NÓI VỀ HAI KHÁI NIỆM ĐỘC TÀI VÀ TỰ DO
TRONG TOÀN BỘ LỊCH SỬ XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI
Độc tài
và dân chủ là hai khái niệm căn cơ, chủ chốt nhất trong đời sống xã hội loài
người. Hiểu đúng đắn hay chính xác hai khái niệm này, thì làm xã hội phát triển,
nếu không thì hoàn toàn ngược lại, làm xã hội, lịch sử đổ vỡ, hay trở nên ngưng
trệ, thụt lùi. Bởi vậy mọi người sáng suốt, người hiểu biết cần nên quan tâm đến
hai khái niệm này, còn mọi người quần chúng, bình dân thì thường chẳng mấy chú
thấy gì quan trọng, bởi họ chỉ sống theo bản năng, cách sao cũng được. Quần
chúng đám đông chỉ luôn thụ động làm theo, họ thường chỉ là chất liệu để sai
khiến mà không bao giờ lãnh đạo xã hội được. Mọi sự tôn xưng quần chúng giả tạo
đều là sự mị dân.
Nhưng
nói cho cùng, khái niệm dân chủ tự do và khái niệm độc tài thật sự đều gắn với
con người trong xã hội. Mỗi cá nhân con người chính là đơn vị chủ chốt trong xã
hội mà không bao giờ có thể khác đi được. Nói dân chủ là nói sự tôn trọng mỗi
cá nhân trong xã hội con người, nói độc tài là nói sự phản bội, sự trấn áp con
người, biến mọi người không còn con người mà chỉ còn công cụ để cá nhân hay
nhóm độc tài nào đó chi phối, sử dụng có khi theo cách phi nhân và chuyên đoán.
Dân chủ tự do khi toàn dân kiểm soát được chính quyền, độc tài ngược lại chỉ là
sự tự chuyên, không ai kiểm soát được nó cả.
Bởi vì
bất kỳ sự vật khách quan nào trong thực tế đời sống cũng đều có những quy luật
nội tại, đặc thù, riêng biệt của nó, con người trong xã hội cũng vậy, và cả
toàn xã hội như một thực thể cũng vậy. Như mọi vật thể đều có quy luật vật lý,
hóa học chứa đựng trong bản thân nó. Mọi loài sinh vật khác nhau đều có nguyên
lý sự sống hay quy luật sinh học bao gồm trong bản thân nó. Con người có quy luật
tâm lý chung và riêng trong mỗi đơn vị chủ thể của nó, xã hội loài người cũng
có quy luật tâm lý riêng khác nhau trong mọi loại thực tại như thế. Mọi cái gì
làm trái quy luật đúng đắn khách quan đều mờ tối và ngu xuẩn cả.
Bởi nói
cho cùng, tất cả mọi thực tại trong đời sống, ngoài quy luật riêng, còn có thêm
quy luật lịch sử, hay quy luật phát triển tự chứa đựng trong bản thân nó, tạo
nên quy luật lịch sử chung của cá thể và chủng loài đó, và đó cũng là quy luật
tổng quát nhất mà mọi loài đều có. Như quy luật sinh, trụ, hoại, diệt, là quy
luật muôn đời mà muôn loài luôn phải có, hay quy luật âm dương, giống phái, nam
nữ, cũng tương tự như thế, cả quy luật ý thức, nhận thức có thể chứa đựng nhau,
tùy theo không gian, phạm vi cấu thành, cũng đều là những quy luật ngàn đời bất
biến. Dĩ nhiên còn bao quy luật khác nữa, nhưng tự trung, đó có khi nhất thời,
tạm bợ, có khi lâu dài bền vững hơn, nhưng nhất thiết vẫn có những quy luật thường
hằng bất biến. Sự bất biến ở đây không phải hiểu theo nội dung đặc thù nào đó,
mà hiểu theo tầm vóc không dễ dàng thay đổi về thời gian lẫn không gian hiện diện
của chúng.
Thế nên
vẫn có những quy luật nói chúng là vĩnh cửu, không bao giờ thay đổi, như quy luật
lô-gích học trong nhận thức, suy nghĩ của con người, quy luật sự vận động không
ngừng của vật chất, quy luật mối tương quan bất biến trong toán học, quy luật bảo
toàn năng lượng trong vũ trụ vật chất, cả đến những nguyên lý bất biến trong vật
lý, hóa học, sinh học như là nền tảng nói chung của thế giới thường nghiệm chẳng
hạn. Tức có những quy luật nhất thời, tạm bợ trong không gian thời gian nào đó,
nhưng cũng có những quy luật vĩnh cửu không hề thay đổi qua không gian và thời
gian. Hay có những quy luật đặc thù và quy luật bao quát, cái sau chứa đựng cái
trước mà không thể khi nào ngược lại.
Lại có
những dạng quy luật biến thiên theo chiều tuyến tính, hoặc có khi theo dạng đa
tuyến tính, như quy luật tiến hóa và phát triển, là quy luật theo kiểu dạng như
thế. Nên không có quy luật nào gọi là quy luật “biện chứng”, theo kiểu huyễn hoặc
một chiều như Mác quan niệm. Bởi mọi quy luật luôn đều có kèm theo phần nội
dung và phần hình thức, tức phần mục đích và phần ý nghĩa riêng của nó, không
có quy luật nào chỉ thuần túy là cơ học, máy móc, theo cách chỉ hoàn toàn vô
nghĩa, trống rỗng. Vả chăng, các quy luật trong tồn tại vũ trụ đều tương tác, hội
tụ, hay hàm chứa vào nhau. Không có cái gì gọi là biện chứng khơi khơi, phi lý,
rỗng tuếch cả. Chẳng hạn quy luật sự chết thể lý nơi mỗi cá thể, là sự chấm dứt
tuyệt đối về thể lý của cá nhân đó mà không còn cách nào khác. Bởi vậy có những
sự hiểu biết hay nhận thức nhầm lẫn, hoàn toàn không phải khách quan, lại bị thần
thánh hóa, cơi lên thành quy luật khách quan, nhưng thực chất hoàn toàn giả tạo,
như cái gọi là quy luật biện chứng chẳng hạn, sự thật nội dung mờ mịt của nó chỉ
hoàn toàn trống rỗng và vô nghĩa, không có lấy bất kỳ nội hàm chính xác, cụ thể
nào.
Nên quy
luật tự do, là quy luật căn cơ nhất của vạn vật vũ trụ mà không hề là quy luật
độc tài. Sự độc tài là mặt tiêu cực của tự do, sự hủy diệt tự do, mà tự nó
không bao giờ là quy luật khách quan, độc lập. Mọi nguyên tử vận động tự do, mọi
hạt cơ bản vận động tự do, bầu trời, vũ trụ vận động tự do muôn thuở đó là quy
luất. Bởi nếu không có quy luật tự do cơ bản này cũng không hình thành nên tất
cả mọi điều gì trong thế giới mà con người thấy được. Mọi sự ta nhìn thấy được
đều là kết quả của quy luật tự do, tức kết hợp nhiều quy luật khác nhau, đặc
thù lại trong quy luật tự do nói chung, và chính nền tảng quyết định mọi việc về
sau mà không bao giờ ngược lại. Mọi sự vật đều phải tuân theo những quy luật đặc
thù, nhưng nếu không bị ràng buộc nữa chúng đều quay lại quy luật tự do, đó là
ý nghĩa cuối cùng và chắc chắn nhất. Thành ra cái gọi là vật chất biện chứng của
Mác thật sự chỉ là cách nói khống, hoàn toàn vô nghĩa.
Trong
khi đó toàn bộ sự sống muôn loài, cả loài người cũng thế, hay nói khác đi, toàn
bộ tồn tại vật chất, cũng như tồn tại sinh học, hay cả tồn tại ý thức, tinh thần
của xã hội loài người cũng thế, quy luật tự do vốn luôn là quy luật đầu tiên và
quy luật cuối cùng nhất. Không có quy luật tự do, cũng không thể phát sinh ra
được gì cả, và khi tan rã, tất cả mọi sự vật đều quay về lại trạng thái tự do đầu
tiên của chúng. Vậy nên nguyên lý hay quy luật ràng buộc nhất thời nào đó của mọi
sự vật đều chỉ luôn tạm thời, cả ngay thực tại luật pháp trong xã hội nào đó,
thực chất đều chỉ là những bó buộc trung gian, những thiết chế tạm thời tất cả,
mà không bao giờ là quy luật vĩnh viễn, không bao giờ là quy tắc vĩnh cửu nào của
xã hội hay lịch sử cả. Luật pháp bởi vậy, tuy là công cụ cần thiết, nhưng phải
và vẫn luôn biến chuyển, đó là ý nghĩa tất yếu. Nên luật pháp chính là yếu tố bảo
vệ sự tự do, mà không phải công cụ của sự độc tài. Khi Mác chủ trương độc tài
vô sản, là một quan điểm ngu xuẩn, mê tín, phản khoa học, phản con người, phản
xã hội, phản lịch sử, một cách tuyệt đối thiển cận và tồi tệ nhất trong lịch sử
xã hội loài người từ trước đến nay.
Bởi vì
con người là gì ? Thực chất, cơ bản đó vẫn là tồn tại sinh học như bao tồn tại
sinh học khác, tức là nó luôn có bản năng thiên nhiên nguyên thủy, nhưng ở đây nó
được trang bị năng lực tinh thần, trí tuệ cá nhân, như là sản phẩm chung của giáo
dục, đào tạo xã hội, do lịch sử mang lại. Tất nhiên trong năng lực đó, có yếu tố
tiên thiên của nhân loại, là điều không thể nào chối bỏ được. Bởi nếu không có
yếu tố tiên thiên này, con người vẫn không bao giờ thành người, mà vẫn mãi chỉ
là sinh vật như mọi sinh vật khác. Nên khi Mác chủ yếu giản lược, quy kết xã hội
loài người cũng chỉ ngang hàng như xã hội sinh vật, tức xã hội loài vật, và cho
rằng mọi sự sống đều cũng chỉ là vật chất thuần túy, thì qua đó chính Các Mác hóa
ra là kẻ ngu xuẩn nhất trong lịch sử nhân loại, mà chẳng phải là nhà tư tưởng
sâu sắc, đứng đắn gì cả. Thế nhưng, có điều cho mãi tới ngày nay, trên thế giới
vẫn còn có ít nhiều kẻ nào đó tôn thờ Mác, thì thật ra đó chỉ thói quen xu mị,
một sự mơ hồ, ấu trĩ, ngây thơ về nhận thức, nếu không nói đúng ra chỉ là sự dốt
nát, nông cạn, mà phần lớn đều thật sự không hiểu Mác thực chất là gì cả, hay
chỉ cốt nhằm hiểu theo thị hiếu, cảm tính, mục đích tư riêng của mình.
Bởi nếu
đem so sánh giữa thực thể thân xác của con người, và ý nghĩa cùng giá trị tinh
thần, óc não của nó, thì chính cái sau mới quan trọng hơn cái trước rất nhiều.
Cái trước luôn chỉ là điều kiện cần, nhưng không bao giờ là điều kiện đủ, hoặc
thay thế được cho cái sau tất cả. Loại bỏ cái sau, để chỉ còn nhìn thấy toàn
cái trước, tức cũng là phủ nhận mọi ý nghĩa giá trị tinh thần cá nhân như là
thành quả của lịch sử và xã hội mang lại, đó thực chất là quan điểm ngu xuẩn nhất
mà Mác đã mắc phải. Bởi cho dù ngôn ngôn ngữ hình thức bề ngoài có tốt đẹp bao
nhiêu, nhưng nếu đã sai về nguyên lý bản chất, thi tất cả cũng chỉ có thể hóa thành
cỏ rác, và cũng chỉ đáng được vứt vào sọt rác. Thuyết Mác sai về bản chất, sai
về nguyên lý, sai về nội dung, và bởi vậy cũng thiết yếu sai về mục đích là thế.
Bởi nếu những cái trước không đúng, thì chính cái sau tất yếu cũng không thể bao
giờ đúng, bởi vì nó chỉ hàm chứa sự ngụy biện, giả tạo, áp đặt, huyễn hoặc, ngụy
tạo, vì không có thực, mà chẳng khi nào là giá trị, hay ý nghĩa nào thật sự hoặc
đích thật được cả.
Tại vì,
con người sinh ra mặc dù bản chất là người, nhưng nếu không được đào tạo, giáo
dục đúng đắn, cũng không bao giờ thành chất người được hoàn toàn đầy đủ hay lý
tưởng cả. Bởi bản năng con người là bản năng sinh vật, luôn luôn là vật cản trì
trệ lớn nhất, cho lịch sử phát triển bản thân cũng như xã hội. Nó là yếu tố phá
hoại ghê gớm nhất, là thành phần tiêu cực lớn nhất, nếu không có điều gì đó khác
hơn chế ngự nó, làm thay đổi ít nhiều, hoặc khống chế nó. Cũng chính nó là yếu
tố tạo nên mọi tham vọng cá nhân tệ hại nhất, vượt ra ngoài mọi điều lý trí cân
bằng, vượt ra ngoài mọi lương tri, lương năng chính đáng nhất, mà xã hội loài
người luôn luôn cần đến. Nên khi nền giáo dục không có, hoặc nền giáo dục không
lành mạnh, cốt chỉ nhằm đào tạo ra con người kiểu thuần túy công cụ nhằm phục vụ
mục đích riêng tư nào dó, thì đó cũng không khác gì là nền giáo dục phi nhân và
phản động nhất. Bởi đó không còn là giáo
dục đào tạo con người, mà thực chất chỉ là giáo dục đào tạo “loài vật” để sai
khiến theo những mục tiêu, ý hướng nhất định.
Mà ta
biết, thân xác thì không bao giờ độc lập tự do, nhưng thân xác luôn luôn bị óc
não chi phối điều khiển. Nên khi nếu óc não đã bị mất tự do ngay từ đầu, thì cả
mọi con người cá nhân đó, cũng như xã hội, đó đều bị hủy hoại cả thảy, không
hơn không kém. Tính chất tinh thần và giá trị của sự tự do là đệ nhất quan trọng
như thế, nên không thể nao coi thường, hay bị hủy diệt đi được. Hủy diệt tự do,
cũng là hủy diệt nhân văn, hủy điệt dân tộc, hủy diệt cả nhân loại, hủy diệt lịch
sử nói chung mà không gì khác. Bởi hủy diệt tự do, thì con người và xã hội tự
khắc trở thành công cụ nô lệ, trở thành hèn hạ, xuống cấp, trở thành ti tiện mọi
mặt, không thể nào còn mọi nhân cách để phát triển đi lên được. Mọi hiện tượng
nhu nhược, hèn kém, thụ động, tiêu cực, xấu xa trong mọi xã hội độc tài, đều nhất
thiết có nguồn gốc và được phát sinh ra như thế. Bởi không có tự do là mất tất
cả, mất đi mọi sự độc lập thiết yếu, thành nên chế độ độc tài thiết lập lên cả một
cơ chế phi nhân, làm vài trò của con người hoàn toàn biến mất, chỉ còn là cơ chế
tự dộng của bản năng và vật chất, theo kiểu thế giới hoang dã tự nhiên ngay từ
khởi điểm, là điều mà bất kỳ ai cũng đều có thể nhận ra được. Mọi sự độc tài đều
không có lý do chính đáng nào cả, mà đó thật sự đều chỉ là sự lạm dụng, tiêu diệt
chính sự bình đẳng giữa người và người.
Người
xưa từng có nói đại để là “thất phu thủ ải, vạn mã quá nan”, thể hiện chính xác
kiểu xã hội độc tài là như thế. Một cá nhân dù tầm thường thấp kém, nhưng khi
đã đóng chặt cửa ải rồi, thiên binh vạn mã cũng khó nào qua được nếu không chiến
thắng được kẻ ấy bằng một cách nào đó. Bởi vì tại sao, bởi vì cơ chế xã hội nó
luôn luôn như vậy. Khi một người dựa vào thế lực tự nhiên hay nhân tạo nào đó
(như núi sống, thế đất, thành lũy) thì vẫn có thể chiến thắng, chế ngự được
muôn người. Một đứa trẻ được giao nhiệm vụ lái một thiết giáp xa thì khó một
nhóm người tay không nào có thể cản đường được. Đó không phải vì sức mạnh của đứa
trẻ mà là sức mạnh vật chất, mù quáng của chiếc thiết giáp kia. Con người lành
mạnh không thể nhất thời thắng được vật chất là thế, ý nghĩa của chủ nghĩa duy
vật cũng chính là thế. Lực lượng hay sức mạnh vật thể, vật chất luôn luôn có thể
chiến thắng được nhân văn khi nhân văn sa sút, yếu thế và tan rã, đó vẫn luôn
là sự thật khách quan tự nhiên, nhưng những kẻ dốt nát mê lầm thì luôn không thể
thấy ra được điều này.
Nên thật
ra khi giai cấp công nhân vô sản mới phát sinh tại châu Âu vào đầu thế kỷ 19 do
kỹ nghệ phát triển lúc ban đầu, đó chỉ là một số lượng còn ít ỏi nếu so với dân
số toàn thể xã hội lúc bấy giờ. Họ phải chịu nhiều cơ cực do đời sống vật chất
chung còn thấp kém, nhưng thật ra sự phát triển lịch sử trước sau lý trí chung
của xã hội con người vẫn có thể dùng pháp luật hợp lý, dùng các biện pháp xã hội
hiệu quả khác nhau, cả dùng giáo dục và báo chí để cài thiện mọi tình trạng bất
công quá đáng tạm thời nếu có, không nhất thiết gì phải dùng các quan điểm, các
luận thuyết đao to búa lớn mà thật ra chỉ rỗng tuếch, tưởng tượng, phi xã hội
và phản lịch sử khiến chẳng bao giờ thành công được thật sự mọi mặt cả, mà thật
ra chỉ đều tiêu cực, hoặc phá hoại.
Xã hội
con người, sự đấu tranh giữa cái tiêu cực và cái tích cực luôn luôn xảy ra và
hoàn toàn tự nhiên. Điều đó cũng chẳng khác nào trọng lực trái đất là điều tự
nhiên có, nhưng con người vẫn luôn luôn tìm mọi cách vượt lên, thoát ra, chiến
thắng nó vẫn là điều không thể không có hay hoàn toàn có thể xem thường được. Sự
đấu tranh giữa lực lượng tích cực và lực lượng tiêu cực cứ muôn đời tồn tại và
lặp lại mãi trong xã hội. lịch sử loài người vẫn đều là quy luật bất biến như
thế, không bao giờ có thể thay đổi nó, hủy diệt nó một cách tuyệt đối. Mọi quan
điểm như thế đều là ngu xuẩn và thiển cận, bởi nó trái với chính nguyên lý
khách quan khoa học và điều hoàn toàn thực tế. Nên khi Mác chủ trương tiêu diệt
mọi giai cấp, tạo thành xã hội không giai cấp, dựa vào ý nghĩa của biện chứng
duy vật và duy vật lịch sử là điều hoàn toàn không tường và ngu xuẩn, chẳng
khác nào kẻ ngồi thuyền lại muốn nâng thuyền lên là điều hoàn toàn nghịch lý và
hoàn toàn không tương. Mọi quy luật khách quan con người đều có thể cài thiện
nó theo nhu cầu chính đáng, cần thiết của mình, nhưng không bao giờ làm thay đổi
hay tiêu diệt tuyệt đối được nó, đó cũng là một nguyên lý, một quy luật khách
quan, tất yếu.
Khi Các
Mác chủ trương dùng độc tài vô sản, xuyên qua chuyên chính vô sản trong thời kỳ
quá độ để xây dựng một xã hội không còn giai cấp, không còn thị trường, không
còn tiền tệ, không còn nhà nước, không còn pháp luật, bởi con người hoàn toàn tự
giác với nhau, sản xuất sản phẩm trao đổi, phân chia trực tiếp nhau, thật không
còn quan niệm nào ngây dại, ngốc nghếch cho bằng, bởi nó chỉ hoàn toàn không tưởng,
điên loạn, trái với mọi quy luật khách quan tự nhiên của xã hội, không bao giờ
tồn tại hay khả dĩ làm thế nào thực hiện được. Quan niệm của Mác là quan niệm
hoàn toàn ngông cuồng, phản lịch sử, phản nhân loại, phản thực tế, chỉ phỉnh dụ
được những người nào kém nhận thức hay không lương thiện, lại đầy tham vọng
lươn lẹo, để nhằm lợi dụng cho độc tài phe nhóm, bản thân bằng mọi biện pháp
tuyên truyền ru ngủ, phỉnh gạt nhân quần chỉ đều là thế.
Bởi lịch
sử loài người phát triển từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao là quy luật và thực
tế tự nhiên là điều khách quan không thể nào phủ nhận được. Từ giai đoạn mông
muội, qua thời đại đồ đá, đồ sắt, đồ đồng, từ giai đoạn kinh tế hái lượm tiến
lên kinh tế nông nghiệp rồi phát triển công thương kỹ nghệ chỉ đều phát triển nội
tại đi lên mà không gì khác. Bởi vậy cũng không thể nào có giai đoạn xã hội cuối
cùng mà lịch sử mãi luôn tiến hóa, phát triển, không thể nào dừng lại cố định
được cả. Sự phát triển về chất luôn luôn có, càng ngày càng tinh vi, tinh tế
hơn, càng ngày càng khoa học và tiến hóa hơn, đó là điều hoàn toàn tất yếu
không bất cứ cái gì có thể thay thế được. Như cái cây luôn luôn phát triển ngay
từ đầu rồi tới giai đoạn ra hoa, kết trái, đó là quy luật mãi mãi tự nhiên, chỉ
có những kẻ điên loạn nào mới có thể nghĩ khác đi được. Tức chỉ có một số quy
luật của tự nhiên và xã hội luôn luôn bất biến, còn tất cả chỉ đều thường biến,
không thể nào nhầm lẫn hay đánh tráo khái niệm mập mờ để thay thế cho nhau được
cả.
Điều đó
cũng giai thích lý do tại sao trong dòng tiến hóa qua lịch sử, loài vật qua
ngàn năm vẫn phải đứng yên, không thể vượt qua những ngưỡng thay đổi nào đó được
nữa, trong khi loài người tiến lên không ngừng, đó là vì bản chất hai đàng khác
nhau, nội hàm hai nơi khác nhau, tiềm lực hai bên khác nhau. Tức loài người có
lý trí phát triển còn loài vật thì không, loài người đi đến thích nghi thân xác
phát triển mọi mặt còn loài vật thì không. Ai cũng thấy sự khác nhau giữa thân
xác loài bò sắt, thân xác loài chân đốt, thân xác loài hữu nhũ, thân xác loài
linh trưởng, thân xác con người cũng khác nhau, đó không chỉ là lô-gích khách
quan lịch sử mà còn là nguyên lý ẩn tang của lịch sử bên trong, đã vượt qua những
ranh giới nhất định mà duy loài người đã và mới có thể có được. Khi Engels cho
loài người là phát sinh từ loài khỉ vượn, nhờ lao động chân tay duy nhất mà có,
đó chỉ là cái nhìn thiển cận duy nhất một chiều, cái nhìn trích đoạn nông cạn về
thuyết tiến hóa kiểu hoàn toàn nông nỗi, duy vật tuyệt đối mà chẳng có chút nào
thông minh hay sâu sắc cả.
Bởi vậy
loài người phát triển chính là nhờ lý trí của mình. Chính nhờ lý trí mà con người
dần dần chinh phục được sự vật, thế giới khách quan tự nhiên, con người từng bước
có khoa học kỹ thuật phát triển đi lên về mọi mặt trong đời sống sản xuất,
trong văn hóa xã hội, từ thiên nhiên đơn giản ban đầu đã chuyển qua xã hội tri
tuệ, và cứ dần dần phát triển đi lên như vậy. Lịch sử phát triển loài người là
lịch sử phát triển theo cách tuyến tính, tức giai đoạn sau phải coa hơn giai đoạn
trước, không thê khác hơn như thế, không thể có bước gián cách hay nhảy vọt quá
đáng nào mà phải vẫn từ từ tiệm tiến. Xã hội tư bản bởi vậy là xã hội phát triển
khách quan tự nhiên mà không phải cá nhân nào đặt bày, sáng tạo ra cả. Con người
có lý trí tạo ra công cụ, lý trí phát triển dần lên tìm ra hay tạo thành khoa học,
vậy là công kỹ nghệ, thương nghiệp phát triển lên thêm, thế thôi. Không có cái
trước cũng không có cái sau, không có cái nào tự trời rơi xuống, không có cái
nào có thể do chủ quan con người hoàn toàn đặt ra mà đều theo quy luật khách
quan hay quy luật tiềm ẩn tự nhiên hoặc tiên thiên tạo nên tất cả.
Mà tư bản
là gì ? Thật ra tư bản chỉ là sự tích lũy lao động xã hội qua một thời gian ngắn
dài nào đó về nhiều mặt để tạo ra hay làm phát sinh ra. Nó tồn tại trong dân
hay trong xã hội theo những định chế nào đó, và khi huy động thì sẽ được tập
trung lại, trở nên yếu tố đầu tư và phát triển. Tư bản có nhiều loại như tư bản
con người, tư bản tiền bạc, tài chánh, tư bản kỹ thuật, tư bản kỹ năng, chất
xám, mà không phải chỉ duy nhất một loại nào. Tư bản được tạo thành trong xã hội
tự do, được huy động trong cơ chế tự do, và cũng phục vụ lại cho sự phát triển
kinh tế xã hội trong cơ chế tự do chính là thế. Nó như mạch máu lưu thông trong
xã hội, nó luôn luôn lưu chảy hoặc chờ đợi để lưu chảy, không bao giờ bị cục
máu đông lâu dài được cả, vì nếu vậy phải bị nhồi máu và ngất xỉu kiểu như những
cuộc khủng hoảng kinh tế do bởi những sự biến động bất chợt tạm thời nào đó. Sự
kích thích tạo thành tư bản chính là tính thu hút của quyền tư hữu, khiến đây
như là động lực để tích tụ và giải tỏa tư bản, để tạo thành khả năng tư bản mới
hơn và cứ tiếp tục như thế.
Tư bản
như vậy là một guồng quay tự động, nó gắn liền vào kinh tế tự do, không những
nó mở rộng ra trong cả nước mà còn cả trên toàn thế giới, mỗi xí nghiệp phát
triển đều góp phần làm kinh tế đất nước phát triển, cả những khi làm toàn cầu
phát triển, bởi kinh tế đều như guồng máy rộng khắp, liên thông với nhau, ảnh
hưởng, tương tác với nhau mọi mặt. Mọi định chế kinh tế đều gắn liền nhau mà
không bao giờ chỉ rời rạc hay tách biệt. Bởi nếu không có quyền tư hữu cũng
không còn động cơ kích thích nào cả, không còn mục đích nào thiết thực hay cụ
thể được cả. Nó cũng như mạch nước chảy ngầm hay lộ thiên, công khai, nhưng đều
luôn làm cây cối phát triển, không thể có nguồn nước nào bị tù đọng bởi nếu vậy
là đi ngược lại hay trái với bản chất khách quan tự nhiên của nó. Mọi cây cối,
thực vật đều chia sẻ nguồn nước với nhau, tuy có chỗ nhiều chỗ ít tùy theo nhu
cầu hay điều kiện, có điều tư bản phải luôn luôn lưu chảy, bởi vì nếu dừng là
phản lại ngay với bản chất tự thân của nó. Vật chất phải luôn vận động, mọi vật
phải luôn vận động, thì tư bản thì tư bản, tài chánh, tiền tệ nói chung cũng đều
phải vậy.
Tư bản
có khả năng mua (huy động, tập trung) được tất cả, từ vật chất đến trí tuệ con
người bởi khả năng đầu tư về mọi mặt của nó rất lớn và rất tiện lợi, mọi nguồn
đều có thể phiên bản ra thành nó và chính nó cũng huy động, phục vụ lại cho mọi
nguồn. Sự khôn ngoan của con người, của xã hội là tạo nên mọi công cụ, phương
tiện hữu ích, và mọi cơ chế hiệu quả cho hoạt động của chính mình. Con người
thay vì chỉ hoạt động tay chân, cơ bắp nghèo nàn, thì hoạt động qua cơ ché máy
móc mọi mặt, đó là cơ chế hoạt động khách quan, tự nhiên của xã hội kinh tế tư
bản là như thế đó. Tất nhiên nếu có những phát sinh trục trặt, tắc tị nào đó,
thì đó vẫn là điều không thể tránh khỏi vì lỗi của cá nhân con người, của những
bộ phận máy móc nào đó, của sự hiểm hóc nào đó, có thể chỉ là cục bộ nhất thời,
nhưng không phải và cũng không nên phê phán hay oán trách toàn bộ cơ chế khách
quan nói chung. Mọi sự phê phán đều phải nhìn vào nguyên lý vận hành chung,
nhìn vào hiệu năng, hiệu quả tối hậu, nhìn vào sự tiếc kiệm, tiện lợi, kết quả
nói chung của toàn bộ cơ cấu đó mà không thẻ chỉ nhìn theo cách cục bộ, tách biệt,
rời rạc, chủ quan, hạn hẹp trên những góc cạnh chủ quan nào đó nhất định.
Do vậy,
khi Mác nhìn tư hữu như đầu mối của sự phân chia giai cấp, là nguồn gốc của mọi
sự bóc lột, của đấu tranh giai cấp, thì đó chỉ là lối nhìn trích đoạn, cố chấp,
rời rạc, tách biệt cùng phiến diện. Đó là kiểu chỉ thấy một mà không thấy mười
của mọi sự phán đoán về sự kiện. Kiểu chỉ tách riêng ra một tế bào rồi nhận định
chung cho toàn cơ chế sinh vật hay xã hội, có khi cả lịch sử, như Mác đã từng
nêu rõ quan điểm đó của mình được minh thị ngay trong lời giới thiệu của bộ Tư
bản luận. Các Mác thật sự chỉ nìn méo mó một một sự rồi suy diễn ra mười sự
theo cách tư biện kiểu hoàn toàn chắc mẩm, nhằm cuối cùng kết luận chuyên chinh
vô sản hay độc tài vô sản thì thật là quá đáng, chủ quan, thiên lệch, áp đặt,
chẳng cần mọi sự thật khách quan nào cả. Bởi chủ yếu của Mác là quá tin chắc vô
căn cứ vào biện chứng luận để suy đoán vậy thôi, chẳng cần dựa vào quy luật
khách quan nào cả của con người và xã hội. Tức Mác chỉ thấy sự nghịch lý mâu
thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản lúc đó như hai cực đối lập rồi
suy đoán bừa ra, nhưng không thấy rằng sự đối lập giữa hai cự nam châm, sự đối
lập giữa hai cực địa cầu, sự đối lập ngày đêm trên trái đất có hề dẫn tới kết
quả khác nào đâu. Sự nông cạn, ấu trĩ, manh động của Mác chính là như thế.
Tức Mác
nhìn hết sức lệch lạc về luật pháp, về xã hội, về lịch sử, về con người. Đó chỉ
là quan niệm thiển cận và mê tín. Bởi con người luôn luôn đầy tính bản năng,
ích kỷ, thì lấy cơ sở, lý do nào để phong thánh giai cấp vô sản khi đó có sứ mệnh
lịch sử để nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại.
Con người chỉ cao cả khi nào có giáo dục đầy đủ, có hiểu biết, nhất là có tố chất
cá nhân tự nhiên tốt đẹp. Giai cấp vô sản khi ấy chỉ là hệ lụy dó điều kiện,
hoàn cảnh kinh tế, họ chịu nhiều thiệt thói lúc ban đầu, là giai cấp mang nhiều
yếu tố bất cập, nhược điểm trong xã hội, chỉ là thành phần thiểu số, ít ỏi lúc
ban đầu, lại được phong thần phong thành một cách đầy mê tín, mê muội, thử hỏi
họ sẽ làm được gì cho lịch sử nếu không nói sẽ trở thành bung xung cho những
tham vọng cá nhân khác nhau lợi dụng, đưa lên như kiểu chân dung bù nhìn, mà thực
chất họ cũng chẳng được lợi lộc nào cả, bởi nghịch lý là họ vẫn phải ở trong
nhà máy, vì nếu ra ngoài họ cũng không còn là họ nữa. Mọi địa vị chính trị,
kinh tế đều do kẻ lợi dụng, giả đò tung hô họ mà chẳng bao giờ là quyền lợi
chính họ. Đó cái ấu trĩ, ngờ nghệch, mờ tối của chính Các Mác là thế.
Nên
thay vì đơn giản dùng các biện pháp luật pháp và xã hội, như thuế khóa, dư luận
báo chí, các nâng đỡ tài chánh, điều tiết xã hội, bằng các công cụ kỹ thuật xã
hội khác nhau, để nhằm hỗ trợ, nâng đỡ, giải quyết quyền lợi thực tế của giai cấp
công nhân lao động lúc đó, Mác lại đề ra các cách thức tàn khốc kiểu đốn cây chặt
rừng, tiêu diệt đi cả nhiều giai cấp xã hội khác nhau để thay thế vào đó một
khái niệm một giai cấp ảo ảnh, hoàn toàn không thực tế hay huyễn hoặc. Sự vô ý
thức, vô trách nhiệm của Mác đối với xã hội và lịch sử xã hội loài người chính
là như thế, tạo ra biết bao hậu quả, hệ lụy trong thực tế, khiến Mác trở thành
tội lỗi, cả nhiều khi tội ác, dầu Mác không phải trực tiếp gây ra mọi điều đó.
Hay tai hại của một học thuyết nếu nó sai lầm nhiều khi còn gây những hậu quả lớn
lao, lâu dài còn hơn cả mọi sự diệt chủng nhất thời trong thực tế lịch sử.
Trong
khi đó, mọi sự diễn tiến, phát triển tự nhiên trong xã hội loài người từ cổ chí
kim đều luôn là kết quả đấu tranh cân bằng giữa bản năng và lý trí, giữa tham vọng
quyền lực cá nhân và sự tuân phục của đám đông mà không gì khác. Từ giai đoạn bộ
lạc, qua chế độ phong kiến, quân chủ tập quyền, đến tư sản cộng hòa đều tương tự
như thế. Pháp luật luôn luôn tùy vào sức mạnh của người cầm quyền, pháp luật chỉ
là cái nền chung, cái nền bảo đảm cho trật tự xã hội nào đó, nó có thể tốt hay
xấu tùy theo từng giai đoạn thời đại, không nhất thiết luật pháp nào là tuyệt đối
tốt hay tuyệt đối xấu, đó chỉ là kết quả của sự quân bình xã hội qua từng hoàn
cảnh thời gian nhất định. Thường thường pháp luật chỉ định hình số đông quần
chúng mà khó định hình những kẻ có thế lực, bởi quần chúng thường chỉ là lực lượng
a dua, mù quáng, xu nịnh, thụ động, chưa hẳn gồm mọi tầng lớp tinh hoa của toàn
xã hội.
Bởi vậy
trong mọi thể chế xã hội tự do dân chủ, tức không phụ thuộc vào một ý thức hệ độc
tài nào cả, mọi người dân đều được tự do phát huy năng lực tự nhiên của mình.
Ngay trong thời kỳ quân chủ độc đoán chuyên chế cũng vậy, vì quyền hành dẫu được
tập trung chỉ huy bởi một nhà vua, một vì hoàng đế chuyên quyền nào đó, tuyệt đại
đa số quần chúng nhân dân đều không bị tổ chức, bị tuyên truyền bó buộc phải rập
khuôn theo một lý thuyết nào cả. Họ vẫn hoàn toàn tự do theo đuổi ý thức, quan
điểm riêng tư của mình, họ không bị vong thân, không bị nô lệ chỉ riêng vào ý
kiến của người nào khác nếu thật sự họ đều không muốn như vậy. Nhưng từ khi có
lý thuyết độc tài vô sản của Mác đến nay, điều đó đã hoàn toàn bị triệt tiêu
nơi nhiều nước, khiến từng có thời một mảng lớn xã hội nhân loại đã không thoát
ra khỏi điều đó. Thời Stalin ở Nga, thời Mao Trạch Đông ở Tàu v.v… đích thị đều
là kiểu xã hội như vậy. Đó không hề là xã hội giải phóng mà là xã hội bị nô lệ
nhiều mặt, đó kết quả của học thuyết Mác thật sự chỉ là thế, nó hủy diệt ý thức
tự do của con người, thậm chí có khi hủy diệt cả nhân cách và phẩm giá con người,
biến con người chỉ thành vật nuôi, thành vật chất thụ động và nô lệ.
Chỉ do
luật pháp khi đó không còn là nền tảng, là khuôn khổ bảo vệ trật tự xã hội
khách quan nữa, bảo vệ tự do chính đáng và an ninh bản thân con người nữa, lại
trở thành công cụ khuôn đúc cho ý thức hệ độc đoán cho dù ý thức hệ độc đoán đó
có sai lầm hay phi lý bao nhiêu. Bởi luật pháp khi đó đã bị lợi dụng cho quyền
lợi riêng tư của thiểu số cầm quyền. nó có thể nhân danh mọi thứ nhưng thực tế
đều không phải như vậy, kể cà bị lợi dụng bởi vô số kẻ xu nịnh, cỡi lên đầu lên
cổ quần chúng, lên đầu lên cổ của xã hội để nhằm trục lợi mà không gì khác. Khi
lịch sử nước Đức sinh ra Hitler và sinh ra Các Mác đều chính là những nguyên
nhân như vậy. Hitler nhân danh quyền lợi dân Đức để thực hiện chế độ độc tài cá
nhân, Mác nhân danh nhân giải phóng loại và giai cấp, để nhằm thực hiện chế độ
độc tài ý thức hệ riêng tư của chính mình. Thực chất cả hai đều làm hủy hoại nhân loại và
dân tộc mình trong thời gian dài, chỉ nhờ vào các biện pháp tổ chức, nhân danh,
độc đoán, và tuyên truyền sai lệch, khiến quần chúng đều trở thành mờ tối, và
thành công cụ làm lợi riêng cho những thực thể như thế.
Cho nên
tuyên truyền và tổ chức cũng như sự bạo lực là công cụ hay sức mạnh chủ yếu của
mọi chế độ độc tài, bởi vì nó khiến mọi tự do chính đáng của con người đều bị
tiêu diệt, khiến cả tự do của xã hội cũng bị tiêu diệt, mà chỉ còn biến thành
công cụ của những người sử dụng nó. Đất nước, xã hội ta thực tế từ năm 1945
cũng tương tự như thế mà không ai dám nói. Bởi khi xã hội đã được tổ chức toàn
diện trong sự độc đoán, độc tôn một chiều rồi thì nó trở thành sức mạnh khủng
khiếp, không có kẽ hở nào đề cho ai suy nghĩ, phát biểu điều gì khác hơn được nữa.
Sự độc tài làm cho chai lỳ, sợ hãi, mất sức đề kháng của toàn xã hội. Khiến xã
hội chỉ còn là dòng chảy một chiều mà không có một ngoại lệ nào khác. Sự cuốn
hút vào hai cuộc chiến tranh liên tục suốt 30 năm, thực chất là cuộc chiến
tranh ý thức hệ, vì mục đích ý thức hệ, đã trở thành cuộc nội chiến là chủ yếu,
nhưng hình thức bề ngoài lại nhân danh như là cuộc chiến đấu giải phóng đất nước,
giải phóng dân tộc, song thực sự chẳng ai dám nói, ngay cả mọi người viết sử, mọi
sử gia đích thực cũng không thể nói khác. Họ đều phải thành công cụ, bởi toàn
thể xã hội đều biến thành hão lũy, không ai có thể thoát ra được, kể cả những
người được cầm quyền chính, bởi tất cả đều trở thành nạn nhân của họ thuyết
Mác, không còn bất cứ ai có khả năng tự do, độc lập được nữa. Tại sao lại chính
người Việt Nam lại trở thành dối gạt lịch sử khách quan của đất nước mình đối với
cả các thế hệ con cháu mai sau một cách hoàn toàn không cần thiết như vậy phải
chăng chỉ tỏ ra một dân tộc tầm thường, kiểu đáng trách như thế ?
Nhưng đó
lại cũng là ý nghĩa khiến có thể nói được, chính ông Phạm Văn Đồng là người phải
có trách nhiệm hay tội lỗi cụ thể nhất trong việc này, bởi vì ông là người từng
làm Thủ tướng lâu đời nhất từ trước đến nay trong thời kỳ đó. Từ đấu tranh ruộng
đất, Nhân Văn Giai Phẩm, tổ chức tuyên truyền cho nền giáo dục ý thức hệ một
chiều một cách sâu đậm đều không ra ngoài bóng mờ bao phủ của chính bản thân
ông, cả Công hàm 58 cũng không ngoài chữ ký của ông ta. Này nay cứ xem lại mọi
tài liệu, mọi phát ngôn của ông ta đã từng có và được ghi lại cụ thể đến nay
hoàn toàn thấy rõ. Điều này dù trong quá khứ có được che giấu kỹ càng, kín đáo
bao nhiêu thì trong tương lai lịch sử nó cũng đã bắt đầu dần dần lộ mở. Bởi người
ta ai cũng có thể lấy tay tự che mặt trời cho chính mình cách tạm thời nhưng
không thể che mặt trời được cho tất cả mọi người. Lịch sử luôn luôn bị vượt qua
và mọi sự sẽ đều sang tỏ mãi mãi, không ai có thể kìm lại hay đổi thay đi được.
Cho nên một nền chính trị không tạo ra được những đầu óc độc lập, không xây dựng
được những thành phần, tầng lớp tinh hoa của dân tộc, đất nước trong suốt một
thời kỳ dài là thế nào, điều ấy cần khiến cho mọi người phải suy nghĩ. Một nền
giáo dục mà suốt gần thế kỷ chỉ cốt nhằm đào tạo ý thức hệ, bất chấp tương lai
của đất nước, của dân tộc chỉ vì niềm tin mù quáng, một chiều, tạo nên sự vong
thân, mù quáng, không tự chủ được trí tuệ và sự nhận thức của bao lớp trẻ nối
tiếp nhau, thì nền giáo dục đó hỏi trách nhiệm về ai nếu không phải là người đã
gia công thực hiện cho bằng được nó.
Vì thật
ra chính trị là gì ? Chính trị căn yếu nhất phải là một khoa học vừa về lý thuyết
vừa về thực tiển, nhất là phải cần một triết học sâu xa, toàn diện và bao quát
nhất làm nền tảng. Nếu chưa được như thế, chính trị chỉ như một hiện tượng xã hội
nhất thời nào đó, nó có thể đáp ứng được hay không nhu cầu thực tế trước mắt của
một giai đoạn xã hội, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó của một đất
nước, một dân tộc cụ thể. Chính trị khi đó chỉ là một sản phẩm nhất thời của lịch
sử mà không có gì bất biến, bền lâu hay trường cửu cả. Bởi vậy chính trị đúng đắn
cần phải đào tạo ra nền giáo dục đúng đắn mà không phải giáo dục chỉ nhằm phục
vụ chính trị nào đó. Bởi giáo dục nhất thiết phải gắn liền với bản thân hay chiều
dài của lịch sử, giáo dục vì thế phải là một khoa học hay một triết học mang
tính nhân văn sâu sắc, lâu dài và chỉ vì mục tiêu phục vụ đất nước, phục vụ con
người, phục vụ xã hội, phục vụ dân tộc, không phải chỉ nhằm phục vụ chính trị
mang tính nhất thời hay giai đoạn nào đó. Bởi mọi người làm chính trị, cho dù bất
cứ lãnh tụ nào đi nữa, đều chỉ là sản phẩm mang tính nhất thời giai đoạn của lịch
sử, không bao giờ là cha ông vĩnh viễn của lịch sử. Một nền giáo dục nhằm cốt đồng
hóa chính trị với đất nước, với dân tộc, nhất là nhằm đồng hóa lãnh tụ, thể chế,
ý thức hệ nào đó, với chính lịch sử, đất nước và dân tộc mình trong muôn đời,
thực chất không khác gì nền giáo dục phản động, phản dân, hại nước, bởi nó sẽ hủy
diệt mọi tiềm lực phát triển của đất nước, mọi tinh hoa của dân tộc, mọi ý
nghĩa chân chính, nhân văn, và tự do chính đáng của con người, mọi năng lực của
xã hội đi lên phát triển, vì phải bị đóng khung trong thụt lùi và ngưng đọng.
Nó sẽ hủy diệt mọi tầng lớp trí thức khác nhau chính là như thế. Sự đem cái nhất
thời áp đặt lên điều trường cửu, lâu dài của cả một dân tộc, đất nước, quả
không còn cái gì tệ lậu bằng.
Nhưng thảm não
và tệ hại nhất, chính là làm phát sinh ra số người ngụy tín, tự nhận mình là
trí thức, kiểu ảo tưởng như là thành phần tinh hoa của dân tộc, nhưng thực chất
lại tỏ ra thấp kém, chẳng cho thấy có chút nào là trí tuệ cả. Như trong trường
hợp mới đây, có một cá nhân tự tin, tự tỏ mình là tài năng hiếm thấy, do bởi tự
nghĩ mình là một Tiến sĩ luật học, mặc dù đã bị trục xuất qua Mỹ, kiểu một Cù
Huy Hà Vũ, lại quyết tâm viết ra bài báo để gời cho BBC, trong đó nhằm xác quyết rõ
ý đồ, mục đích của mình, bằng cách minh thị việc giải độc dư luận xã hội, để cầm
lái, hướng dẫn quần chúng, theo cách chủ quan mình như sau: “Về học thuật, Trần
Đức Thảo là một nhà Mác xít. Để khỏi chứng minh dài dòng, tôi lấy Trần Đức Thảo
để định nghĩa Trần Đức Thảo. Trong 'Tiểu sử Trần Đức Thảo' tự biên, ông viết:
"Tháng 8 năm 1951 tôi công bố cuốn "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy
vật biện chứng" do Nhà xuất bản Minh Tân phát hành. Cuốn sách này đánh dấu
sự chuyển biến của tôi từ Hiện tượng học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên
thực tế, tôi mới chỉ đạt tới ngưỡng
cửa của Chủ nghĩa Mác. Tôi đã đi đến nhận biết được chân lý của những cơ sở lý
luận của học thuyết duy vật biện chứng, nhưng chưa nắm được đầy đủ những tác
phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch
sử. Trong hành trình của tôi, tôi đã được đưa đến Chủ nghĩa Mác qua hai con
đường: Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa
xã hội; Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy
rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải
quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học". “ Tóm lại, Trần Đức Thảo tán thành
"chủ nghĩa xã hội" theo học thuyết Mác-Lênin và khẳng định cuộc đấu
tranh đòi tự do cho dân tộc Việt Nam dẫn đến chủ nghĩa xã hội”. (Do
người viết gạch dưới và in nghiêng).
Và để kết luận, Cù Huy Hà Vũ viết : “với tư cách là một
người có quan hệ gần gũi với Trần Đức Thảo, tôi thấy cuốn sách 'Trần Đức Thảo -
Những lời trăn trối' là một sự xuyên tạc có chủ ý triết gia duy nhất này của Việt Nam (tính đến thời điểm hiện
tại), hơn thế nữa, được giới triết học
quốc tế ngưỡng mộ. Đấy cái nhìn của Trần Đức Thảo về mình là như thế,
và đó cũng là cái nhìn của Cù Huy Hà Vũ về Trần Đức Thảo đều tựu trung chỉ là
như thế.
Điều này càng chứng tỏ
thực sự Trần Đức Thảo lẫn Cù Huy Hà Vũ chẳng hiểu khái niệm “chủ nghĩa xã hội” của Mác thật sự
là gì. Bởi chủ nghĩa xã hội của Mác thực chất chỉ là bước thấp, là giai đoạn
ban đầu của xã hội cộng sản, nhưng nếu xã hội cộng sản đó chỉ là không tưởng,
tức không bao giờ thực hiện được (như ngày nay Liên Xô cũ và khối Đông Âu đã
hoàn toàn sụp đổ và tan rã, cả Trung Quốc cũng đã trở cờ) vậy thì chủ nghĩa xã
hội theo kiểu Mác, theo nội dung của Mác liệu còn nào đưa tới đâu hay là ích
lợi gì. Bởi nó chỉ được hiểu là giai đoạn trung gian, thời kỳ quá độ để nhằm đi
lên xã hội cộng sản qua duy nhất con đường đấu tranh giai cấp, không phải chủ
nghĩa xã hội theo truyền thống cổ điển là đề cao xã hội trong mục đích tự do
nhân bản, trong tình thương yêu và bình đẳng của tất cả mọi người không phân
biệt giai cấp đặc thù nào cả. Một người lâu nay được nhiều người tôn sung là
“triết gia”, nay Vũ còn tô thêm đậm nét “triết gia duy nhất” của Việt Nam từ
trước đến nay, vậy mà tư duy kiểu chỉ tầm thường, nô lệ tư duy người khác, cho
dù người đó là Các Mác thì liệu còn có ý nghĩa gì, liệu còn có giá trị tư duy
độc lập, tự do, tự chủ của người làm triết học là như thế nào. Và nói kiểu thế
thì còn gì là tinh hoa, còn gì là giá trị hay ý nghĩa tiêu biểu của một dân tộc
được nữa, chẳng qua cũng chỉ là cách nói cuội, cách nói thụi như bao người khác
thế thôi, còn lấy gì làm gương hay đẻ hướng dãn trí tuệ cho cả một đất nước,
một dân tộc độc lập, tự do cách thiết thực, tinh túy được nữa.
Việc đó thật hoàn toàn
khác hẳn với tinh thần, mục đích của Phan Chu Trinh đã có cả một trăm năm trước
đó : Khai dân trí, Chấn dân khí, hậu Dân sinh, thật hoàn toàn tự chủ, thiết
thực, trong tinh thần và mục tiêu yêu nước nồng nàn, sâu xa thật sự. Tinh thần
đó là do Phan Chu Trinh tự nghĩ ra mà không cần noi theo hay lấy lại từ một ý
thức hệ bên ngoài nào cả. Hoặc như Nguyễn Thái Học chủ trương Tam dân chủ nghĩa
“ Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc”, tuy đây lấy lại ý
tưởng của Tưởng Giới Thạch, mà gốc rễ là tư tưởng của Tôn Văn, vị anh hùng giải
phóng dân tộc, đất nước Trung Hoa ra khỏi sự nô lệ ngoại tộc Mãn Thành, nhưng ý
nghĩa vấn đề ở đây không phải nhằm bắt chước người ngoài, nhưng hoàn toàn nhận
thức điều đó là đứng đắn và có thể áp dụng thiết thực, hiệu dụng cho chính đất
nước, dân tộc mình. Cho nên tư tưởng
không nhất thiết phải của ai, miễn là tư tưởng đó hoàn toàn khách quan, đúng
đắn qua tinh thần tự chủ của mình nhận thấy. Như nước ta từng thời xưa qua hang
ngàn năm đành phải lệ thuộc Tàu, nhưng tinh hoa của Nho giáo tức tư duy Khổng
tử dân tộc ta vẫn thấy đúng đắn và chấp nhận để dùng đó đánh đuổi xâm lược Tàu
ra khỏi nước ta có sao đâu. Vậy mà ngày nay vẫn còn số người vẫn không hiểu tư
tưởng Khổng tử thực chất là tư tưởng nhân văn, trụ ở con người, lại cho đó là
tư tưởng phong kiến để nhằm bài xích một cách mù quáng, thiển cận một chiều thì
quả không thể nói vào đâu được, mặc dầu Viện Khổng tử ngày nay của Trung Quốc
trên khắp thế giới thực chất chỉ là công cụ truyền bá ý thức hệ trái ngược, lẫn
cả có mưu đồ bá quyền Đại Hán trên toàn thế giới hiện thời mà lại ít ai nhìn
thấy.
By VÕ HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét