Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2024

PHÊ PHÁN CHẾ ĐỘ TƯ HỮU, TƯ BẢN TỰ DO VÀ CHẾ ĐỘ VÔ SẢN ĐỘC TÀI ĐẢNG TRỊ CỦA CÁC MÁC

 

PHÊ PHÁN CHẾ ĐỘ TƯ HỮU, TƯ BẢN TỰ DO VÀ

CHẾ ĐỘ VÔ SẢN ĐỘC TÀI ĐẢNG TRỊ CỦA CÁC MÁC

 

Trong xã hội loài người hiện nay, tức trên toàn thế giới, hiện có hai chế độ xã hội tiêu biểu, là thể chế tư bản tự do, và thể chế độc tài đảng trị. Kết quả này, do sự phát triển của lịch sử từ sau chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ thực dân, chế độ cộng sản của cuộc cách mạng tháng mười Nga 1917, và lẫn cả đến hai lần cuộc Thế chiến.

Chế độ độc tài hiện tại có thể do một nhóm cầm quyền, một cá nhân cầm quyền, trong sự hậu thuẩn của một đảng chính trị nào đó, hoặc thế tục hay tôn giáo, có thể là vô thần hay hữu thần. Tuy vậy kinh tế tự do tùy theo những mức độ nào đó ngày nay là phổ biến, không còn chủ trương vô sản như sau cuộc cách mạng tháng mười của Nga nữa.

Điều đó cho thấy học thuyết Các Mác đã hoàn toàn phá sản, hay phải chịu một bước lùi toàn diện, không còn ý nghĩa nguyên thủy tuyệt đối của nó nữa, như kiểu chính quyền chuyên chính hay độc tài vô sản, kinh tế tập thể toàn diện, đánh đổ tư hữu, tiến tới thế giới không có giai cấp, hủy bỏ toàn diện thị trường và tiền tệ, nhắm đến làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Kể cả cuối cùng cũng không còn nhà nước, không còn pháp luật, vì tất cả các thiết chế đều không còn cần thiết và bị đào thải.

Tất cả chỉ còn duy một giai cấp công nhân công nghiệp, và cuối cùng cũng không còn giai cấp nào nữa, mà mọi người cùng lao động và tự phân chia sản phẩm với nhau, là chế độ xã hội cộng sản tuyệt đối theo Mác quan niệm. Đây thật là một ý niệm hoàn toàn không tưởng, đầy mê tín phiêu lưu mà Mác từng chủ trương mê muội nhưng tự xưng là khoa học xác thực khiến một lớp người ban đầu kém nhận thức, đầy cuồng tín, quyết thực hành cho bằng được.

Trong khi đó chế độ xã hội tư bản tự do chỉ là sự phát triển tự nhiên, khách quan của loài người không hơn không kém. Con người lúc đầu chỉ mới biết hái lượm là xã hội cộng sản nguyên thủy, hoàn toàn chưa có của cải riêng tư, chưa có tư hữu. Rồi dần dần các công cụ được phát sinh, qua thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, tư hữu cũng dần dần được phát sinh đa dạng và củng cố thêm. Tất nhiên vẫn phải có một nền pháp luật làm nền để chi phối và tránh mọi sự hổn tạp hay quá đáng trong đó.

Mặt khác công cụ tiền tề và quy chế thị trường cũng ra đời tạo mọi sự tiện dụng, tiện nghi, tiện ích không thể thiếu để đời sống xã hội phát triển đi lên, mọi người được hưởng thụ theo hoàn cảnh riêng cùng đóng góp theo điều kiện riêng vào cho lợi ích xã hội nói chung một cách tự động theo hệ hoạt động nói chung mang tính cách phổ biến, hiệu quả và hữu ích nhất.

Khi nền khoa học dần dần phát triển cũng làm cho nền kỹ thuật lần lượt ra đời và tăng tiến lên, ban đầu là kỹ thuật đơn sơ, sau lên ký thuật cơ giới máy móc, cuối cùng là kỹ thuật phức hợp, điện tử, tự động ngày nay trên thế giới là hoàn toàn chính đáng, khách quan, thiết yếu, không có gì là tệ hại hay lạc hướng cả. Tức kỹ thuật làm cho tư bản ra đời như một định chế thiết yếu, ngày càng cải thiện và tiến lên mãi, càng giúp ích cho nền kinh tế phát triển và tạo đà cho tiến bộ khoa học kỹ thuật thêm nói chung, và vòng quay khách quan đi lên chỉ đều là vậy.

Có nghĩa tư hữu chính là yếu tố khách quan của mọi sinh vật tồn tại tùy theo mức độ khác nhau mà cao nhất chính là loài người bởi loài người có lý trí, có tình cảm vượt xa trên loài vật. Tư hữu bảo đảm sự tiện ích, sự an toàn, sự tự do cho mỗi cá nhân lẫn cho các thế hệ tương lai mà chính cá nhân đó có yêu cầu cưu mang và phát triển. Tư hữu cũng dễ dàng giúp cho sáng kiến cá nhân, bởi không ai được quyền can dự vào một cách không chính đáng, tạo mặt bằng và mục tiêu phát triển nói chung là điều không bao giờ chối cãi được.

Tư hữu bởi vậy cũng gắn liền với cơ chế thị trường, sự cạnh tranh lành mạnh và thiết yếu, gắn liền với hệ thống tiền tệ hoàn cảnh và càng ngày càng phát triển, canh tân, làm mới lên mãi mãi. Tư hữu, tiền tệ, thị trường, nền tự do dân chủ, thực chất là một hoạt động hài hòa, các yếu tố đều liên đới, cùng phát triển theo sự đi lên của lịch sử, luôn luôn như là thực tại khách quan, gắn kết vào nhau một cách chính đáng, làm xã hội phát triển sinh động, tự nhiên, hiệu quả mà không hề có chút gì là giả tạo cả.

Thành ra các yếu tố đó nổ bùng ra từ đầu thế kỷ 18 ở châu Âu là nhờ sự xuất hiện của máy hơi nước, tạo thành động lực cho ngành dệt, là yếu tố thiết yếu của toàn thế giới, thành khiến nó được phát triển như vũ bão. Vương quốc Anh là nước đầu tiên đi theo hướng đó rồi cuối cùng nhiều nước Âu châu cũng theo đó. Điều đó ban đầu cũng đặt ra các ngu cầu về nguyên vật liệu, sự cạnh tranh trên thế giới, nên làm phát sinh chế dộ thực dân, thuộc địa là điều không thể tránh khỏi bởi do sự không đồng bộ về khoa học kỹ thuật lẫn sự khác biệt về tồn tại tài nguyên giữa nhiều nơi lúc đó trên thế giới.

Sự sai trái của chủ nghĩa thực dân là điều dễ nhìn thấy, đó là tính cách tiêu cực nặng nề ban đầu của nó, nhưng nói thật ra mặt tích cực không thể chối bỏ là nó giải quyết đầu ra cho nhu cầu sản suất mọi mặt, đem đến sự phát triển đáp ứng tiện nghi cho bộ phận người nhất định của toàn nhân loại mọi nơi lúc bấy giờ, làm công kỹ nghệ phát triển ở nhiều nước, và kể cả nền văn minh vật chất nói chung của nhân loại cũng được đẩy tới.

Thế nhưng lúc đó xuất hiện Các Mác là người Đức sống ở Anh khi ấy chỉ nhìn tuyệt đối ở mặt tiêu cực của chế độ tư bản mà không nhận ra các mặt tích cực tiềm ẩn nơi bản thân chính nó. Mác chỉ nhìn thấy xã hội thị trường là xã hội bóc lột, xã hội giai cấp, và tách biệt giàu nghèo, nên Mác chủ trương loại bỏ tư hữu, loại bỏ thị trường, không dùng tư bản, tiền tệ nữa, mà đấu tranh giai cấp, tận diệt giai cấp, để chỉ còn giai cấp công nhân tự làm chia nhau theo sản phẩm, coi như giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội để loài người tiến lên trong viên miễn là thế giới đại đồng hay cộng sản mà có số người vẫn hằng mong ước.

Thật ra Mác chỉ nhìn riêng mỗi một việc mà không thấy nhiều việc khác, chỉ nhìn duy một chiều mà không thấy những chiều khác. Mác chỉ nhìn giới công nhân vô sản ở xã hội công nghiệp lúc đầu là toàn nghèo khó mà không biết rằng nhu cầu xã hội luôn dần dần cải thiện khi nền kinh tế phát triển đi lên, lần dần dần trí tuệ của những người hiểu biết, những nhà trí thức chân chính thật sự vẫn quyết tâm phát triển pháp luật, cải thiện mọi bất công đang tồn tại để phát triển nền tự do dân chủ đi đúng hướng và càng ngày càng hiệu quả thật sự.

Đó chỉ là sự phát triển làm sao cho đúng quy luật khách quan thiết yếu, tự nhiên, mà không phải phát triển theo cách đều ảo tưởng, hoang tưởng mà Mác theo cảm tính chủ quan và thị hiếu sai lầm của riêng cá nhân mình để nhằm bày đặt. Bởi vì quy luật thị trường là quy luật luôn luôn khách quan, tự nhiên, cần thiết và thiết yếu, luôn luôn có sự công bằng tự thích ứng, còn sự bóc lột nào đó nếu có chỉ đều là sự bất công tạm thời và phải tự điều chỉnh, không bao giờ là quy luật chặt chẽ, bất biến mà thực chất tư duy thiên kiến hay kể cả bệnh hoạn của Mác chỉ nhằm tưởng tượng, thêu dệt, bất chấp mọi khách quan thực tế.

Vả chăng giai cấp xã hội cũng không phải điều gì luôn luôn bất biến mà nó mãi thay đổi, biến chuyển tùy theo hoàn cảnh điều kiện bên ngoài lẫn bên trong của mọi cá nhân liên quan ảnh hưởng đến. Vả chăng giai cấp xã hội chỉ là cấu trúc bề ngoài của mỗi giai đoạn mà yếu tố đẳng cấp phức tạp nơi tâm lý mỗi cá nhân luôn tác động đến. Hơn thế nứa, mỗi thế hệ xã hội không phải luôn bất biến mà đều đổi thay theo không gian, thời gian, ẫn theo ý nghĩa nội lực của từng người. Như tài năng, học vấn, ý chí cá nhân, điều kiện cá nhân, cả sự may mắn tạo ra nhiều yếu tố đẳng cấp khác nhau, mà kết quả sự khác nhau bề ngoài nơi nấc thang xã hội tạo thành giai cấp, đó chỉ là sự phân loại, sự nhận thức bề ngoài, chỉ là phạm trù phân biệt các sự dị biệt mà không gì khác, chỉ là yếu tố hiện tượng nhất thời mà không bao giờ là bản chất bất biến nơi mỗi con người.

Thế nên khi Mác kết hợp khái niệm bóc lột với khái niệm đấu tranh giai cấp chỉ thật sự là giả tạo và khiên cưỡng. Bởi hai yếu tố này không thật sự là bản chất hay tính chất sâu xa của xã hội, để làm nên nguyên lý đấu tranh giai cấp như là quy luật của xã hội, thực chất chỉ mang tính hoang tưởng, bịa đặt, tưởng tượng, không có cơ sở thực tế nào cả. Trong Tuyên Ngôn Cộng Sản, Mác tự tuyên bố xã hội loài người ngay từ khởi đầu đến nay luôn luôn là xã hội đấu tranh giai cấp. Đó chẳng qua Mác dựa vào biện chững luận của Hegel, tin tưởng kiểu cuồng tín hay mê tín là khi sự có hai đầu mâu thuẩn, đối lập nhau tất yếu phải có một đầu bị phủ nhận hay bị tiêu diệt. Sự đấu tranh bất khoan nhượng giữa vô sản và tư bản cuối cùng sẽ làm cho tư bản tiệt tiêu hay tự chôn để chỉ cón giai cấp vô sản.

Thật ra khái niệm biện chứng của Hegel chỉ là khái niệm kiểu tư biện, mơ hồ, không có gì chứng minh mặt thực tế khoa học khách quan cả. Trên thế gian có bao mặt đối lập mà có khi nào tiêu diệt nhau đâu. Như mặt trăng mặt trời, ngày và đêm, mặt phải và mặt trái của một bức tranh, một huân chương, một đồng tiền, giữa giống cái và giống đực, đàn ông và đàn bà, giữa hai cực một thành nam châm, chúng vẫn tồn tại cùng nhau và có bao giờ tiêu diệt nhau đâu. Sự huyễn tưởng của Các Mác thật vô tiền khoáng hậu, chỉ nhìn theo sự mê sảng mà không khách quan, tỉnh táo và sáng suốt nào cả.

Khi Hegel nói sự phủ định của phủ định và Mác cũng lặp lại như vậy cho là nguyên lý của sự phát triển nói chung. Nói như vậy là sự vô ích và bằng thừa, kiểu hoàn toàn tư biện, vì không mang đến một chân lý mới nào cả, kiểu chỉ nói để nói, nói lòng vòng, kiểu nói toàn hình thức, rỗng tuếch. Thật ra quà trừng nở ra con gà hay tế bào phân chia và phát triển, không phải sự phủ định chính nó hay sự phủ định liên tục mà thực tế là sự vận động của hệ gien hay genom đã nằm sẳn trong bản thân của nó. Xã hội phát triển không phải nhờ đấu tranh giai cấp mà thật ra nhờ yêu cầu của trí tuệ đi lên làm ra các vât phẩm mới để đáp ứng các nhu cầu đời sống mới và cứ tiếp diễn như thế. Xã hội phát triển qua tinh thần con người tác dộng lên vật chất mà hoàn toàn không phải ngược lại kiểu như Mác ngụy biện.

Chính sự phát triển cùa khoa học kỹ thuật làm cho kinh tế tiến lên, đáp ứng các yêu cầu đời sống, tinh thần cũng như vật chất, làm xã hội đi lên, mà chính có yếu tố tinh thần nằm trong đó, không phải cơ chế vật chất nào tự động như Mác mường tượng kiểu hoàn toàn huyền hoặc cả. Nên ngay từ tiền đề Mác cho tồn tại vật chất là duy nhất và chi phối tất cả. Đó chỉ là kiểu nhìn hiện tượng để quy ra bản chất, từ đó phịa ra duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chẳng qua là cách nói vu vơ, mê hoặc. Khi Mác chủ trương tuyệt đối duy vật, điều có cũng có nghĩa học thuyết Mác là học thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa. Vì tự bản thân vật chất không có thuộc tính nào khác là bản chất chai ỳ, thế thì còn biện chứng nỏi gì, hay còn nói đến ý nghĩa đạo đức là thế nào cũng như mục tiêu xây dựng xã hội tốt đẹp là như thế nào được nữa. Thế nên hệ thống tư duy của Mác chỉ đầy tính nghịch lý và hoàn toàn không tưởng chính là thế.

Thật ra nền kinh tế tư bản là sự phát triển tự nhiên, khách quan từ xã hội tư sản đi lên, và tiến vào thời kỹ nghệ ban đầu và công nghiệp hiện nay. Bản chất của nó luôn là xã hội tự do và sau này gắn thêm yếu tố khoa học kỹ thuật. Đó là sự phát triển tuyến tính hay theo đường thẳng khách quan tự nhiên của toàn lịch sử xã hội loài người tiến lên cho tới nay. Giai đoạn đầu của chế độ tư bản tự do tất nhiên có dầy những khiếm khuyết do còn non nớt, chưa trưởng thành, chưa hoàn thiện. Nhưng với thời gian mọi trở ngại, bất công lúc đầu càng ngày càng khác phục do cơ chế nó phải tự hoàn thiện, bổ sung, củng cố, tăng trường và thích ứng để tự đi lên.

Chẳng hạn sự bóc lột giới lao động làm thuê hay công nhân ăn lương lúc ban đầu ngày càng được pháp luật quan tâm và bảo vệ. Đó là yếu tố hay yêu cầu nhân bản tất yếu mà xã hội loài người lúc nào cũng tự nhiên phải có. Trong khi đó, trước các thực tại cần phải cải thiện và bổ sung thêm các biện pháp hữu hiệu và cần thiết, thay vì góp phần mình vào bằng cách yêu cầu hay sáng kiến tích cực nào đó để hoàn thiện nó, Mác lại nghĩ ra một ý thức hệ mới để thay thế hoàn toàn đối với nó. Mác vin vào lý thuyết biện chứng mơ hồ của Hegel để cho rằng hai đầu đối lập, tức ở đây hai giai cấp đối lập là vô sản và tư bản phải triệt tiêu nhau và vô sản phải thắng và tư bản phải tự hủy diệt hay tự chôn.

Một tầm nhin cá nhân lạ tự cho là bảo quát lịch sử, là chân lý tuyệt đối, chân lý duy nhất đúng, chân lý vô địch theo luận điệu tuyên truyền về sau, và cả Lênin cũng coi là đêm đầu của cách mạng vô sản là điều thật sự khó hiểu được. Bởi dựa vào nguyên lý biện chứng của Hegel theo kiểu tin càn, khẳng định càn, thì lấy gì làm cơ sở, nếu không phải chỉ vì cảm tính và thị hiếu có sẳn để áp dụng một cách võ đoán một niềm tin vu vơ chẳng có chút gì là nền tảng khoa học thật sự vững chắc khách quan thì có khác nào chỉ kiểu tinh thần ngụy tín và cuồng tín mà ngay chính bản thân Mác cũng vấp phải.

Nên thật sự Mác chỉ kết lại một số ý niệm đầy cảm tính, rồi dựng ra như các nguyên lý khách quan, gọi là sự bóc lột, giai cấp, đấu tranh giai cấp, biện chứng, thiên đường cộng sản, tuy toàn là những suy nghĩ, tư duy một chiều, để tạo nên một hệ thống ý thức hệ giả tạo, đầy tính khiên cưỡng, nhằm áp dụng bạo lực, cưỡng chế nhằm thực hiện nó, tin đó là chân lý cách mạng thì thật sự đầy tính huyền hoặc hay tính cảm khoái. Trong khi cách mạng đúng nghĩa chỉ là sự khai mở nhằm vượt qua một nút thắt cản ngại tạm thời nào đó để tiến lên, Mác lại nhằm xóa bài làm lại ngay từ đầu, dốt rừng trồng lại ngay từ đầu thì thật sự hoàn toàn quá đáng và quá khích. Chỉ cần một nhánh cây còn èo ọt, thay vì quan tâm săn sóc nó, lại đốn cây trồng lại cây khác cho tốt đẹp hơn thật là phản khách quan và vô lý chỉ kiếu tư tưởng phiêu lưu, vô lối.

Vả chăng nguyên lý xã hội cũng như mục đích xã hội là từng cá nhân con người kết lại. Chính cá thể là mỗi đơn vị thiết yếu tạo nên xã hội và làm ra lịch sử mà không gì khác. Đa phần cá nhân lành mạnh là cơ sở để xã hội lành mạnh, và mục tiêu chung của xã hội cũng không gì khác là phục vụ cho nguyên lý đó. Cá thể phát triển tự nhiên thì tổng thể cũng phát triển tự nhiên. Mỗi tế bào trong thân thể, mỗi cá thể cây trong rừng, từng cá nhân trong xã hội, đó chỉ là nguyên lý bình thường, khách quan, tự nhiên, chẳng có gì là ghê gớm cả. Cho nên nguyên tắc tự do dân chủ và bình đẳng luôn và phải đi đôi với nhau, mọi nguyên lý độc tài và bất công đều không có cửa và không có cơ sở bởi vì nó phản lại mọi ý nghĩa khách quan và ý nghĩa độc lập tự do của mỗi cá nhân.

Mác dựa vào nguyên lý biện chứng mơ hồ huyễn hoặc để tự cho đấu tranh sẽ tất yếu tiêu diệt hai đầu đối kháng, chỉ còn lại duy giai cấp vô sản và dẫn đến thiên đường cộng sản làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu, điều đó kiểu hoàn toàn thần bí, huyễn tường mà không bao giờ có cơ sở khách quan nào cả. Từ đó Mác phịa ra phải có đảng toàn trị của giai cấp làm tiên phong dẫn đường đưa lối, điều này cũng chỉ võ đoán, khiên cưởng vì không thực tế. Đây cũng chỉ là quan điểm thần bí, mê tín, một niềm tin chủ quan một chiều mà không có yếu tố khách quan nào xác định cả. Chỉ bởi vì tâm lý con người là vô cùng phức tạp, thường có chứa những bản năng tiềm ẩn, có cá nhân nào là hoàn toàn tuyệt đối thần thánh mà không có yếu tố tham vọng, thời có hay cơ hội xen vào. Đây cũng là yếu tố mê tín và hoàn toàn hoang tưởng nơi tư duy của Mác.

Chính bời vậy nguyên lý độc tài vô sản như cái ngàm mà Mác đã gài độ cho toàn xã hội. Dưới cái ngảm đó xã hội sẽ không bao giờ thay đổi được nữa cho dầu là chỉ đi vào các triển vọng bế tắt nguy hại hoặc vô bổ. Cũng có người nói các khuynh hướng xã hội Mác xít về sau này đã hoàn toàn từ bỏ quan niệm độc tài hay chuyên chinh vô sản. Điều đó thực chất chỉ ngụy biện nay nằm mơ, bởi đây là xương sống quyết định cho mục tiếu học thuyết Mác, có bao giờ mà được loại bỏ, vả lại khuynh hướng của mọi người nắm quyền và lợi, có ai dại gì mà từ bỏ các lợi ích hay ưu tiên của chính mình. Chính cái ngàm hay cái chốt tiêu cực này mà phải chịu trách nhiệm về sự khống chế xã hội nhiều mặt đối với xã hội mà Mác đã tạo ra.

Trong khi đó xã hội tư sản hay tư bản chỉ là xã hội khách quan, tự nhiên, tự nó tồn tại và phải phát triển đi lên thiết yêu, vì một mặt phải dựa vào các yếu tố, yêu cầu khoa học kỹ thuật, mặt khác phải dựa vào nguyên lý tự do dân chủ và mục đích nhân bản mà loài người đương nhiên phải có. Vậy nhưng vì tâm lý độc tài độc đoán, vì sự cuồng tín một chiều vốn có Mác cho rằng xã hội tư sản hay tư bản đều là xã hội có giai cấp, và mọi cấu trúc, hoạt động cũng như giá trị thừa nhận của nó chỉ nhằm phục vụ giai cấp, cả tôn giáo, tư duy triết học mà mọi lãnh vực tinh thần khác, kể cả đạo đức đều cũng vậy. Mác cho chỉ có xã hội vô sản và đạo đức vô sản mới là ý nghĩa và giá trị tuyệt đối. Đây là điều bất di bất dịch của học thuyết Mác, và điều này cũng cho thấy Mác không bao giờ là nhà triết học, nhà khoa học hay nhà tư tưởng nhân văn mà thực chất chỉ là nhà tư tưởng chính trị huyền hoặc, không khách quan, thiếu xác đáng, mà kiểu chỉ nhằm tính kênh kiệu, để cốt phục vụ thuần túy cho sự cuồng tín, cùng mưu đồ đầy tính chất cảm tính, cũng như đầy chất thị hiếu của riêng mình.

 

THƯỢNG NGÀN

(12/4/24)

 

**

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét