CÂU
CHUYỆN THẾ SỰ TỪ CÁC MÁC ĐẾN LÊNIN
Các Mác là người
chủ trương thuyết cộng sản toàn thế giới. Mác cho mình là người giải phóng toàn
nhân loại, mà trước tiên là giải phóng giai cấp. Đối Mác xã hội loài người từ
trước đến nay hay ngay từ đầu là xã hội đấu tranh giai cấp. Xã hội cộng sản
nguyên thủy là xã hội không có giai cấp nên cũng không có đấu tranh giai cấp. Nhưng
từ đó chuyển sang chế độ tư hữu là xã hội có giai cấp nên đã xuất hiện đấu
tranh giai cấp. Nguyên nhân chính yếu của nó là sự tư hữu. Mà có tư hữu là có
bóc lột giữa người và người.
Bởi vậy muốn dẹp
bóc lột trong xã hội loài người thì phải xóa tư hữu. Khi tư hữu không còn thì
giai cấp cũng không còn, tất cũng xóa luôn bóc lột. Căn cơ bóc lột theo Mác là
thị trường và tiền tệ. Bởi vậy phải thiết lập chế độ vô sản, không ai có tài sản
riêng, cũng không cần sử dụng thị trường và tiền tệ, mọi giai cấp khác nhau coi
như bị xóa bỏ, chỉ còn những người lao động công nghiệp gọi là giới công nhân
hay giai cấp công nhân, cùng lao động sản xuất và phân chia sản phẩm giữa nhau.
Giai đoạn đầu thấp, gọi là chủ nghĩa xã hội, làm theo năng lực hưởng theo đóng
góp. Giai đoạn sau cao hơn, lý tưởng hơn, mọi người cùng làm theo năng lực hưởng
theo nhu cầu.
Mục tiêu cuối cùng
của Mác không gì khác hơn là loại bỏ xã hội tư bản đẻ thực hiện xã hội cộng sản.
Ở đó không còn giai cấp cũng không có bóc lột, Mác quan niệm đây là sự xóa bỏ
giai cấp, tức cũng là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng toàn
thể loài người, vì lúc đó mọi con người đều thành lý tưởng, đều có long cao cả
và nhân đạo, cùng sống vô tư có lý tưởng, không ai còn ích kỷ vì chỉ toàn vô sản
với nhau, đó là xã hội hoàn toàn giải phóng tuyệt đối hay gọi là xã hội cộng sản
tột cùng và cao cả nhất.
Mác tin tưởng điều
đó có thể thực hiện được là nhờ dựa vào tính biện chứng của lịch sử. Khi thế giới
đã chia thành hai giai cấp đối nghịch là giới công nhân vô sản và giới chủ tư bản
giàu có, giới công nhân vô sản sẽ lật đổ giai cấp tư bản bằng cuộc cách mạng vô
sản trên toàn thế giới. Bạo lực cách mạng sẽ làm cho chủ nghia tư bản phải tự
chôn nhờ đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo thực hiện điều đó theo
khẩu hiệu công nhân toàn thế giới hãy đoàn kết lại, dùng đấu tranh giai cấp để
triệt hạ mọi giai cấp khác để chỉ còn duy giai cấp công nhân như trên đã nói.
Mác tự cho học
thuyết của mình là học thuyết khoa học tuyệt đối, vì dựa trên nguyên lý khách
quan tuyệt đối là nguyên lý biện chứng. Nguyên lý biện chứng này Mác lấy từ
Hegel, triết gia duy tâm Đức, để làm cái xương sống cốt lõi cho lỹ thuyết của
mình. Qua đó Mác cho rằng toàn bộ thế giới là vật chất, vật chất luôn luôn tự
mâu thuẩn và phủ nhận lẫn nhau, đó là học thuyết duy vật biện chứng mà Mác đưa
ra. Trên cơ sở đó Mác cũng cho rằng các giai cấp mâu thuẩn phải phủ nhận nhau để
làm cho lịch sử tiến lên và phát triển, đó là thuyết duy vật sử quan hay duy vật
lịch sử.
Chỉ có điều học
thuyết triết học của Hegel là hệ thống triết học duy tâm, bản chất của nó đặt
trên sự tồn tại của thứ Tinh thần nào đó mà ông ta gọi là Geist, mang trong mầm
mống nó sự biện chứng, tức sự tự phủ nhận liên tục để phát triển, tiến lên và
hóa ra toàn bộ hiện thực của thế giới. Trong khi Mác ngược lại hoàn toàn duy vật,
chủ tương bản thân của thế giới là vật chất tuyệt đối, tức không có thuộc tính
đặc trưng tiềm ẩn nào ngoài hơn là vật chất, vậy thì đưa qua niệm biện chứng của
Hegel vào đây liệu có ý nghĩa gì, kiểu chỉ như đem râu ông nọ cắm cằm bà kia,
kiểu thật sự hoàn toàn nghịch lý và phi lý.
Nhưng đây lại là
điều cốt lõi trong học thuyết Mác, bởi nếu không có niềm tin về quy luật biện
chứng cũng không thể có quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong
khi đó ý niệm biện chứng nơi Hegel thật ra chỉ là khái niệm tư biện đầy mơ hồ,
không chứng minh khoa học khách quan được, càng khiến học thuyết Mác chỉ trở
nên thần bí, huyễn hoặc, gần như một niềm tin mê tín, lại được Mác tự nhận là
khoa học, trong kiểu cách ức đoán chủ quan hay quan điểm áp đặt khiên cưỡng chỉ
đầy tính độc tài độc đoán.
Vả vật chất như khối
đá ven đường, ngàn năm vẫn chỉ là khối đá đó, nó chỉ có thể bị phong hóa, bị
tiêu tán đi, đâu bao giờ tự biện chứng để thay đổi ra cái khác như cái cây hay
con bọ hoặc con người được. Ngoài ra giai cấp thật ra chỉ một dạng cấu trúc bề
ngoài của xã hội cũng y như mọi vật thể khác nhau trong vũ tru này từ bản chất
vi mô đến bản chất vĩ mô, như cấu trúc nguyên tử, cấu trúc tế bào sống, cáu
trúc ngân hà, thiên hà, cả cấu trúc vũ trụ bao quát nói chung. Không bất kỳ vật
thể nào tồn tại mà không có cấu trúc, mà cấu trúc là sự phân chia luôn bó buộc,
vật vô cơ thì cấu trúc ổn định, vật hữu cơ thì cấu trúc dễ thay đổi nhiều hơn bởi
chính nó cũng là bản thân đời sống. Bởi vậy Mác hiểu giai cấp xã hội chỉ theo
kiểu nông cạn, đơn giản, có phần đầy cảm tính và nhất là đầy tính thị hiếu.
Thử ví dụ cái trứng
gà và cái hạt cây, chúng nở ra và nở mầm rồi lớn lên, đó vì hệ thống các genom
trong đó hoạt động thế thôi, đều theo chương trình sẳn và mục đích sẳn, chẳng
có gì là biện chứng hay phủ định của phủ định (Negation der Negation, la
négation de négation) vu vơ và vô bổ nào cả. Vả khi con gà hay cái cây đã lớn,
nó không bao giờ quay ngược lại được cái trứng cũ hay cái hạt cũ được nữa. Thế
nên nếu xã hội cộng sản nguyên thủy đã từng có, nó sẽ đi qua vĩnh viến, không
bao giờ quay ngược lại thời hái lượm không có giai cấp như Mác mong ước được nữa.
Vậy nếu cả ý niệm biện chứng là sai cũng như khái niệm quay lại là sai, sự lồng
ghép hai cái vào để tin tưởng vào một xã hội cộng sản ở tương lai chỉ là sự u
mê càn dở và vô duyện tuyệt đối.
Ngoài ra trời sinh
hay thiên nhiên tạo ra mọi sinh vật trong đó có loài người, mọi cá thể đều cần
tư hữu theo một dạng nào đó, vì đó chỉ là công cụ sống thiết yếu không thể
không có. Người mà không tư hữu là tuột xuống hay quay về lại thế giới hoang
dã, thành được mặt này mà không được các mặt khác chỉ là sự phi lý, ngổ ngáo và
đều vô tích sự. Mác chủ trương học thuyết về vô sản là trái tự nhiên khách
quan, trái khoa học và đều hoàn toàn nghịch lý với cuộc sống. Đó chẳng khác gì
một quan niệm tùy tiện, điên loan, chẳng có ý nghĩa thiết thực hoặc thiết yếu
nào cả. Ý niệm vô sản lẫn cả ý niệm cộng sản bởi vậy toàn huyễn hoặc, phi tự
nhiên, trái mục đích thiết yếu của cá nhân con người là sống để được hạnh phúc
và phát triển nhưng không phải để xây dựng mọi cái gì vô bổ, vô ích và huyền hoặc
vậy thôi.
Vả không phải qua
đấu tranh giai cấp buổi đầu mà xã hội phát triển. Đó là sự nhận thức kiểu không
tưởng của Mác. Con người phát triển là qua trí tuệ phát triển. Chính xã hội
loài người qua khám phá ra các dụng cụ thích ứng, tạo cho nền sản xuất phát triển,
kinh tế phát triển và đời sống phát triển thế thôi. Đó là vòng tuần hoàn phát
triển tự nhiên và cứ như thế. Từ thời kỳ hái lượm qua thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ
đồng, thời kỳ đồ sắt, thời kỳ khoa học kỹ thuật và đi đến thời kỳ khoa học điện
tử ngày nay, đó là sự phát triển về trí tuệ và về kỹ thuật khách quan mà không
hề có đấu tranh giai cấp gì trong đó cả. Mác chỉ như một anh mù quáng nhằm nói
những điều toàn tưởng tượng và đầy thị hiếu chủ quan mà không gì khác.
Đó cũng là nguồn gốc
làm giai cấp công nhân xuất hiện sớm nhất ở châu Âu vào vào thế kỷ 18, do nền kỹ
thuật máy hơi nước ra đời, mở đầu cho ngành dệt ở Anh và nhiều nước khác phát
triển. Lúc đầu giới công nhân còn nghèo vì nên kinh tế nói chung còn nghèo,
nhưng chắc chắn dần dần phải phát triển theo quy luật phát triển khách quan nói
chung thế thôi. Quy luật thị trường quyết định mức công xá hay lương hướng của
công nhân là thiết yếu. Sự bóc lột nếu có chỉ là sự đặc thù hay cá biệt nào đó,
không thể trở hành một quy luật khách quan như Mác quan niệm. Bởi bất kỳ ai
cũng có nhân cách, cá tính và trí khôn, không ai có thể bị nô lệ nếu không phải
ở trong chế độ nô lệ như thời thượng cổ.
Trong khi đó thị
trường và tiền tệ là điều kiện tồn tại, sống còn và phát triển của toàn xã hội
ngay từ lúc khởi đầu. Bởi đó là kỹ thuật hoạt động của số đông, đó là công cụ
tiện dụng tự nhiên, hiệu quả và không thể thiếu. Mác quan niệm đi đến một xã hội
không còn thị trường, không dùng tiến tệ là xã hội thụt lùi, thoái hóa về kinh
tế, phản lại lịch sử, chỉ là quan niệm điên dại, hoàn toàn rỗng tuếch và thật sự
nghịch lý mà Mác quan niệm cho đó là xã hội không có giai cấp là quan niệm ngây
thơ chỉ phỉnh dụ được những người khờ khạo, kém nhận tức, thiếu tư duy và hoàn
toàn nông cạn. Thành ra học thuyết Mác thật sự chỉ là học thuyết điên loan nếu
không muốn nói là phản thực tế và hoàn toàn hoang tưởng.
Và để bảo đảm sự
thực hành hoang tưởng của mình Mác khởi xướng ra lý thuyết độc tài hay chuyên
chính vô sản. Tức sự lãnh đạo hà khắc độc đoán để buộc mọi người cùng phải đi
theo con đường không tưởng mà không thể làm gì khác. Đây là quan điểm hoàn toàn
mông muội và đầy cực đoan của Mác. Bởi giai cấp vô sản khi xuất hiện gồm toàn
những người yếu kém trong xã hội, bị hạn chế nhiều mặt, không phải tuyệt đối là
thành phần tinh hoa thì làm sao mà điều khiển, hướng dẫn hay lãnh đạo xã hội được.
Vả còn biết bao thành phần cơ hội khác, cũng sẽ nhân danh thành phần vô sản mà
nhảy vào, chỉ làm cho xã hội đảo lộn, không mang ý nghĩa trật tự tối ưu hay ổn
định hợp lý và thiết yếu nào cả. Từ các nhận định như trên rõ rang thuyết Mác
chỉ là thuyết tưởng tượng đầy quái gở, không ý nghĩa nào thiết thực cả.
Thật ra khi những
người công nhân chịu thiệt thòi nào đó, vẫn còn có luật pháp, đạo đức truyền thống,
đạo lý và dư luận cá nhân, xã hội chỉnh sửa lại. Mác lại cực đoan phủ nhận tất
cả. Coi nhà nước, luật pháp, dư luận, đạo lý xã hội chỉ là công cụ của đấu
tranh giai cấp, công cụ của giai cấp thống trị, đều là thượng tầng kiến trúc để
đàn áp giai cấp công nhân vô sản, kể cả tôn giáo cũng chỉ là thuốc phiện ru ngủ
quần chúng. Nói chung mọi giá trị hay ý nghĩa văn minh của xã hội Mác chẳng kể
vào đâu nữa. Cả truyền thống đạo đức từ ngàn đời xưa cũng được Mác coi là thượng
tầng kiến trúc của xã hội tư sản cần phải tiêu diệt đi để thay vào cái hoàn
toàn mới là đạo đức vô sản, tức chỉ là độc tài vô sản mà không còn ý nghĩa nào
khác.
Như vậy ai cũng thấy
học thuyết Mác là học thuyết tuyệt đối cực đoan và hoàn toàn tiêu cực. Bởi chỉ
mê say vào cái hoàn toàn hư tưởng là xã hội thần tiên không giai cấp, xã hội đại
đồng xây trên mây mà Mác nhằm xóa bỏ, tiêu diệt xã hội loài trong thực tế để nhằm
xây dựng hay thay thế vào đó một xã hội hoàn toàn hư ảo. Bởi Mác quên đi xã hội
con người bao giờ cũng gồm toàn các cá nhân chứa đầy bản năng trong đó. Đây là
ý nghĩa khách quan không bao giờ dùng chủ quan thay thế hay loại bỏ đi được.
Nên nguyên tắc xã hội là phải dùng khoa học, dùng đạo lý, dùng giáo dục, cả
dùng kỹ thuật tâm lý để cải thiện, thích nghi mà hoàn toàn không thể nào khác.
Mác lại chơi kiểu xóa bài làm lại, đốt rừng trồng lại theo kiểu phản khoa học,
phản thực tế, mê tín dị đoan, cạn tàu ráo máng nếu không nói là ngu xuẩn chỉ có
thể nói là điên loạn, không còn suy nghĩ kiểu nhân văn hay bình thường nữa.
Và chính nguyên tắc
độc tài vô sản Mác đã cài chốt tất cả mọi xã hội nào làm theo thuyết Mác. Bởi
đây là kiểu thủ tiêu mọi tự do dân chủ chính đáng và cần thiết trong lòng nó để
chỉ còn là một xã hội cuồng tín, tối tăm, thủ tiêu mọi văn hóa nhân văn cần có.
Biến xã hội trở thành xã hội vật hóa, không còn con người tự nhiên nữa, mà trở
nên những yếu tố máy móc một chiều tuyệt đối. Bởi nổi sợ hãi vì bị kiềm thúc hủy
diệt hết mọi năng lực tư duy tự có, chỉ thành kiểu bày đàn răm rắp từ trên chí
dưới, không thành giai cấp nào cả mà chỉ thành khối quán tính máy móc, kẻ nào cầm
quyền tối cao thì trở thành nhà vua duy nhất và tuyệt đối. Đó là kiểu quyền lực
phi nhân, vì chỉ những người ở chóp bu mới đấu tranh ngầm lẫn nhau để trở thành
người quyền lực duy nhất kia và cứ thế đấu đá nhau mãi, duy xã hội còn lại chỉ
là một đám bầy nhầy hoàn toàn bất lực và tiêu cực từ trên xuống dưới. Kết quả
chì hoài tồn tại như thế và cũng không bao giờ đạt đến cái không tưởng mà Mác
đã từng rao giảng từ đầu nữa.
Thành noi tóm, học
thuyết Mác thật sự chỉ là học thuyết phi nguyên lý hay phản nguyên lý khách
quan. Nó chỉ thay vào những nguyên lý không có thật hay phản hiện thực, khiến
chủ nghĩa Mác hoàn toàn trở nên một chủ nghĩa phi hiện thực hay biến thành một
chủ nghĩa hư vô trong thực tế. Tức nó lấy cái không làm cái có, cái phi làm cái
thực, dễ dàng đổi lấy mọi sự phung phí vô hạn trên nhiều mặt cho một mục đích
hoàn toàn không tưởng vì chỉ đầy tưởng tượng. Tất cả những điều phi lý đó trong
học thuyết Mác lại được Lênin nhằm thực hiện lâu dài ở nước Nga tức Liên Xô cũ
suốt bảy thập niên rồi cuối cùng vẫn phải sụp đổ và tan rã. Nhưng chính nó đã
lan tràn ra khắp thế giới kể từ đó dù có nơi nó được thành công hay thất bại
trong việc đấu tranh giành quyền lực nhưng thật sự vẫn hoàn toàn thất bại về mặt
xã hội. Vì nếu không có Lênin cũng không thể nào tạo được tất cả những điều đó,
bởi nước Nga hoàn toàn lạc hậu thời Lênin lại chính là miếng đất hoàn toàn mầu
mỡ đã gieo tốt hạt giống đỏ của lý thuyết Mác vào chính thời kỳ đó.
THƯỢNG NGÀN
(07/4/24)
**
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét