NÓI
VỀ SỰ ĐẤU TRANH LUÔN CÓ MẶT TRONG SỰ
TỒN
TẠI CỦA THẾ GIỚI KHÁCH QUAN TỰ NHIÊN
Con người sống
trong một thế giới luôn luôn có sự đấu tranh. Sự đấu tranh của tồn tại chung
quanh mình và cả sự tồn tại nơi bản thân mình. Tức sự đấu tranh trong thế giới
vi mô lẫn sự đấu tranh trong thế giới vĩ mô, cả sự đấu tranh trong thế giới đại
vĩ mô hay siêu vĩ mô.
Sự đấu tranh trong
thế giới vi mô hay siêu vi mô là sự đấu tranh giành sự sống của các vi sinh vật
trong thế giới nhỏ nhất. Vô số loại các vi sinh vật hay siêu vi sinh vật như
các con đơn bào mọi loại luôn đấu tranh để giành sự sống lẫn nhau. Chúng tạo
thành một chuỗi thức ăn cho nhau khi người ta quan sát thấy được. Chúng là những
con thực bào có những nguyên lý sinh học tự nhiên và hoạt động kiểu con săn mồi
và con mồi như một thực tại khách quan có thật và không khi nào ngừng nghỉ.
Trong thế giới
bình thường hoang dã nơi tự nhiên. Các động vật mọi loại mọi bình diện cũng đều
diễn ra như thế. Con săn mồi và con mồi luôn đấu tranh nhau để tồn tại. Đó cũng
là chuỗi thức ăn lẫn nhau theo thứ tự lớn bé và không thể nào khác đi được. Đó
chỉ là một quy luật tự nhiên khách quan thường tình mà bất kỳ ai cũng có thể
quan sát được. Sự việc đó xảy ra quanh ta và trong thế giới hoang dã tự nhiên
nói chung. Đó là sự tranh đấu giữa các sinh vật sống hay nói đúng hơn là thế giới
sinh vật hay thế giới loài vật.
Nhưng bên ngoài sự
sống không thể gọi là sự tranh đấu được mà thật ra chỉ có thể gọi là sự đụng chạm
cơ học nơi thế giới khách quan tự nhiên. Đó là điều thường xảy ra trong vật lý
hay hóa học, hoàn toàn khác với thế giới sinh học. Bởi thế giới sinh học có ý
thức có mục đích sống còn, dầu cho cả đến các khuynh hướng tự nhiên trong vô thức
nơi các loài vi sinh vật. Trong khi đó mọi sự vận động vật lý đều là vận động vật
chất vô thức, như giữa các nguyên tử, phân tử, vật thể tự nhiên, hay cả đến những
hệ thiên hà trong đại vũ trụ bao la, luôn có thể có sự đụng chạm, tiêu hủy nhau
hoặc kết hợp lại nhau. Đó đều sự đụng chạm cơ học phi ý thức mà không phải sự đấu
tranh.
Như vậy trong thế
giới con người vẫn luôn khả dĩ xảy ra sự đấu tranh trong những bình diện nào đó
hoặc có ý thức hoặc kể cả vô thức. Sự đấu tranh giữa các cá thể hay tập hợp các
cá thể cụ thể nào đó xảy ra trong xã hội vẫn luôn là sự tự nhiên không thể
tránh khỏi khi các quyền lợi hoặc mục tiêu bị va chạm, đó chính là các hiện tượng
thường thấy qua lịch sử từ cổ chí kim ở mọi nơi trên thế giới.
Việc đấu tranh
trong thế giới sự sống là sự việc luôn luôn tự nhiên, bởi nếu một bên muốn được
hoàn chỉnh vươn lên, trong khi bên khác muốn xâm hại, kéo xuống hay cả muốn hủy
diệt nó đi. Điều này xảy ra trong lãnh vực tồn tại, lãnh vực vật chất, hay cả
lãnh vực ý thức, tinh thần, mà thế giới loài người, khác hơn thế giới loài vật,
vẫn luôn luôn có. Bởi xã hội loài người khác hơn xã hội loài vật là luôn có sự
tổ chức chặt chẽ, có luật pháp, đạo đức, tình cảm, lẫn nhiều giá trị phức tạp,
tinh vi khác mà loài vật không thể nào và không bao giờ có được. Xã hội loài
người hoàn toàn khác hẳn môi trường thế giới loài vật tự nhiên hay hoang dã nói
chung là thế.
Chính sự đấu tranh
mọi loại như thế trong thế giới loài người đều bắt nguồn từ đẳng cấp khác nhau
tùy điều kiện hoàn cảnh mỗi cá nhân tạo ra đưa đến mọi sự phân tầng gọi là giai
cấp xã hội chỉ là kết quả tự nhiên khách quan luôn luôn phải có, không thể ngăn
cản, tướt đoạt, phủ nhận, chối bỏ đi, hoặc tuyệt đối hủy diệt đi được. Bởi giai
cấp xã hội chỉ là hiện tượng cấu trúc bên ngoài luôn luôn phải có, nó tồn tại
khách quan và luôn biến chuyển tùy hoàn cảnh cá nhân hay xã hội đổi thay, vận động
theo từng thời điểm bắt buộc khách quan phải có. Mọi sự vật khác nhau đều phải
luôn có cấu trúc, tức cơ cấu tổ chức tự nhiên, khách quan, mà không phải chỉ có
xã hội loài người.
Sự phân chia đẳng
cấp hay giai cấp trong xã hội loài người thực chất đều do sự sai biệt trong điều
kiện, hoàn cảnh, tiềm lực nơi từng cá thể hay cá nhân trong xã hội tạo ra một
cách tự nhiên, khách quan, không thể tránh khỏi và cũng không ai có thể lấy chủ
quan, duy ý chí của mình mà đổi thay hay xóa bỏ được. Đó là ý nghĩa của sự sai
biệt giàu nghèo về tài sản trong xã hội, sự sai biệt về nhận thức, tinh thần, kể
cá sự sai biệt về đạo đức phẩm hạnh mà mỗi cá nhân đều thể hiện ra nhất định,
không ai giống ai, không thể đồng hóa hay đồng loạt lẫn nhau kiểu hoàn toàn cơ
giới hay máy móc được. Mỗi cá nhân con người đều luôn luôn có nguồn gốc và kết
quả tiên thiên lẫn hậu thiên mà chính cá nhân con người đó cũng không thể hoàn
toàn tự mình kiểm soát hay quyết định tuyệt đối được.
Mọi sự đấu tranh
trong xã hội cũng luôn luôn đã do từ đó mà ra. Như sự đấu tranh giữa cái tốt và
cái xấu, sự đấu tranh giữa cái hay và cái dở, giữa tính tiêu cực và tính tích cực,
giữa lòng vị kỷ và tính vị tha, giữa cái tầm thường và sự lý tưởng, giữa ý thức
và ý chí vươn lên và với điều nhằm toàn kéo xuống, xảy ra giữa cá nhân và cá
nhân, cá nhân và xã hội, cả tự nơi bản thân mỗi cá nhân đều có thể có mà không
loại trừ. Có thể khi hướng này thắng lợi khi hướng kia thắng lợi, nhưng vẫn
luôn có sự giằn xé, hòa hoãn hay quyết liệt nhưng không bao giờ có hồi kết bởi
vì xã hội và lịch sử phải luôn vận động liên tục và tiến tới mái, chỉ có thế
thôi. Nói chung sự đấu tranh giữa cái tới và cái lùi, cái thăng hoa và cái cùn
nhụt, và luôn luôn cái tích cực cuối cùng đều phải thăng, đó là định mệnh thiết
yếu của toàn nhân loại và muôn đời vẫn vậy.
Thế nhưng học thuyết
Các Mác chỉ nhằm nêu ra chỉ có đấu tranh giai cấp là điều hoàn toàn trống rỗng
và phi lý. Bởi giai cấp thật ra chỉ là ý niệm, phạm trù phân chia mọi hình thức
sai biệt bề ngoài, đó đâu phải thực thể hay chủ thể tính có ý thức riêng biệt,
độc lập mà có sự tranh đấu lẫn nhau. Bởi chỉ chủ thể con người cá nhân mọi loại
mới có sự tranh đấu cụ thể để nhằm tồn tại và phát triển vậy thôi. Sở dĩ Mác
quan niệm đấu tranh giai cấp là vì tin tưởng tuyệt đối vào ý niệm biện chứng của
Hegel, cho rằng hai đầu đối kháng thì phải tiêu diệt lẫn nhau để một còn một,
và khi giai cấp vô sản đi lên thì phải làm cho sai cấp tư sản, tư bản buộc phải
triệt tiêu hay phải tự chôn thế thôi.
Đây thực chất chỉ
là niềm tin tuần túy tư biện hay kiểu thần bí, hoang đường và mê tín lẫn cuồng
tín, bời không có căn cứ khoa học khách quan nào chứng minh hay khẳng định được.
Biện chứng của Hegel vả lại là biện chứng có nền tảng duy tâm, Mác ngược ngạo
chuyển thành biện chứng theo cách duy vật của mình, đều mang tính cách sai
trái, huyền hoặc, võ đoán, áp đặt chủ quan, ngược ngạo theo hướng cảm tính và
thị hiếu hoàn toàn mà không mang tính cách khách quan nào cả. Mục đích của Mác
nhằm xóa bỏ giai cấp vô sản bộ phận của giới công nhân công nghiếp thế kỷ 18 ở
Âu Châu để thay vào thế giới vô sản toàn diện và tuyệt đối toàn cầu vĩnh viến
sau này mà Mác cho là xã hội cộng sản lý tưởng nhất.
Thế giới hay xã hội
cộng sản lý tưởng đó, theo Mác, trong đó sẽ không còn bóc lột giữa người và người,
vì không còn tư hữu, cũng không còn hay không có giai cấp, vì mọi giai cấp khác
nhau đã bị tiêu diệt, chỉ còn giai cấp công nhân hay những người công nhân tự đề
ra kế hoạch sản xuất và phân chia sản phẩm theo yêu cầu. Lúc đầu giai đoạn thấp
gọi là xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo lao động, giai đoạn sau
là giai đoạn cao hơn thật sự, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, ai cũng hạnh
phúc thật sự mà theo Mác đó là mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội
nói chung. Thật sự đây chỉ là cách nằm mơ hay hoang tưởng của Mác, bởi giai cấp
xã hội làm sao không có, nó chỉ biến đổi qua một dạng khác, có khi còn tệ lậu
hơn thế thôi. Vả cơ sở làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu có lấy đâu mà thực
hiện.
Mác quên điều kiện
căn bản là sinh vật sống đều có bản năng là tính ích kỷ tự nhiên, làm sao biến
đổi thành kiểu người máy hoàn toàn vô thức và tự động kiểu trong xã hội gọi là
cộng sản mà Mác mơ tưởng. Vả chăng mọi nền sản xuất đều cần khoa học kỹ thuật
phát triển, đều cần nguyên liệu đầu vào thiết yếu, đâu phải chỉ cần thiện chí của
con người không giai cấp mà của cải tài sản sẽ tuôn ra như nước, vả nhu cầu là
vô hạn, lấy đâu đủ mọi đáp ứng mà hưởng theo nhu cầu. Đây chỉ là luận điệu giả
dối, giả tạo, phỉnh gạt những người yếu kém nhận thức và sơ đẳng về suy luận,
lý luận. Học thuyết Mác bời vậy thực tế chì mang lại mọi sự không tưởng, hoang
tưởng vô ích và sự ngu dân thậm tệ, xấu xa nhất mà không gì khác.
Và cũng do sự cuồng
tín hoang tưởng tuyệt đối đó Mác còn đưa ra nguyên tắc chính trị ngu tối và xuẩn
động nhất là độc tài hay chuyên chính vô sản, trong khi vô sản đầu phải là
thành phần tuyệt đối tinh hoa hay đều hiểu biêt. Đây là tính nghịch lý của sự
phát triển xã hôi, nó trở thành kiểu hoàn toàn mê tín và thần bí, vì chỉ tin
vào giai cấp suông mà không hề phân tích các thuộc tính khách quan vốn tàng chứa
trong đó. Hơn thế còn có biết bao thành phần cơ hội vẫn sẽ sẳn sàng nhân danh
giai cấp vô sản thì làm sao tránh được mọi sự tệ lậu đặc thù về sau mà ban đầu
khó dự liệu được hết. Thành ra bản thân Mác tự cho là khoa học để dụ số người
lúc đầu còn sáng suốt, nhưng thực chất nó toàn phản khoa học, phi khoa học, trở
thành một lý thuyết mê tín, thần bí, cuồng tín chỉ làm hổn loạn và phá rối xã hội
khách quan, lành mạnh.
Bởi biện chứng chỉ
là quy luật tưởng tượng, mơ hồi Mác lại nhận thức là khoa học theo kiểu ngốc
nghếch, huyền hoặc, cộng thêm khái niệm giai cấp theo cách định kiến, cộng thêm
khái niệm bóc lột thực tế không hoàn toàn chuẩn xác, cộng thêm khái niệm đại đồng
cộng sản tuyệt đối hư tưởng kết hợp vào, Mác từng đưa ra học thuyết của mình
hoàn toàn dựng chuyện, kiểu không giống ai, hoàn toàn phỉnh gạt được một số
thành phần non yếu nhưng đầy tính chất tham lam, ích kỷ, hay đẩy cuồng vọng,
tham vọng trong xã hội một thời, đưa lại biết bao phung phí, uổng phí cho xã hội,
chận đứng mọi chiều hướng phát triển khách quan tự nhiên của cá nhân con người
cũng xã hội, thật là một trách nhiệm sâu xa, một lỗi lầm, hay kể cả một tội ác
trong suốt thời gian cả thế kỷ mà Mác đã phạm phải.
Chính nguyên tắc độc
tài vô sản đã chận đứng mọi phản biện, chỉ còn sự cuồng tín giai cấp một cách lợi
dụng, lạm dụng, ích kỷ quyền lợi riêng tư, cùng nhân danh đủ mọi thứ giả tạo để
nắm đầu xã hội, mà thực chất không có kết quả gì, không đưa tới đâu trong suốt
một chặng đường dài của thế giới và của nhiều nước, thật là uổng phí, tai hại
mà chẳng ai ngờ đến. Chính sự bế tắt nhận thức, bế tắt ý thức mà không ai có thể
đấu tranh được, chỉ còn sự áp đặt một chiều do bởi bạo luật toàn diện, kiểu
toàn trị mê muội mà kể cả lịch sử xã hội từ đầu đến giờ loài người chưa hề từng
trải qua hay đành phải chịu.
Chính bởi nguyên
lý vô lối và tai hại đó đã gây ra cho cả loài người hay cụ thể là một số nước mọi
hệ lụy, tai hại đủ thứ. Nó làm bế tắt mọi nhận thức hiệu quả tự nhiên khách
quan, chỉ còn là thứ nhận thức thuần một chiều ép buộc, đi ngược lại mọi khách
quan thiết yếu khoa học, chỉ tạo nên một xã hội ngu dân mà chẳng đi tới đầu la
điều mà ngày nay mọi người đều dễ dàng nhìn thấy. Thành học thuyết Mác thực chất
là học thuyết hoàn toàn vô bổ và hoàn toàn tai hại mà không ai dám hoàn toàn chứng
minh hay nói ngược bởi vì cái ngàm, cái chốt phi lý mà ngay từ đầu Mác đã cài đặt
qua câu thiệu tệ hại là độc tài vô sản.
Chính điều phi lý
này mà suốt thời kỳ dài khắp Âu châu không ai quan tâm để ý đến thuyết Mác,
chính Mác cũng đã tự thú nhận điều này khi bảo rằng các bản thảo của mình để
trong ngăn kéo chỉ bị mối mọt gặm nhấm mà chẳng ích lợi gì cả. Chỉ đến khi
Lênin lần đầu áp dụng nó để lật đổ Nga hoàng, biến thành cuộc cách mạng vô sản
kiểu Bôn sê vít thì kể từ lúc đó mới tràn lan ra khắp thế giới trong một hoàn cảnh
nhất định. Bởi thuyết Mác rao giảng đấu tranh giai cấp, tướt đoạt giai cấp giảu
có nên dễ thu hút mọi tầng lớp nghèo cực, những thành phần thời cơ lợi dụng, những
thành phần cực đoan khuynh tả mà toàn thiếu hiểu biết kể cả hiểu biết về chính
học thuyết Mác.
Họ chỉ hiểu qua
các danh từ hào nhoáng bên ngoài như không còn giai cấp, không còn bóc lột, chỉ
còn xã hội đại đồng, tình thương đồng loại lai láng, xã hội hoàn toàn thanh
bình hạnh phúc, làm theo lao động hưởng theo nhu cầu, thật là thần tiên lý tưởng
chưa hề có trong cuộc đời, trong lịch sử loài người. Nhưng thực chất đó chỉ
toàn thần tiên hư ảo và hoàn toàn không tưởng còn thực tế vô cùng khắc nghiệt
và bất công thì hoàn toàn ngược lại. Bởi nước Nga khi ấy là đất nước phần lớn lạc
hậu, hầu hết chỉ là nông dân, nên qua câu thiệu chuyên chính vô sản, mọi thành
phần tiêu cực dễ bày đặt ra, hay bắt buộc phải bày đặt ra, mọi quan điểm sai
trái, phi khoa học và phản khoa học, để truyền bá ra khắp thế giới nhờ dùng biện
pháp tuyên truyền huyền hoặc, lẫn bạo lực phi nhân, mà cả một thời gian dài suốt
thế kỷ, buộc con người nhiều nơi phải cúi đầu chấp nhận.
Mọi bi kịch của một
xã hội toàn bộ vong thân, cá nhân con người vong thân, nghèo nàn toàn diện, và
bị tướt đoạt về mọi mặt, mà trong quá khứ suốt gần cả trăm năm, đều bởi chính
Mác đã từng tạo ra cho cả một bộ phận nhân loại toàn cầu chẳng khác nào là thế.
Đây là bi kịch của nhân loại, lẫn bi kịch theo quy luật số đông, luôn thụ động hoặc
mù quáng, mà chính Mác là người đầu tiên, cũng là người cuối cùng, đã khởi xướng
qua một thời gian ngắn được thành công, quả thật đã không ngoài như vậy. Cuối
cùng Liên Xô cũ đã sụp đổ, Đông Âu cũ cũng tan rã, làm phung phí biết bao tài nguyên
vật lực trong một thời gian dài của thế giới và cũng của chính các nước đó, đều
không ngoài mọi lỗi lầm ảo tưởng, mọi khoác lác gàn bướng, hay kiểu tư duy kiểu
trẻ thơ non kém, bởi chinh bản thân của Các Mác.
TIẾNG NGÀN
(13/4/24)
**
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét