thể chỉ đều là lực lượng thuần túy nhưng chiều hướng vận động của nó như thế nào là chuyện khác. Con tàu có thể đi tới hay đi lui lại là do đầu tàu tất cả. Nên trong lịch sử có những vị minh quân mà cũng có những tên bạo chúa. Trong chính trị không phải không có những bậc vĩ nhân mà cũng thường có những thời cơ, gian hung, lưu manh có cỡ. Những điều này chỉ khi lịch sử trôi qua thì mới thấy rõ còn nói chung lực lượng quần chúng chỉ luôn mù mịt.

Vậy nên đời sống kinh tế của xã hội loài người là một nền tảng quan trọng nhưng không phải duy nhất. Lịch sử xã hội phát triển là nhờ qua các cơ chế và những định chế kinh tế nối tiếp khác nhau. Ví dụ định chế chiếm hữu riêng hay tư hữu là yếu tố xuất hiện cơ bản thiết yếu đầu tiên nhưng không phải quyết định duy nhất. Nó có thể tạo nên sự cạnh tranh chính đáng hay không chính đáng mọi nhưng đó chỉ là yếu tố khách quan. Nhu cầu cần thiết trao đổi giữa nhau trong kinh tế tạo nên định chế hàng hóa và tiền tệ là yếu tố về sau thêm vào không thể nào thiếu. Đây là yếu tố quyết định còn hơn cả quyền tư hữu lẫn trở lại chi phối cả quyền tư hữu. Bởi quyền tư hữu chỉ tập trung phục vụ lợi ích cá nhân, còn hàng hóa và tiền tệ chủ yếu còn tập trung vào cả lợi ích chung của xã hội. Cả hai đều là huyết mạch xã hội là như thế. Tiền qua tư bản đẻ ra hàng hóa cũng như ngược lại, đó là sự quay vòng hay tương tác với nhau tự nhiên không có gì phải là khám phá ghê gớm như Mác đã làm trong suốt cả bộ Tư bản luận của mình.

Có nên tiền tệ cũng là khám phá kỹ thuật quan trọng nếu không nói là khám phá kỹ thuật quan trọng đầu tiên nhất giữa các khám phá kỹ thuật khác nhau trong lịch sử xã hội loài người. Nó tạo nên mọi sự tiện lợi giao lưu thiết yếu nhất trong toàn xã hội. Bởi vì tiền tạo ra mặt kia của nó là hàng hóa, và cả tiền cũng trở thành chính là hàng hóa. Cả hai mặt này biến chuyển giữa nhau và tạo thành chung khả năng đáp ứng mọi nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội là như thế. Từ dạng thể đầu tiên như vỏ sò, vỏ ốc, qua ngân bản vị và kim bản vị, cuối cùng các loại tiền tín dụng ngày nay, đã làm định chế ngân hàng cũng chính là khám phá quan trọng trong nền kinh tế tài chánh của xã hội loài người qua các thời đại. Nên nhiều mặt tiền tệ và nhiều mặt tư bản khác nhau trong đời sống kinh tế đã trở thành những định chế quan trọng nhất trong lịch sử phát triển kinh tế nói chung của thế giới xã hội loài người. Nói khác đi nhu cầu đời sống và sự tiện lợi gần như là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển chung của xã con người. Dĩ nhiên nhu cầu này không chỉ là nhu cầu vật chất mà còn là nhu cầu tinh thần, trí tuệ, đó là điều mà ý nghĩa đời sống loài người hoàn toàn khác hẳn với ý nghĩa đời sống loài vật. Và dầu cho rằng loài người và loài vật vẫn cùng là giới sinh vật, thì điều phân công giới tính đực cái nam nữ vẫn là điều huyền vi của tạo hóa vượt ra ngoài cả đấu tranh giai cấp mà Mác chẳng bao giờ ngờ đến nữa.

Vả chăng mỗi cá nhân luôn là một chủ thể ý thức độc lập tự do về mặt bản chất trong mọi môi trường xã hội. Mỗi cá nhân không phải chỉ một nguyên tử mà còn là hình ảnh một véc tơ trong trường xã hội, một véc tơ có thể có phương hướng và mô đun nội lực khác nhau. Hơn thế, vật chất chỉ là điều kiện cần không phải là điều kiện đủ cho mọi tồn tại không mang tính thuần vật chất theo cách sơ đẳng. Do vậy nguyên lý tự do luôn luôn là nguyên lý tối ưu trong đời sống xã hội. Không có tự do sự sống sẽ quay về lại trạng thái trì lực, ù lỳ và tự diệt. Trong khi đó lịch sử phát triển luôn theo nguyên lý tuyến tính, tức phải luôn liên tục, không quay lại trạng thái cũ mà luôn mãi tiến lên. Chẳng hạn tư bản là một dạng sáng kiến mới về tài chánh trong kinh tế tư bản, cũng giống tiền tệ là một phát minh quan trọng và thiết yếu trong xã hội thời nguyên thủy cổ đại. Bởi vậy khi viết Bản thảo kinh tế chính trị rồi Tư bản luận, Mác nhằm phân tích kết án mọi định chế kinh tế tài chánh trong xã hội tư bản đang trong đà phát triển mới mẻ như hàng hóa, tiền tệ, tài chánh, lao động v,v… chẳng qua Mác đã làm một việc hoàn toàn ngược ngạo để nhằm phục vụ thị hiếu sở thích riêng tư lập dị, ảo tưởng của mình. Trong khi đó chưa nói ngay giữa lòng xã hội, chưa nói mỗi cá nhân lại vẫn có thể có phận mạng hay định mệnh riêng của mỗi người đâu ai giống ai.

Hơn thế nữa, khi kinh tế xã hội phát triển, dĩ nhiên những định chế chính trị, pháp luật, văn hóa cũng song hành phát triển tương ứng theo. Chế độ Cộng hòa dân chủ và nền kinh tế tư bản như vậy cũng phải tương ứng nhau, không thể có cái này nếu không có cái kia. Kinh doanh phát triển tự do về kinh tế buộc phải đi liền với cơ chế chính trị như lưỡng đảng hay đa đảng, tam quyền phân lập, tự do báo chí hay đệ tứ quyền, đó không phải chỉ màu mè bên ngoài mà đều là những ý nghĩa và vấn đề cốt lõi. Bởi tất cả những điều đó đều nhằm bảo đảm cho tự do cá nhân lẫn cả tự do xã hội vì vẫn chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề. Mác ngược lại nhằm lên án tất cả mọi điều đó, bởi chỉ quy vào đều tư sản, và dùng khái niệm giai cấp đấu tranh để quy chụp là độc quyền của giai cấp thống trị tư sản. Ý muốn dùng cuộc cách mạng vô sản, xây dựng kiểu độc tài vô sản để nhằm thay thế tất cả mọi điều đó. Thế nhưng tránh vỏ dưa chưa chắc đã không gặp vỏ dừa. Bởi bản chất của con người vẫn luôn luôn là một, cái sâu lắng bên trong vẫn luôn là bản năng ích kỳ thấp kém không bao giờ triệt tiêu được cả. Từ kết quả phát triển hướng tới tự do mọi mặt hơn, Mác muốn quay ngược lịch sử xã hội trở lại trạng thái thấp kém hơn, trì trệ hơn, khắc nghiệt hơn, để gọi là lý tưởng trong ảo tưởng, đó chẳng qua vì những định kiến tiền đề vốn đã sẳn từ trong mọi nhận thức và tư duy hay đầu óc của Mác.  

Từ đó Mác cũng không đủ thực tế sáng suốt để thấy rằng mọi con người sinh ra đời là chỉ nhằm để sống, nhằm để trải nghiệm đời sống, và nhằm để thể hiện bản thân nào đó vốn có của mình, không phải để cốt nhằm xây dựng cái gì đó giả tạo, ép buộc, do từ bên ngoài tới mà không phải mục đích chính yếu như là cứu cánh của chính bản thân họ. Có nghĩa mọi định chế xã hội phải do tự nó phát triển ra trong lịch sử theo yêu cầu đòi hỏi khách quan trong thực tế, không phải do ai muốn theo cách tùy tiện, giả tạo mà được, hay không ai quyết định hoặc áp đặt cho ai mà được. Kiểu chủ nghĩa xã hội và kiểu chủ nghĩa cộng sản, thực ra đều chỉ sự tưởng tượng huyền hoặc từ thị hiếu, cảm tính riêng của Mác, không phải cái thiết yếu gắn liền với xã hội hay bất kỳ cá nhân nào. Sống gởi thác về, đó là nhận thức khách quan từ ngàn xưa dân ta vốn có. Vấn đề làm sao đời sống phải phát triển theo văn minh và khoa học, thế thôi. Kinh tế gắn liền với đời sống đều phải do sức lao động gắn liền với khoa học kỹ thuật mang lại, không phải do thứ ý thức hệ lừa bịp, mờ mịt, phi lý, ngu xuẩn, mê tín, huyền hoặc nào mang lại cả. Trong khi Mác tự đặt sự huyễn hoặc của mình ra trước, rồi dùng những ngụy thuyết duy vật biện chứng lẫn duy vật lịch sử cố o ép, cưỡng chế vào, điều dó chỉ là những viễn tượng phỉnh gạt chẳng bao giờ hiện thực được hoặc cũng chỉ vô nghĩa trong thực tế.

Thành ra chủ thuyết của Mác cốt đấu tranh giai cấp để không còn giai cấp, thực hiện xã hội không giai cấp trong đó không còn hàng hóa, không còn thị trường, không còn tiền tệ, không còn tư hữu. chỉ còn lao động trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau, thật sự chỉ làm bế tắt xã hội, hư vô hóa xã hội, phi thực tế hóa con người và xã hội, chối bỏ lịch sử và hủy hoại lịch sử thực tế, thực chất chẳng bao giờ làm được trong đời sống thực tiển xã hội. Đã vậy Mác chỉ làm vong thân hóa con người và xã hội, đánh mất bản thân thực có để chạy theo bản thân hư ảo, hoàn toàn không thể có chút giá trị nhân bản nào cả lại được tự mệnh danh giải phóng giai cấp, giải phóng, con người, giải phóng xã hội, chẳng khác nào những cái đấm lung tung vào không khí để chờ tạo ra những kết quả hư ảo dù tự cho là lý tưởng tốt đẹp nhất cao nhất và cuối cùng nhất trong toàn cả lịch sử loài người.

Bởi nếu mọi tiền đề đặt ra không thật, mọi giả thiết đặt ra không thật cũng không bao giờ đi đến được những kết luận khả dĩ mang lại các kết quả hay giá trị xác đáng chân thực. Ý nghĩa về đời sống kinh tế của xã hội loài người cũng chính là những điều như thế. Nó phải dựa vào bản chất thực của chính nó, dựa vào tinh thần, ý thức nhân bản của con người phải có, dựa vào khoa học kỹ thuật khách quan nhằm đưa đến một xã hội càng gần với sự công bằng hợp lý mà không phải chỉ nhằm vào những sự phù du nào đó tự mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội”. Bởi ý nghĩa và giá trị của “chủ nghĩa xã hội chân chính” luôn nằm trong ý thức, tinh thần con người, nằm trong tình thương yêu, thông hiểu giữa nhau, mà không thể nằm trong sự chế ức, áp đặt, tuy gọi là chống bất công bóc lột, mà thật sự vẫn lại chỉ là một sự cướp đoạt bất công, phi lý khác, một sự chế áp tàn nhẫn do mọi tham vọng ích kỷ, thấp kém khác, nhằm để mạo nhận dưới những danh từ hào nhoáng, dối gạt, đao to búa lớn, chỉ có diêm dúa giả tạo bề ngoài mà thực chất chẳng có nội dung đích thực nào bên trong cả thảy, hay chỉ nhằm mang đến kiểu ý nghĩa đàn bầy. Vì thật ra ý nghĩa cốt yếu của nó là để nhằm cuối cùng đi đến loại dạng một “xã hội cộng sản” không tưởng chẳng nào khác. Nhưng chính tiền đề duy vật tuyệt đối và kết luận chuyên chính vô sản tuyệt dối chính nó đã triệt tiêu mọi giá trị hay ý nghĩa nhân bản nếu có trong toàn học thuyết của Mác mà không gì khác, mặc cho Mác có tự nhận mình khoa học, nhân bản, hay mang tính cách khách quan lý tưởng như thế nào. Bởi tất cả nó trở thành không tưởng là như thế. Khi tiền đề đặt ra không vững thì kết luận rút ra không vững hoặc chỉ có thể là giả tạo thế thôi.   

 

By VÕ HƯNG THANH

          (25/8/2021)