Vừa qua, vào mạng Internet, tình cờ thấy được
bài viết của ông Trần Đức Thảo : “DE
LA PHÉNOMÉNOLOGIE À LA DIALECTIQUE
MATÉRIALISTE DE LA CONSCIENCE (TỪ HIỆN TƯỢNG HỌC ĐẾN BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ Ý
THỨC), trên Tạp chí «La Nouvelle Critique » (số
79-80, 1974, tr. 37-42), đọc khá
thú vị, nên tôi muốn dịch ra, cho ai cần tìm hiểu thêm (kể cả cần đăng lại
nguyên văn Pháp ngữ), nhằm qua đó, viết một bài phê phán ngắn, có liên quan đến
chủ đề thiết yếu này. Nguyên văn bài viết của ông Thảo như sau:
Trong
cuốn HIỆN TƯỢNG LUẬN VÀ DUY VẬT BIỆN
CHỨNG, ngay vào lúc các mâu thuẫn hàm chứa trong tác phẩm của Husserl bắt buộc
tôi phải giải quyết, tôi tin rằng có thể dùng phương thức phê bình tích cực của
những nhà kinh điển Mác xít – Lêninít, về Hegel, để nhằm cách tìm giữ lại,
trong một chừng mực nào đó, phương pháp hiện tượng học, trong khi loại bỏ đi quan
điểm duy tâm của Husserl, cùng đặt nó lại “trên đôi chân của nó”, bằng cách hội
nhập nó vào chỉ như một khoảnh khắc, trong biện chứng pháp luận duy vật luận.
Tôi hi vọng qua đó, cũng đặt được vào trong sự vận dụng của chủ nghĩa Mác, một
công cụ phân tích giúp đi vào trong bản thân của đời sống thực; và như vậy,
cũng đem lại được một sự trả lời, có tính cách kiến tạo, đáp lại các chỉ trích
của những triết học về chủ thể. Tôi cũng đã đặc biệt lưu ý, đối với thuyết hiện
sinh (existentalisme),
mà ít ra, trong một phần nào đó của nó, ở Sartre, từng muốn thay thế, ngay
chính trên mảnh đất vẫn còn đang được tranh biện, về chủ nghĩa Mác, và nhất là,
thừa nhận trong một chừng mực nhất định, chân lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
trong phạm vi các sự kiện xã hội, chê trách nó là chẳng lưu ý gì đến tính cách riêng
biệt của các vấn đề về ý thức.
Dự
kiến đó, đã hình thành ra trong đầu óc tôi vào năm 1950, và tôi ít nhất cũng đã
bỏ ra một năm, để viết tiếp phần thứ hai của cuốn Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, về “biện chứng của sự vận động thật”,
nhằm chứng minh, trong vài ví dụ cụ thể, việc làm thể nào, mà hiện tượng luận
có thể bị «aufgehoben» : hủy bỏ, giữ lại, vượt lên, nói chung lại,
là bị hấp thụ một cách tích cực, vào trong chủ nghĩa Mác.
Tuy nhiên, ngay trong lần xuất bản tác phẩm vào năm
1951, tôi đã cảm thấy có chút lấn cần nào đó về vấn đề phương pháp đã được xác định
kiểu như thế, cho dầu sự phân tích sống động đã được thực hiện trên cơ sở của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, dường như cũng chỉ mang lại được những kết quả
hữu hiệu, để hiểu ra về hành vi loài vật, được trình bày ở chương đầu của phần thứ
hai. Chương hai, dành cho «biện chứng của những xã hội loài người », như
là sự diễn thành (devenir)
của lý trí, thực chất chỉ lặp lại những sự tìm tòi trước năm 1950, hay nói
khác, là trước khi tôi bước sang quan điểm có tính lý thuyết, về chủ nghĩa Mác.
Nói cách khác, dự kiến rất hấp dẫn về một Aufhebung, như một sự
xóa bỏ, nhưng cùng lúc, hấp thụ và hội nhập của Husserl vào trong Mác, được
nhận thức theo phương thức Aufhebung, hay cái mà tôi tin, đó chính là Aufhebung
của Hegel, bởi vì các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong thực tế, đã chẳng
giúp ích gì cho tôi trong nổ lực chủ yếu, kể cả sự phân tích về các thực tại của
con người.
Tuy thế, tôi tìm thấy một kiểu minh chứng trong thực
tại, là nguồn gốc của ý thức loài vật, dĩ nhiên, chỉ tiêu biểu hiển nhiên nơi
chính nó, chỉ có một lợi ích hạn chế rõ rệt, ngay cả điều có vẻ mang lại được một
kết quả có tầm quan trọng quyết định, trên bình diện lý thuyết, kể cả việc
chứng minh về nguồn gốc vật chất của ý thức, điều tách xa ra ngay từ đầu (a
limine) mọi lý thuyết về sự siêu vượt (transcendance). Còn phần những yếu kém quá hiển nhiên, nơi
các phác họa về sự biện chứng của những xã hội cùng với ý thức con người, tôi hẳn
phải rất ư xin lỗi, nhằm để nhanh chóng viết chương hai này, vì lý do của những
sự thiết yếu tức thời trong việc đấu tranh thực tế.
Cái tiếp đến cần phải chứng minh, là thật sự «thời
gian chẳng có nghĩa lý gì đối với sự việc cả », bởi vì cả suốt nhiều năm
dài, tôi đã bị rơi vào trong chính sự não nề triết học cách toàn diện. Một kết
quả thực tế, cũng tiêu cực, bắt buộc phải đặt lại vấn đề, đối với cả chính dự
kiến của Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Có chăng là thật
sự, có thể hành xử được cái Aufhebung của phần đầu, trong phần thứ hai
này, trên phương thức sự diễn tiến của Mác về Hegel ? Và trước hết, ngay
cả sự chuyển biến của biện chứng Hegel sang biện chứng của Mác, phải chăng tự
nó cần phải nói lên một cách chính xác, như là một Aufhebung ?
Trong khi quay lại việc nghiên cứu các tác phẩm của
Hegel, tôi nhận thấy về thực chất, nó chẳng có vấn đề gì cả. Mác, thật ra, cũng
chẳng lặp lại gì đối với Hegel, về sự vận hành đặc trưng của chính biện chứng
pháp Hegel, như là «loại bỏ và giữ lại », một sự loại bỏ vốn là giữ lại,
bởi vì, thời khắc chối bỏ và vượt lên, vẫn duy trì lại với cơ cấu tổng quát của
nó, trong khi có sự tự hấp thụ vào trong thời khắc đang vượt lên nó. Một sự
« vượt qua » của Hegel, hiểu theo nghĩa này cũng có nghĩa những dạng
thể tổng quát của sự vận động, như là sự phủ định, và phủ định của phủ định,
tạo nên cái «hạt nhân thuần lý», được bao hàm trong biện chứng duy tâm của
Hegel, vẫn tìm thấy lại trong biện chứng của Mác, được định nghĩa trong toàn bộ
bởi chính nội dung mang tính ý niệm « quay trở về », và «đặt trên đôi
chân » lại. Hay thực ra, chúng được biểu thị ở đây, trong những ý niệm
hoàn toàn khác; và phải chăng, cũng mang cùng chính tên gọi đó. Tức có nghĩa là
những ý niệm cùng loại, bởi vì, chúng cũng có tương quan trong
thực tế, với cùng biện chứng của các sự vật, nhưng ở đây chúng chỉ tương quan xuyên
qua một nội dung lý thuyết, không những đối nghịch, mà còn ngấm
ngầm dị biệt. Ý đồ của Mác nhằm « đặt lại trên đôi chân », không
những các phạm trù duy tâm nơi biện chứng của Hegel, nhưng còn chính là sự vận
động lịch sử trong nội dung thật, mang tính vật chất của nó, mà Hegel đã thần
bí hóa, không những bằng cách làm cho nó « bước đi bằng cái đầu », lại
còn bóp méo nó, chính trong cơ cấu nội tại của nó – trong lúc đặc biệt
biến đổi sự phủ định thật, kể cả sự vận động thật, có thể được mô tả theo những
từ ngữ hết sức tích cực và khoa học, mà qua đó, mỗi cách thức hiện hữu của vật
chất hàm chứa một thời khắc làm tiêu hủy nó, và vượt qua nó, trong «tính phủ
định » thuần túy suy tưởng, mà sức mạnh thần bí của « cái phủ
định », vốn chỉ là ý niệm được thần bí hóa việc phản ảnh sự vận động của lịch
sử thật, trong sự vận động của ý tưởng tinh thần, và làm hư vô hóa chính ở đó
mọi mọi sự kết cấu tích cực của nó. Nói khác đi, vấn đề đối với Mác, là nắm bắt
sự vận động lịch sử thực này, trong chính nó như là nó, và diễn đạt lại nó
trong lý thuyết, bởi một sự ý niệm hóa hoàn toàn mới, thật sự duy vật. Mác, như
vậy, đã đi đến việc hóa giải tích cực Hegel, không phải bằng cách « xoay
chuyển lại » cách đơn thuần những ý niệm của Hegel, nhưng thay thế chúng theo
cách đích thực và giản dị, bằng những ý niệm hoàn toàn khác hẳn, để nhằm thiết
kế lại, không những chiều hướng thật, kể cả những cơ cấu thực tế của tiến trình
các sự vật trong nội dung vật chất của chúng, nội dung thực tế được nhắm tới,
nhưng cùng lúc, còn làm lộn ngược lại những ý nghĩa hổn độn, bị bóp méo, và
làm dị dạng từ trong bản thân, trong các ý niệm của Hegel. Đối với
một tái lập như thế cho sự vận động thực, Hegel mang đến những chỉ định hữu
ích, bởi ông ta nhắm đến cùng sự diễn tiến lịch sử. Nhưng sự tái
lập chính nó, chỉ có thể có được, bằng cách nắm bắt, và bằng cách mô
tả tiến trình đó, trong thực tại đích thực của nó, vốn đã bao hàm một kết hợp
tuyệt đối nguyên gốc, của phương pháp biện chứng, một sự sáng tạo cơ bản, mà nơi
đó, những phạm trù của sự vận động được tự xác định một cách trực tiếp, trên
chính sự vận động của vật chất, trong cơ cấu thực của nó, «làm sao cho sự sống
của vật chất (la vie de la matière)
được phản ảnh ra trong việc tái tạo mang tính ý tưởng của nó » (Tư bản luận,
đề tựa sau của lần xuất bản thứ hai). Và nếu người ta tìm thấy ở đó «hạt
nhân duy lý » của biện chứng Hegel, thì cũng chính cái hạt nhân này chỉ có
thể được tự xác định một cách đúng đắn bằng ngôn ngữ của Mác, mà không
phải ngôn ngữ của Hegel.
Đó đúng là cái kết quả mà tôi đã tìm thấy ngay trong
cốt lõi của nó, nơi bài viết của tôi về «hạt nhân duy lý trong triết học
Hegel » (1) năm 1956, trong Tạp chí Viện Đại Học Hà Nội. Có thể không
còn là vấn đề gì trong những điệu kiện này, để giữ lại dự kiến của Hiện
tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, bởi chính cái mô thức, mà qua
đó tôi đã tin có thể dẫn dắt tôi, lại cho thấy hoàn toàn khác. Điều còn lại,
chỉ là việc làm mới lại tất cả công việc ngay từ đầu, đặt vấn đề không phải từ
một phân tích sống thực, có tính hiện tượng luận của ý thức, được thực hành
trên những vị trí của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà đúng ra, của một
sự áp dụng biện chứng duy vật vào trong sự phân tích về ý thức sống thực,
và giải quyết điều đó bởi chính nội dung của nó, kể cả bằng việc tạo dựng lại, một
cách có phương pháp, tiến trình thực, có tính vật chất, để từ đó được tự thiết
tạo nên việc vận động của tính chủ thể.
Sự tranh luận về vấn đề ý thức tại Liên Bang Xô
Viết
Vào cuối thập niên 50, được mở ra tại Liên Xô, một
sự tranh luận rộng khắp nói chung, đầy phấn chấn và nhiệt tình, về bản chất của
ý thức.
Những nổ lực thực tế đó, được đặt ra trong sự
chuyển tiếp từ chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô, và những
viễn cảnh chiến thắng, của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên bình điện thế
giới, cho thấy hiển nhiên, vai trò ngày càng lớn mạnh, trong thời đại của chúng
ta, trong ý thức, trong lịch sử, từ đó, là sự thiết yếu của việc phát triển
nhanh chóng sự nghiên cứu khoa học về nó, là điều bao hàm trên bình diện lý
thuyết, một sự thiết chế có phương pháp về những ý niệm nền tảng.
Định nghĩa cổ điển về ý thức, như sự «phản
ánh », hay « hình ảnh của thế giới bên ngoài », thiết yếu cốt nhằm
đi đến vấn để triết học nền tảng, vấn đề thực chất, vốn dĩ giải quyết được, dưới
khía cạnh kép của nó một cách quyết định. Tuy vậy, những nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác- Lênin vẫn còn chưa quan tâm đặc biệt về một khoa học cụ thể của
ý thức. Để thiết lập ra phương pháp luận nhằm nghiên cứu trong lãnh vực này,
điều thiết yếu, có vẻ, là làm chính xác hóa ý niệm về ý thức, bắt đầu từ những
phạm trù phổ quát nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kể cả vật chất, và sự
vận động. Thế giới chỉ là vật chất đang
vận động, hay là sự đang vận động của vật chất (Le
monde n’est que la matière en mouvement ou le mouvement de la matière), và nổ lực của nhận thức, cốt là nhằm nghiên cứu vật chất trong những
dạng thức khác nhau, nơi sự vận động của nó : «Một khi biết rõ được những thể dạng sự vận động của
vật chất, Engels viết trong cuốn Biện chứng của tự nhiên, chúng ta biết được
chính bản thân của vật chất, và từ sự kiện này, sự hiểu biết cũng được
hoàn thành ». Khoa học về ý thức, như vậy, dường như sẽ phải xác định
điều này, như một hình thức nào đó của sự vận động của vật chất: qua đó, nó sẽ nắm
giữ vị trí trong việc xếp loại tổng quát các khoa học, điều đó đồng nghĩa với
sự xếp loại những dạng thức khác nhau của sự vận động vật chất.
Tuy nhiên, một sự định nghĩa
như thế thực chất cũng đồng hóa ý thức vào một sự vận động vật chất đơn giản, và
điều đó, cho dầu những đặc điểm thế nào mà người ta có thể quy vào cho sự vận
động này, rõ ràng, vẫn tỏ ra không tương thích với «ý nghĩa tuyệt đối », đã
được Lênin nhấn mạnh, về sự đối lập giữa vật chất và ý thức, trong vấn đề
nhận thức có tính nền tảng : « Cái nào là tiên quyết, cái nào là
thứ yếu ?». Vì lý do sự đối lập tuyệt đối này, trên bình diện triết
học, ý thức sẽ phải được đơn giản coi chỉ như « một đặc điểm của vật chất
trong sự vận động » (Lênin), hiển nhiên, theo đặc điểm mang tính cách ý
tưởng, «như là hình ảnh chủ thể tính của thế giới khách quan », mà
không phải như một sự «vận động của vật chất », sẽ có vẻ chỉ như một
sự vận động vật chất bên cạnh những sự vận động vật chất khác.
Thế nhưng, từ một khía cạnh
khác, trong khi nhấn mạnh như vậy về về tính trừu tượng (idéalité) của ý thức, người ta vượt khỏi
được công cụ tạo ra nền móng cho sự nghiên cứu khoa học, đó đích thực là mục tiêu
của sự thảo luận. Thật ra, Lênin đã rất chính xác khi nói, bên ngoài những
«những giới hạn rất khắt khe » của vấn đề nhận thức luận nền tảng, sự đối
kháng giữa vật chất và ý thức, chỉ là tương đối. Và Engels trong thời đại của
mình, đã minh nhiên xem ý thức như sự vận động của vật chất, chính xác hơn, một
sự vận động của « óc não đang suy nghĩ » (Chống Duering), điều
này được khẳng định trong nội dung của Gia đình thần thánh, về điều
«vật chất đang tư duy ».
Tuy vậy, có điều là, ý thức
biểu hiện ra một đặc điểm mang tính ý tưởng, là không phủ nhận được, là tính
chất chủ yếu, mang ý nghĩa cho lợi ích việc nghiên cứu về nó, và người ta không
nhìn thấy, trong các điều kiện này, làm thế nào lại có thể giản lược nó, thành ra
một « dạng thức đơn thuần sự vận động của vật chất », công
thức mà Engels nhằm hết sức cố tránh.
Sự tranh luận được kéo dài
chút ít đến giữa thập niên năm 60 mà chẳng đưa đến những kết luận chính thức
nào, bởi lợi ích lại chuyển sang vấn đề con người, và sang chủ nghĩa nhân bản
vô sản. Tuy nhiên, sự tranh luận triết học đó về bản chất của ý thức, đã đưa ra
ánh sáng những điêu kiện của vấn đề: một phần định nghĩa về ý thức, như là
« hình thức vận động của vật chất », phải bị vứt bỏ, bởi vì thực tế,
nó quay về lại với một sự nhận chân có tính thiết yếu của ý thức với vật chất,
điều không thể giải quyết được vấn đề nhận thức luận mang tính nền tảng, mà thực
chất là đưa đến một sự rối tung tùng xòe, giữa quan điểm duy vật và quan điểm
duy tâm. Tuy vậy, mặt khác nếu người ta coi ý thức như một đối tượng của khoa,
và đặt nền móng cho sự nghiên cứu khoa học, hẳn nhiên, tất phải định nghĩa nó
theo cách này hay cách khác, khởi đi từ những phạm trù chung nhất của vật chất
và của sự vận động.
Từ quan điểm này, một sự phối
hợp chặt chẽ bắt buộc phải có giữa triết học và những khoa học về con người,
đặc biệt là tâm lý học, và nhân loại học, để tạo ra một cách biện chứng, ý niệm
về ý thức, trên những thiết chế về nguồn gốc thực sự của nó, trong sự vận động
của vật chất. Chiều hướng đó, tạo ra nhiều việc xuất bản có tầm quan trọng đáng
nễ, mở ra con dường đưa đến một khoa học cụ thể về ý thức, nhất là Nguồn gốc
của ý thức bởi Spirkine, Bản chất của hình ảnh bởi Tioukhtine, Vấn
để của ý thức trong triết học và khoa học tự nhiên bởi Chorokhova, Nhân
loại sinh ra như thế nào bởi Séménov.
TRẦN ĐỨC THẢO
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét