Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2024

PHÂN TÍCH VÀ PHÊ PHÁN CỐT LÕI VỀ HỌC THUYẾT CÁC MÁC

 

PHÂN TÍCH VÀ PHÊ PHÁN CỐT LÕI VỀ HỌC THUYẾT CÁC MÁC

 

Mọi sự phê phán nếu không phân tích chỉ đểu nông cạn, hời hợt, vì không chứng minh được điều gì và cả khi chỉ nhằm cảm tính và rất có thể thiên lệch. Đó là sự phê phán kiểu khen chê do thị hiếu, ưa thích hay thù ghét mà không phải là sự khách quan nhằm lợi ích đúng đắn và khoa học thật sự. Có người cho rằng ngày nay sự phê phán học thuyết Mác là hoàn toàn vô ích vì không còn cần thiết nữa, có nghĩa ai cũng đã biết học thuyết Mác thật sự sai hay đúng như thế nào rồi qua sự kiểm nghiệm trên toàn thế giới trong suốt gần một thế kỷ đã qua.

 

Tuy nhiên như vậy vẫn còn hời hợt, nông cạn hoặc chỉ nhằm một thiển ý nào đó. Bởi vì khách quan và khoa học luôn luôn không ngừng thay đổi, phát triển, nên mọi nhận thức không thể chỉ dừng mãi ở một điểm nhất định mà luôn phải tiến tới. Sự nhận thức của số đông có khi chỉ phụ thuộc vào một vài người, và sự nhận thức chung toàn xã hội cũng đều như thế. Chính sự nhận thức quyêt định dân trí hay mặt bằng dân trí của toàn xã hội, có thể làm cho xã hội tiến lên, ngưng trệ, hay tụt xuống, chính là điều cần phải quan tâm hơn hết, vì nó liên quan đến tất cả mọi người mà không chỉ riêng ai cả.

 

Sự phân tích làm cho sự phê phán cốt lõi càng sâu xa, đầy đủ và hoàn chỉnh hơn cũng như ngược lại. Chính cái cốt lõi mới luôn luôn là cái quyết định mà không phải chỉ những cái râu ria, nông cạn, hoặc hời hợt bên ngoài. Bởi cái cốt lõi là cái trọng tâm nhất, trung tâm nhất, và cả quyết định nhất. Đó là cái xương sống, cái bản lề, cái sâu thẩm, sâu xa nhất quyết định cho mọi cái khác mà người ta không thể hời hợt bỏ qua hay quên đi được. Sự phân tích cái cốt lõi làm cho sự phê phán cái cốt lõi càng sâu xa, đầy đủ, đó là một nhu cầu luôn luôn cần thiết đơi với tất cả mọi sự về phương diện giá trị khách quan và khoa học.

 

Vậy mục tiêu lẫn cả mục đích cuối cùng của học thuyết Mác là gì, đó là điều mọi người cần phải lưu tâm hiểu biết đến. Về mặt kinh tế xã hội, đó là mưu cầu cao nhất của Mác, là kiểu làm ăn tập thể, không có cá thể, để nhằm tránh đi mọi sự bóc lột về kinh tế trong xã hội loài người. Mác quan niệm sự bóc lột chính là điều nhức nhối nhất trong xã hội và phải tận diệt điều nhức nhối đó. Mà sự bóc lột chính là do quyền tư hữu, quyền tư hữu tạo nên giai cấp trong xã hội loài người, vậy muốn không bóc lột phải xóa tư hữu, tức cũng xóa bỏ giai cấp, chỉ có làm ăn tập thể thì không còn bóc lột.

 

Mác còn đi đến sự cực đoan cao hơn, cho rằng xã hội cộng sản lý tưởng hay bậc cao nhất cũng chính là xã hội không cần nhà nước, không cần pháp luật, không cần thị trường, không cần tiền tệ, vì lúc đó chỉ còn duy giai cấp công nhân hay người công nhân thuần túy, hoàn toàn giống nhau, trong sáng như nhau, nên mọi định chế tư sản cũ đều không cần thiết tồn tại nữa. Cả mọi đạo lý truyền thống cũng không còn vì bị xóa bỏ đi chỉ như đạo lý kiểu tư sản để nhằm thế vào một đạo lý mới mẻ là đạo lý vô sản hay đạo lý cộng sản. Tức nói chung đó là cuộc cách mạng xã hội vĩ đại nhất mà Mác mơ tưởng, một cuộc cách mạng kiểu chặt cây trồng mới lại, xóa bài làm lại, đốt rừng trồng lại.

 

Chỉ người trí thức chân chính mới thấy đây là điều hoàn toàn hư tưởng, một sự hư cấu xã hội mà Mác đã hoàn toàn vấp phải, một sự mơ mộng hão huyền, phung phí mà không bao giờ thực hiện được mục đích vì trái với mọi khách quan thực tế và thực chất chỉ toàn phi lý và vô bổ. Mác quên rằng con người sinh ra đều bình đẳng, có nghĩa không ai có quyền gì để ức chế ai, bó buộc ai nếu không có sự tương thuận của họ. Mọi sự hợp tác trong xã hội luôn cần thiết, nhưng phải có kỹ thuật hợp lý, hiệu quả nhờ phù hợp với quy luật khách quan nhưng không thể bốc đồng tùy tiện theo kiểu độc tài vô sản hay chuyên chính vô sản mà Mác từng tùy tiện và độc đoán, chủ quan sai trái tuyên bố.


Mác căn cứ vào tình cảnh thợ thuyền nghèo khó trong thế kỷ 18 ở châu Âu khi nền kỹ nghệ còn phôi thai để suy luận viễn vông hay nhằm ngụy biện ra đủ cách. Hồi đó xã hội còn thấp kém và nghèo khổ nhiều mặt, vì nền sản xuất mới phôi thai còn nhiều lạc hậu, chỉ mới có một số ít chủ nhân là sống đầy đủ hơn giai cấp công nhân nói chung, đó là một thực tế không thể chối bỏ và cũng không thể cường điệu quá mức hay quá quắc kiểu Mác. Bởi kinh tế tư nhân và thị trường họ bắt buộc phải cạnh tranh chính đáng để tồn tại và phát triển. Quy luật tiền tệ, quy luật đầu tư, tái đầu tư, và mở rộng, phát triển thị trường để tồn tại và vươn lên đều là những quy luật khách quan mà ai cũng biết, không thể vin vào số trường hợp bóc lột đặc thù nào đó để phổ quát hóa và lên án tất cả.

 

Mác nhìn sự bóc lột chỉ theo sự cảm quan một chiều kiểu chủ quan cá nhân mà thiếu sự tỉnh táo nhìn công bằng sâu xa nhiều quy luật khác nhau muôn vàn trong xã hội. Sự đấu tranh cá nhân đời thường vẫn luôn có, ngoài sự ích kỷ cá nhân do đều bởi bản năng khách quan tự nhiên vẫn còn có pháp luật, có quy luật thị trường, quy luật tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội, không ai có thể bị hoàn toàn khống chế hay bó buộc bị thua thiệt mọi mặt một cách phi lý hay nghiệt ngã nhất. Vậy nhưng Mác khái quát hóa sự bóc lột như một điều tưởng tượng cực đoan và tai quái nhất để đổ tội mọi nguyên nhân đều do tư hữu, do giai cấp để đi đến một xã hội cực đoan hoàn toàn không có tư hữu, không có giai cấp, không có kinh tế tư nhân mà chỉ có duy một dạng đặc thù là kinh tế tập thể.

 

Lại thêm một điều, Mác hoàn toàn tuyệt đối tin tưởng vào khái niệm biện chứng tư biện đầy tính mù mờ của Hegel để cho rằng đó là chân lý khách quan duy nhất đúng, cứ có hai đầu đối lập là một đầu phải bị tiêu diệt hay bị triệt tiếu, đó là ý nghĩa xã hội tư bản sẽ phải tự chôn và xã hội vô sản phải đi lên độc tài để thực hiện xã hội cộng sản kiểu như trên đã nói. Nên thực chất quan điểm của Mác trở thành một quan niệm thần bí, hiểu đấu tranh giai cấp theo cách mê tín, huyền hoặc để nhằm đi đến một xã hội hoang tưởng, huyền hoặc kiểu không thể nào và không bao giờ có được trong thực tế. Tính cách mơ hồ, huyền ảo của học thuyết Mác chính là ở đây, nhưng nó đánh động được tâm lý tham vọng của những cá nhân ban đầu lợi dụng để làm vua thiên hạ, phỉnh dụ được một số người bình dân tham lam, thấp kém, muốn tướt đoạt người khác cho lợi lộc của mình nhân danh đấu tranh giai cấp mà chính họ đã bị tuyên truyền, tiêm nhiễm.

 

Nước Nga khi ấy là một đất nước còn lạc hậu nhiều mặt, nhiều nông dân nghèo, nên Lênin giống như người vớ phải cọc. Cuộc cách mạng vô sản chẳng khác gì như phương thuốc hiệu quả nhất, bởi thiết yếu trong đó là độc tài vô sản, như phương tiện nhiệm màu nhất để có thể làm vua và tạo nền kinh tế tập thể hoàn toàn có lợi cho mình. Một thùng đậu bình thường thì chưa có tác động gì, nhưng khi đưa vào máy ép thì lập tức nó sẽ cho ra dầu còn mọi hạt đậu đều nát bét, đều trở thành xơ xác. Những người nông cạn, ích kỷ, quan điểm bầy đàn tung hô sức mạnh tập thể, tung hô độc tài sắt máu mới làm nên sức mạnh, nhưng sức mạnh đó là sức mạnh gì, có lợi cho ai, người dân hay con người chân chính sẽ như thế nào, là điều hoàn toàn họ không cần nghĩ đến.

 

Bởi không có Lênin thực chất học thuyết Mác cũng không bao giờ do ai thực hiện. Nó đã từng chỉ nằm trong ngăn kéo qua một thời gian dài chỉ cho mối mọt, đó là điều do chính Mác đã hoàn toàn thú nhận. Nên Lênin thành ra cứu tinh của thuyết Mác cũng như hoàn toàn ngược lại. Lênin là người làm chính trị thuần túy, nên cần phải dựa vào một lý thuyết, mà lý thuyết đó quả không gì đáp ứng bằng lý thuyết Mác, bởi nó chủ trương độc tài, bạo lực, cưỡng chế, lẫn dựa vào niềm tin mù quáng của loại quần chúng ít học để làm nên sức mạnh quần chúng áp đảo và được tôn vinh nếu ai lợi dụng được nó. Nhà khoa học hay nhà triết học thì luôn vô tư, tỉnh táo và nhân cách cũng như xu hướng hòa bình. Nhưng mọi nhà chính trị đều luôn ngược lại. Họ vì quyền lợi riêng tư cá nhân là chính, cộng với thứ ngôn ngữ bề ngoài chiêu dụ, với các thủ đoạn ma mị, kể cả có khi độc ác, tàn bạo nhất, lúc đầu mê hoặc quần chúng, nhưng đạt đích rồi đều làm cho quần chúng sợ hãi, khuất phục và tuân phục như là bản chất và thói quen vẫn có, chỉ trừ một số rất ít nhà chính trị mang tính nhân văn hoặc lý thuyết đạo đức phần nhiều.

 

Cho nên học thuyết Mác là học thuyết đều mang tính tiêu cực và nghịch lý. Tiền đề của nó tin tưởng vào vật chất tuyệt đối, đó là thái độ hư vô chủ nghĩa tiềm ẩn và trá hình, bởi vật chất hoàn toàn vô nghĩa nếu như tinh thần không được kể đến. Mác chỉ là một thứ duy vật máy móc, cơ giới, thực chất chỉ là vô nghĩa, nên mọi nội dung, ý nghĩa hay mục đích mang theo với nó chỉ đều ngụy biện, vô nghĩa, giả tạo, hư ảo, và chẳng có chút giá trị hay tác dụng hữu ích nào. Vả vật chất lại được coi là biện chứng, thật sự chỉ là một sự phịa đặt mông lung, chẳng bao hàm một ý nghĩa khách quan, chân chính, hoặc khoa học thiết yếu nào cả. Mác thực chất chỉ kiểu ngụy tín, một niềm tin ảo đầy tính nghịch lý chỉ đánh lừa người khác và dụ mị người khác để nhằm tin vào những mục tiêu không có thật, những mục đích hư ảo huyền hoặc, không tưởng, nhưng đầy tính bạo lực cưỡng chế và làm hạ giá, phi nhân cách con người. Đây là một sự thật và chính Lênin và cả nước Nga lần đầu tiên đưa học thuyết Mác một cách đầy cưỡng chế nhờ tuyên truyền giả tạo ra khắp nhiều miền trên toàn thế giới.

 

Sự bóc lột chẳng qua là sự thổi phồng, mê hoặc quá đáng đầy định kiến bởi vì đi kèm theo quan điểm đấu tranh giai cấp đầy huyền hoặc nhưng hấp dẫn bởi một số người nghèo đầy lòng tham lam ích kỷ chỉ muốn tướt đoạt người khác bất chấp đạo lý và lý trí chỉ để nhằm lợi lộc riêng cho chính bản thân mình. Đấu tranh con người là điều luôn luôn có, nhưng đấu tranh giai cấp chỉ là một ý niệm huyễn tưởng mà Mác nhằm đưa vào xã hội con người mà vốn từ trước đến sau chưa có. Trong Tuyên ngôn cộng sản Mác bảo xã hội loài người ngay khởi đầu và từ trước đến nay chỉ là xã hội đấu tranh giai cấp chỉ là một kiểu nói một chiều theo cách ức đoán và áp đặt mà rất nhiều người chỉ vì quan điểm lợi lộc cá nhân đã từng tin sái cổ.

 

Như vậy từ khởi điểm học thuyết, đến mục tiêu học thuyết, kể cả những nội dung trung chuyển học thuyết, thật sự thuyết Mác chỉ toàn ngụy biện, hư ảo, vô lối và hoang tưởng, nhưng những người lợi dụng, thiên lệch, vị kỷ cá nhân đều vin vào đó như chân lý tuyệt đối, chân lý vô địch bách chiến bách thắng muôn năm. Đó chẳng qua vì thị hiếu, vì cảm tính, vì áp lực mọi loại, vì sự khống chế của quyền lực mà từng một thời gian dài suốt cả gần thế kỷ chỉ làm áp đảo con người, kìm hãm xã hội, tướt đoạt hết mọi sự chân chính, chính đáng của cá nhân và xã hội mà không ai dám nói ngược lại. Hậu quả của nó là làm con người hạ cấp, lươn lẹo, gian trá nhiều mặt góp phần làm cho xã hội hổn độn, vong thân, mất cả tính nhân bản buộc phải có. Chỉ do vì Mác phủ nhận và muốn hủy diệt tất cả mọi ý nghĩa và giá trị của xã hội tư sản muốn có vậy thôi.

 

Thật ra từ ngữ vô sản của Mác đưa ra chỉ là vô lối, bởi vì nó ngược lại chính nhu cầu và khuynh hướng tự nhiên vốn có của con người. Tài sản hay của cái hay tư hữu là công cụ nói chung của mọi cá nhân tự do và độc lập. Thiếu điều này là thiếu điều kiện làm người, làm con người hạ cấp xuống thành sinh vật thuần túy. mà còn thua cả mọi sinh vật thuần túy, vì mọi sinh vật thuần túy cũng buộc phải có lãnh thổ và các công cụ nào đó riêng tư giúp cho tồn tại phải có của bản thân mình. Thuyết vô sản cá nhân và xã hội con người, thực chất chỉ là thuyết ngu xuẩn, nghịch lý, và phản khoa học nhất trong thực tế mà Mác đã nghĩ ra, chỉ nhằm để tránh một điều hoàn toàn vu vơ là tránh bóc lột trong xã hội loài người. Thành ra Mác chỉ kiểu biết một mà dốt cả mười. Từ ý nghĩa muốn thiết lập một xã hội lý tưởng đẩy ảo tưởng, mê muội, Mác muốn tận diệt đi một xã hội luôn luôn khách quan có thật với muôn vàn định chế và quy luật hữu hiệu mà nhiều ngàn năm nhân loại mới tiến hóa và sáng tạo ra được. Tưởng đi đến một xã hội nhân bản ảo tưởng mà thật ra Các Mác chỉ đưa tới một xã hội phi nhân trong thực chất. Thực chất nó phản lại loài người mà cụ thể là ý thức nhân bản, kinh tế và văn hóa, mà thực chất đều hoàn toàn khách quan, đúng đắn, nhăn văn, và luôn mãi thiết yếu thế thôi.

 

Đó là thực trạng cha chung không ai khóc, của chung không ai giữ, lý tưởng cộng sản của Mác mà nhiều người từng theo đuổi, hi sinh thật ra cho dù trăm năm hay mãi đến ngàn năm cũng chỉ là mù khơi, vô bổ, chỉ vì nó không có căn cơ thiết thực nào cả. Ý thức hệ ở đây chỉ do một người làm ra là tư tưởng phi lý và ngông cuồng của bản thân Mác. Nhưng thực chất nó mang trong mình yếu tố bạo lực kiểu độc tài vô sản mà khiếp phục được toàn xã hội một cách phi nghĩa vì nhờ mang tính cách bạo lực cưỡng chế.


Nhưng cuối cùng nhờ hệ thống tổ chức chặt chẽ trong toàn xã hội kiểu toàn trị cộng vào mọi nền tảng giáo dục thuần ma mánh, cưỡng chế và tạo niềm tin mù quáng, ngây thơ và giả tạo, nó cũng gây ra nhiều thế hệ con người chỉ có biết cuồng tín, bạo lực, hay chỉ loại con người vong thân, đánh mất bản thân hồn nhiên, ngay thẳng, chính đáng của mình để chỉ còn thuần túy là công cụ giả dối từ đất nước Liên xô cũ, qua Trung Quốc, Triều Tiên cùng nhiều quốc gia, dân tộc nữa mà suốt gần thế kỷ chẳng đi đến đâu cả ngoại trừ lợi ích cá nhân của một số ít lớp người, đó khác gì nguồn gốc tội lỗi hay tội ác thật sự đối với thế giới nhân loại trong quá khứ xuyên suốt thời gian dài cả gần thế kỷ, đó không ai ngoài chính bản thân của Mác. Một học thuyết không căn cớ, không có cơ sở khoa học trong thực hiện, mục đích chỉ đều hư tưởng, huyễn hoặc, nếu không nói toàn kiểu hư vô chủ nghĩa lẫn toàn kiểu vô chính phủ chủ nghĩa, đó chính là bản thân đích thực, cốt lõi sâu xa nhất của học thuyết Các Mác.

 

THƯỢNG NGÀN

(20/4/24)

 

**

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét