Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

TẬP THƠ "KẺ SĨ" TIẾP THEO, SỐ 332 a


TẬP THƠ “KẺ SĨ”
TIẾP THEO, SỐ (332 a)


CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG
VÀ THỰC TẾ LỊCH SỬ LÚC ĐÓ

Năm tư Hiệp định Giơ Neo
Chia đôi đất nước đã đều khách quan
Ngang sông Bến Hải vô toàn
Đó là lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa

Ông Đồng dẫu có sa đà
Tùy theo “tình thế” cũng là vậy thôi
Công hàm Năm tám khác đâu
Cốt nhằm “hỗ trợ” cho Tàu ngoại giao

Mười hai hải lý lạ sao
Trong khi mọi nước chỉ hầu có ba
Nó toàn thực tế khác xa
Kiểu trên “tuyên bố” có mà thực chi

Thế nên lời nói khác gì
Kiểu như mảnh giấy gió thì rồi bay
Có bằng Hiệp ước chi đâu
Song phương, quốc tế khác nào đều không

Tàu nhằm tuyên bố đơn phương
Ông Đồng cũng vậy đâu hơn chút nào
Nên giờ Trung Quốc tào lao
Lại vin vào đó tầm phào khác chi

Kiểu toàn lếu láo lạ gì
Để nhằm gán ngược Việt Nam buồn cười
Nhưng nay thực tế khác rồi
Những gì quá khứ đều toàn lùi xa

Thành nên Tàu dẫu ba hoa
Nhận bừa hai đảo hóa ra đều tồi
Chỉ vì não trạng hẹp hòi
Hàm hồ kiểu đó thật còn ra chi

Bởi vì ai có lạ gì
Nước Tàu xa lắc chút gì gần đâu
Biển Đông lại thảy từ lâu
Ngoài phần Quốc tế còn đều Việt Nam

Đó đều lịch sử khách quan
Việt Nam chủ quản đã nhiều trăm năm
Từ thời Chúa Nguyễn đàng trong
Tiếp thời Nhà Nguyễn vẫn không khác gì

Vậy thì Tàu bậy thảy khi
Định nhằm kiếm cớ để đi vơ càn
Dẫu cho thất lý mọi đàng
Chỉ dùng bạo lực có càng hơn ai

BIỂN NGÀN
(30/6/20)

**

MỘT THẾ KỶ CA NHẠC
VIỆT NAM, BA CA KHÚC
BẤT HỦ TIÊU BIỂU NHẤT

Trăm năm thực chẳng là bao
Cho dù thế giới lao xao mọi điều
Dẫu chi ta vẫn mến yêu
Cả Thơ và Nhạc nói nhiều không vơi

Thơ trong chứa nhạc đầy trời
Khác chi trong Nhạc chứa đều đầy Thơ
Tạo thành thế giới mộng mơ
Đẹp như tranh đẹp ai ngờ vậy sao

Toàn đều diễm tuyệt khác nào
Y như bức Họa Nhạc Thơ chan hòa
Sắc màu là những ca từ
Tạo nên dòng Nhạc tràn đầy chất Thơ

Từ xưa cho đến bây giờ
Đã thành tiêu biểu ba miền nước non
Kể ra là Bắc, Trung, Nam
Mỗi nơi đều có nét son muôn đời

Trước tiên ca khúc Anh Bằng
Khó mà chê được “Nỗi Lòng Người Đi”
“Tôi Xa Hà Nội” lạ gì
Ai còn chưa biết tưởng đâu hai bài

Kế người tiêu biểu thứ hai
Là Lê Trọng Nguyễn chính người Miền Trung
“Nắng Chiều” hay đến não nùng
Đẹp như tranh vẽ Nhạc cùng với Thơ

Thứ ba chẳng phải đợi chờ
Anh Việt Thu lại là người Miền Nam
“Hai Vì Sao Lạc” cao sang
Nhạc cùng Thơ quyện chứa chan tâm tình

Thành nên tiếng Việt của mình
Đỉnh cao lời Nhạc chính là ở đây
Tâm tư cả thảy vơi đầy
Bài Thơ hay Nhạc khó nào phân ra

Tất nhiên thành quả bao la
Suốt qua thế kỷ có mà ít đâu
Nhạc Vàng trên mấy trăm bài
Sẽ lưu danh mãi muôn đời khác sao

Có điều dem sánh đuôi đầu
Ba bài tiêu biểu dễ sao không bình
Cái hay thật hết sự tình
Bởi đều tuyệt tác dân mình toàn mê

TRĂNG NGÀN
(30/6/20)

**

THÊM MỘT GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG
VÀO LÚC ÔNG HỒ CHÍ MINH TỪ TRẦN

Ngày ông Hồ Chí Minh qua đời, lúc đó tôi còn trẻ, đang học ở trường Đại học Saigon.
Nói thật lòng, lúc đó quả cũng có rất nhiều cảm xúc. Bởi trong thời chiến tranh 9 năm với Pháp, tôi dang học lớp ba bậc tiểu học, ở vùng Lien Khu 5, Quảng Nam. Sau 1954, mới hồi cư về vùng quốc gia. Bởi vậy, những tình cảm thuộc thời niên thiếu, dù sao vẫn cũng có một phần nào đó đang còn. Tuy vậy, rồi nó cũng dần dần nhợt nhạt đi, khi sự học hỏi và sự hiểu biết do tuổi đời càng ngày được trưởng thành, vững vàng và chững chạc hơn.

Ngày ông Hồ chết, chính bản thân tôi cũng đã có nghe truyền bá câu đối, được xác định là của Ông Mao Trạch Đông, lúc đó đang là Chủ tịch nước Trung Quốc, đã gởi Câu đối viếng tang đến ông Hồ như sau :

“CỔ NGUYỆT CHIẾU SƠN HÀ
“SĨ TÂM QUANG NHẬT NGUYỆT”

“CHÍ KHÍ TRÁNG SƠN HÀ, KIM CỔ ANH HÙNG DUY HỮU NHẤT.
MINH TINH QUANG VŨ TRỤ, Á ÂU HÀO KIỆT THỊ VÔ SONG”


Trong câu đối viếng tang này, ông Mao đã áp dụng lối chơi chữ, chiết tự chữ Hán, ngầm nói
Trong đó chữ HỒ CHÍ MINH bằng Hán văn. Nhất là hàm ý so sánh ông Hồ với hai vầng Nhật, Nguyệt, là mặt trăng và mặt trời. Chẳng những vậy, ý còn nhằm ca ngợi “tấm lòng của kẻ sĩ” (sĩ tâm) nơi ông Hồ vằng vặc chói sáng như cả mặt trời, mặt trăng, để cốt xiển dương chí khí ở ông Hồ xưa nay trong đời chưa hề từng có. Tôn xưng ông Hồ như người anh hùng duy nhất chói lòa trong cả trời đất vũ trụ, vượt lên tất cả mọi hào kiệt ở Á và Âu, hay là toàn thế giới xưa và nay.

Tất nhiên, đây đúng là câu đối viếng tang đầy tính chất Ngoại giao, Chính trị, giữa hai Thủ lĩnh Cộng sản trên Thế giới với nhau. Còn thực chất ý nghĩa như thế nào, hẳn tùy vào hoàn cảnh thời đại, để mỗi người trước kia và ngày nay thảy hiểu theo một cách hoàn toàn có thể khác nhau tùy đó.

Tuy vậy, còn có điều là khi ông Hồ từ trần, lúc ấy ở tỉnh Quảng Nam, có một ông cụ già tên Võ Hưng Khoan, tục danh là ông Cửu Hoằng, người địa phương Hà Lam, là một vi lương y nổi tiếng, một nhà thơ tài hóa, cũng lại có làm Câu Đối viếng ông Hồ, và gởi qua cho Đài BBC tiếng Việt, đã có được đọc lên khiến nhiều người các nơi biết và tuyền khẩu nguyên văn như sau:

“HAI MƯƠI TÁM NĂM VỀ NƯỚC, ÔNG ĐÃ LÀM CHI, CÔNG VỚI AI, Ừ MÀ TỘI CŨNG VỚI AI, BA MƯƠI SÁU TRIỆU ĐỒNG BÀO THÙ HẬN GIỮA NHAU CÒN TRƯỚC ĐÓ”.

“BẢY MƯƠI TÁM TUỔI TỪ TRẦN, SAO ÔNG KHÔNG SỐNG MÃI, VINH CŨNG ĐƯỢC, Ừ MÀ NHỤC THÔI CŨNG ĐƯỢC, TRĂM MUÔN NGHÌN DƯ LUẬN, PHẨM BÌNH XIN GÁC LẠI MAI SAU” .

Cả hai Câu đối trên, một của Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Trung Quốc, và một của ông Võ Hưng Khoan, chỉ là một dân dã ở tỉnh Quảng Nam, cũng cần xin được ghi lại đây, như một giai thoại văn học hoàn toàn lý thú cho sau này.

TẾU NGÀN
(30/6/20)

**

MỘT THẰNG LƯU MANH

Bây giờ chữ “Ngụy” bỏ rồi
Mầy còn tiếp tục miệng mồm lưu manh
Bắc kỳ thằng Vũ Hoàng Lâm
Viết bài lếu láo trên trang Hải Phòng

Trang này “Giáo Dục” nạ dòng
Mang danh :Khuyến Học” quả càng thảm thương
Ta người xưa ở Miền Nam
Chưởi cha mấy đứa ăn gian nói càn

“Ngụy” nào lấp liếm mọi đàng
Chỉ đồ láu cá nay toàn khua môi
Dân ta thật đã hòng rồi
Óc đầu bã đậu quả tồi kiểu ni

Thẳng ngay nào có được gì
Hóa đồ gian dối kiểu thì du côn
Khác chi dân tộc mõi mòn
Trăm năm nhục nhã bởi toàn bọn bay

NON NGÀN
(30/6/20)

**

TỪ CHỮ BIỂU HÌNH
ĐẾN CHỮ BIỂU ÂM

Hán xưa là chữ biểu hình
Nhìn vào hiểu được ngay là cái chi
Nhưng điều rắc rồi lạ gì
Biết bao sự vật có đâu vẽ toàn

Khác chi ngôn ngữ nhiều đàng
Tùy vào tính chất để càng hợp theo
Phương Tây dùng lối biểu âm
Điều mà Trung Quốc đành thua tới giờ

Dĩ nhiên lắm kẻ dại khờ
Muốn sao tiếng Hán biến thành biểu âm
Đó đều việc thảy sai lầm
Bởi tùy cách sắc dân khác nào

Dễ đâu giống được hết sao
Kho tàng ngôn ngữ đã ngoài ngàn năm
Có điều chữ Hán đẹp toàn
Lại đem bỏ hết quả càng đều ngu

Mà tùy mỗi loại đặc thù
Dễ chi bắt chước giống người được đâu
Cũng như tiếng Việt lạ sao
Ngày nay hiện đại chỉ đều tự nhiên

Bởi do tính chất khách quan
Tiếng ta ưu việt hơn toàn Hán thôi
Thế nhưng bọn dại trên đời
Muốn đem chữ Hán thay vào chữ ta

GIÓ NGÀN
(29/6/20)

**

TẠI ANH TẠI Ả
TẠI CẢ ĐÔI ĐƯỜNG

Pháp phương Tây mạnh hơn ta
Vì ta lạc hậu đã là tự nhiên
Chúng toàn đại pháo tàu đồng
Ta đều gươm dáo khó trông thắng gì

Nên thành thất bại lạ chi
Pháp bèn đô hộ kiểu nhằm thực dân
Chúng xây guồng máy dần dần
Cốt nhằm cai trị mọi phần dân ta

Vậy mà ta chẳng hướng ra
Chẳng tìm chính sách quả là lạ sao
Đầu tiên Pháp dẹp chữ Nho
Thay vào tiếng Pháp nhằm cho thuận dòng

Dẹp luôn ảnh hưởng từ Tàu
Dẹp luôn thi cử kiểu hầu ngày xưa
Dần rồi Quốc ngữ đưa vào
Để nhằm phát triển chỉ là tự nhiên

Dẫu sao Pháp nước văn minh
Có nào man rợ thật tình với ta
Chỉ đều hai mặt quả là
Mặt nhằm khai thác mặt nhằm dựng xây

Tất nhiên kết quả khó hay
Vì đều kìm kẹp nước ta mọi điều
Vậy nhưng lỗi cũng ta nhiều
Không nương theo thế để mà phát huy

Đánh nhau chưa chắc lợi gì
Chỉ còn mỗi cách là đi theo dòng
Canh tân mọi mặt thảy toàn
Đề huề với Pháp phải càng thế thôi

Đến sau thấy đã trễ rồi
Phan Chu Trinh sáng suốt vẫn nào ai hay
Cốt nâng Dân trí lên cao
Cả phần Dân khí làm sao đủ đầy

Đó là kế sách toàn hay
Đề huề với Pháp nhằm ngày đi lên
Pháp dầu vẫn biết chẳng hèn
Bởi vì có lợi hai bên thảy đều

Đâu cần chiến đấu hiểm nghèo
Bởi nào cân sức hóa thành hi sinh
Giữ nguyên lịch sử lình bình
Pháp đè đầu mãi đâu nào đi lên

Nước nhà vẫn cứ lênh đênh
Tám mươi năm ấy có nên được gì
Anh hùng đoản kế khác chi
Thành bao phung phí thảy khi đều buồn

Tính sai từ ở cội nguồn
Giữa dòng còn cứ vẫn toàn tính sai
Tạo ra trễ nãi lâu dài
Nếu không Thế chiến thứ hai can vào

NON NGÀN
(29/6/20)

**

CÁI “HẠI” CỦA CÁC MÁC

Mác vì “duy vật” tột cùng
Thành nhìn thế giới mịt mùng khác đâu
“Tinh thần” xuống cấp tả tơi
Con người “nhân bản” có nào còn chi

Chỉ nhằm “độc tài vô sản” lạ gì
Mác cho “giải phóng” loài người là đây
“Bầy đàn” bởi vậy thấy ngay
Thành lời “Nguyên Ngọc” thuật nào đâu sai

“Tự do tư tưởng” hóa hài
“Tự do văn hóa” đều nào còn chi
Còn toàn “não trạng” cu li
“Bản năng” để sống lạ gì nữa sao

Liên Xô quả có khác nào
Việt Nam cũng vậy sau ngày “dấy lên”
Nói toàn “cách mạng” một bên
Bên kia “đầy đọa” con người rõ hay

TẾU NGÀN
(29/6/20)

**

HÌNH ẢNH CÔ THÔN NỮ

Tóc em còn cột đuôi gà
Má môi hồng thắm mặn mà dễ thương
Ngực em như cặp đào hường
Lưng ong ngà ngọc vấn vương ai toàn

Cạnh hồ sen tỏa hương thơm
Em nhìn mơ mộng đến phương trời nào
Chiều quê nắng xuống ngọt ngào
Thân em thơm ngát quyện vào hương sen

TRĂNG NGÀN
(29/6/20)  

**

HIỆN TƯỢNG LUẬN VỀ
SỰ NHẬN THỨC TRONG
THẾ GIỚI CỦA LOÀI NGƯỜI

Ở nơi vị trí khác nhau
Tất nhìn sự vật cũng hầu khác thôi
Đó đều sự thật ở đời
Bởi vì thế giới chỉ đều tương quan

Tương quan ngoài cả đến trong
Ngoài là ánh sáng cự li cách nhìn
Còn trong ý thức thảy toàn
Hoặc là thánh thiện hoặc là lưu manh

Hoặc là tuổi tác trưởng thành
Hoặc là kinh nghiệm đầy mình trước sau
Hoặc là nhận thức thấp cao
Có đâu người thảy đều toàn giống nhau

Nên chi Phật có khác sao
Vượt lên ngũ uẩn mới cao hơn người
Thuyết về “Ngã Kiến” đúng rồi
Tấm lòng của Phật mới thành Từ bi

SUỐI NGÀN
(29/6/20)

**

TỪ CHỮ HÁN, CHỮ NÔM,
ĐỂ ĐẾN CHỮ QUỐC NGỮ

Hán là dạng chữ của Tàu
Ngày xưa ta phải tạm dùng mà thôi
Bởi đâu phải chữ của ta
Đành đi vay mượn có ra nỗi gì

Nhưng đều thấy hại khác chi
Cha ông ta mới tạo thành chữ Nôm
Dẫu nhằm mượn xác nhập hồn
Xác Tàu kệ nó còn hồn của ta

Đọc lên tiếng Việt đâu xa
Tuy ngoài nghuệch ngoạc viết ra chữ Tàu
Nhưng đều mượn nét khác đâu
“Nữ” thêm chấm giữa đọc thành “đĩ” thôi

Thật là sáng kiến cũng vui
Nó đầy hóm hĩnh lắm khi tuyệt vời
Hay như muốn viết chữ “mày”
Nét “nhân” viết trước kề là chữ “mi”

Còn mà chưởi bới khó gì
Thế bằng nét “khuyển” khác chi “chó” nào
Thành ra trí tuệ vẫn cao
Dẫu cho mượn nét của đều người ta

Tới khi Tây đã vào ra
Đã liền chớp lấy La tinh lạ gì
Hai bên kết hợp khả thi
Bên nhằm truyền đạo bên vì ngữ ngôn

Tạo thành “Quốc ngữ” linh hồn
Hoàn toàn mượn nét “đơn thuần” khác đâu
Tức dùng “mẫu tự” phải rồi
Vứt nguyên chữ Hán của người Trung Hoa

Thoát Tàu một bước rất xa
Bởi dùng “ký hiệu” đâu mà lụy ai
Giống như nét nhạc chẳng sai
Solfe chỉ thảy trên dòng ký âm

Khác chi bảy nốt vạn phần
Nhưng ngàn bản nhạc được thành tạo ra
Dựa trên “mẫu tự” ban đầu
Đã thành “Quốc ngữ” rõ hầu bao la

Chính là ưu việt của ta
Nhớ dùng mẫu tự vượt xa cả Tàu
Làm nên hiện đại khác nào
Cả Đông Nam Á có nào ai hơn

NON NGÀN
(29/6/20)


MỤC LỤC

13642.                CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG VÀ THỰC TẾ LỊCH SỬ LÚC ĐÓ (30/6/20)
13643.                MỘT THẾ KỶ CA NHẠC VIỆT NAM, BA CA KHÚC BẤT HỦ TIÊU BIỂU NHẤT
(30/6/20)
13644.              THÊM MỘT GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG VÀO LÚC ÔNG HỒ CHÍ MINH
TỪ TRẦN (30/6/20)
13645.                MỘT THẰNG LƯU MANH (30/6/20)
13646.                TỪ CHỮ BIỂU HÌNH ĐẾN CHỮ BIỂU ÂM (29/6/20)
13647.                TẠI ANH TẠI Ả TẠI CẢ ĐÔI ĐƯỜNG (29/6/20)
13648.                CÁI “HẠI” CỦA CÁC MÁC (29/6/20)
13649.                HÌNH ẢNH CÔ THÔN NỮ (29/6/20)           
13650.                HIỆN TƯỢNG LUẬN VỀ SỰ NHẬN THỨC TRONG THẾ GIỚI CỦA
LOÀI NGƯỜI (29/6/20)
13651.                TỪ CHỮ HÁN, CHỮ NÔM, ĐỂ ĐẾN CHỮ QUỐC NGỮ (29/6/20)




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét