Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

PHÊ PHÁN ĐIỀU CỐT LÕI NƠI HỌC THUYẾT CÁC MÁC

   PHÊ PHÁN ĐIỀU CỐT LÕI

NƠI HỌC THUYẾT CÁC MÁC

 

Ngày nay khắp thế giới đều đã biết về mọi điều thực tế từ khi hoc thuyết Mác được đem áp dụng vào cho cuộc sống nhân loại là như thế nào rồi. Điều đó xảy ra từ khi nhà nước Liên Xô tức nhà nước xô viết ở Nga được thành hình ngay từ đầu khi Lênin xay dựng nên cho đến khi nó sụp đổ và tan rã trong suốt thời gian dài 7 thập niên sau đó. Cả khối Đông Âu trước kia thuộc Liên Xô cũ cũng vậy, một số nước khác ở khắp nơi cũng không ra ngoài thực chất đó, hay cả như Trung Quốc từ ngày được thành lập 1949 cho mãi đến ngày nay cũng đều không khác.


Nhưng đó mới chỉ là nhìn các hiện tượng xã hội bên ngoài, còn cái nhìn bên trong về bản chất khách quan hay khoa học ra sao mới là điều quan trọng nhất thiết trước tiên cần phải được nói đến. Bởi mọi sự thất bại hay không thành công như thế nào đó của mọi sự, trong đó kể cả học thuyết Mác, không phải chỉ điều biểu hiện ra bên ngoài, mà chính sự sai trái hay không hữu lý bên trong mới luôn là ý nghĩa quyết định nhất. Trong bài sau đây chúng ta sẽ phân tích khách quan về chính bản chất đó và cũng là điều mà mọi người sáng suốt, thức thời ngày nay phải cần thiết nhìn thấy.

 

Thật vậy, điều cốt lõi nhất trong học thuyết Mác không gì hơn là khái niệm “biện chứng luận” (Dialektik, dialectics, dialectique), đó là cái xương sống của học thuyết Mác, mà nếu không có nó học thuyết Mác cũng không thể hình thành và lấy gì làm căn cứ được. Nó như cái rề so, cái cốt tủy bên trong mà hệ thống học thuyết Mác được hình thành nên, nó như nguyên lý quyết định căn cơ nhất không thể thiếu, mà nếu bỏ ra nguyên lý này, học thuyết Mác đều trở nên trống rỗng, vô nghĩa, và cũng chẳng có lý do nào tồn tại cả.

 

Chính quan điểm “biện chứng” đó cũng đã thành động lực, động cơ, mục đích và niềm tin của lý thuyết đấu tranh giai cấp và xây dựng xã hội cộng sản trong tương lai mà học thuyết Mác muốn hướng đến. Nó là cơ sở của lý thuyết đấu tranh giai cấp mà Mác đã đưa ra, tạo thành nền móng chung nhất về lý thuyết phát triển lịch sử xã hội mà Mác chủ trương, tin tưởng, cũng như mục tiêu phải quyết tâm thực hiện cho bằng được. Đó là điều Mác tin học thuyết mình là học thuyết “khoa học” nhất từ trước đến nay, bỏ qua xa mọi quan niệm cộng sản không tưởng trước đó, và đó đã trở thành điều thu hút mọi người cộng sản trong quá khứ nhất.

 

Thường những người quần chúng vẫn hiểu lầm học thuyết Mác nhằm chống mọi bất công thực tế trong xã hội do giai cấp gây ra, tranh đấu nhằm thiết lập một xã hội không giai cấp trong tương lai là một mục tiêu lý tưởng, sự xóa bỏ phân biệt giàu nghèo trong cuộc sống là đạo đức và tình cảm cao quý của bản thân Mác, nhưng mọi điều đó đều nhầm lẫn. Bởi chính Mác luôn coi đó chỉ như những thị hiếu cảm tính, vấn đề là cần tìm ra nguyên lý khoa học dẫn đường cốt lõi có tính quyết định nhất, đó là nguyên lý “biện chứng” áp dụng vào xã hội và lịch sử mà Mác tâm đắc nhất như một niềm tin không bao giờ loại bỏ.

 

Bài viết này tất nhiên cũng không nhằm mục đích chính trị trước mắt nào cả. Bởi chính trị luôn phụ thuộc vào số đông, vào dân trí và vào sự tự do. Chính trị lý thuyết có thể thuộc về phạm vi khoa học, phạm vi triết học, cả phạm trù đạo đức, nhưng chính trị thực tế thì chắc chắn không bao giờ phụ thuộc vào những thứ đó. Bởi bất cứ xã hội nào không có thật sự tự do thì chính trị cũng trở thành vô nghĩa, bởi thực chất nó chỉ thành tranh giành lợi ích bản thân và quyền lực, nên chỉ những người nào hoặc ngây thơ hoặc quả cảm mới toan tính lám chính trị theo kiểu đó. Ở đây chỉ cốt phân tích vấn đề hoàn toàn hay thuần túy về mặt học thuật, tức mặt khoa học kể cả mặt triết học.

 

Vậy để phân tích tận cùng chiều sâu như thế, trước hết phải phân tích lịch sử việc hình thành học thuyết Mác là gì, hay trước tiên phải phân tích bối cảnh ra đời của chính bản thân cá nhân cũng như chính bản thân của học thuyết Mác.  Karl Heinrich Marx (1818-1883), một nhà tư tưởng người Đức gốc Do Thái. Tư tưởng của ông rãi ra khấp các lãnh vực như kinh tế, xã hội, lịch sử, chính trị, triết học nói chung. Nhưng căn bản ông ta thuộc lớp hậu sinh khuynh tả của vị thầy là Goerg Wilhelm Fridrich Hegel (1770-1831) trước đó, đây là vị triết gia tên tuổi người Đức đương thời, và chắc chắn Mác cũng là kiểu học trò hay ít ra cũng không thoát khỏi chính cái bóng bao phủ của vị thầy tên tuổi này.


Hegel nổi tiếng như một triết gia lớn nhất của Đức hay Châu Âu lúc đó và các đồ đệ của ông ta chia ra thành lớp hậu sinh, hay lớp học trò khuynh hữu và khuynh tả nổi đình đám mà Mác chính là một học trò thuộc loại tả khuynh đó. Hegel căn bản là nhà triết học hoàn toàn duy tâm, Mác cũng tự cho mình là nhà triết học hoàn toàn duy vật, nhưng nếu Hegel còn nổi tiếng thêm với cái gọi là biện chứng luận duy tâm, thì Mác cũng thế, cũng nổi tiếng như một nhà biện chứng luận duy vật. Đó chính là điều cốt lõi nhất mà chúng ta đang nói đến. Không có Hegel tất nhiên chắc chắn cũng không thể có Mác, nói đúng hơn, nếu không có biện chứng luận duy tâm của Hegel cũng không thể nào có biện chứng luận của Mác hay toàn bộ học thuyết Mác về sau, đó là điều trước tiên phải cần lưu ý.

 

Thế nên điều trước tiên buộc cần phải nói là biện chứng luận duy tâm là gì và biện chứng luận duy vật là gì ? Biện chứng trước hết là khái niệm siêu hình học, mang tính trừu tượng, tư biện hoàn toàn, không có gì chứng minh được cụ thể, ngoài ra chỉ là thứ trực giác mơ hồ nào đó về tồn tại luận tổng quát vậy thôi. Tức nguồn gốc vũ trụ do đâu mà có, nguồn gốc tồn tại do đâu mà ra, và từ đó mọi điều cũng được phát sinh ra tất cả. Điều này ngay từ thời cổ đại, về mặt triết học, cả Đông và Tây đều có nói đến. Cụ thể như nơi phương Đông, Kinh Dịch nói “Thái cực sinh lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh tứ tượng, Tứ tượng sinh bát quái, Bát quái biến thành muôn vật”. Hay Lão tử cũng nói “Đạo sinh nhất, Nhất sinh nhị, Nhị sinh tam, Tam sinh vạn vật”. Tức luôn phải có cái đầu tiên nguyên thỉ nào đó, cực đại nào đó, tuyệt đối nào đó, sau mới có thể sinh ra được mọi thứ. Cái đầu tiên chính là cái huyền nhiệm nhất, đó chính là cái lý Thái cực.


Biện chứng luận của Hegel hay siêu hình học của nhà triết học duy tâm Đức này thực chất cũng không ra ngoài một quan điểm như thế, nhưng cái nhìn chỉ có phần khác theo kiểu lô-gích thuần lý phương Tây thế thôi. Hegel cho cái đầu tiên đó là Tinh thần (nói theo tiếng Đức là Der Geist, còn tiếng Pháp là L’Esprit, tiếng Anh là the Spirit). Quan điểm triết học duy tâm cốt lõi của Hegel cho rằng khởi đầu Tinh thần tồn tại như một thực tại siêu việt, tức vô hạn, tuyệt đối, nhưng rỗng không. Trong trạng thái tự mâu thuẫn như thế, tức vừa vô hạng vừa sơ khởi như thế, Tinh thần phải bắt buộc vượt qua mình, vượt ra khỏi mình (Aufhebung), tự chối bỏ, phủ nhận mình liên tục (Negation der Negation), tạo ra thế giới khách quan, và cuối cùng từ đó nhận thức ra được tuyệt đối bản thân của chính mình (Absolutes Wissen, Absolut Knowledge, Connaissance absolue).
    

Mác cho quan điểm triết học duy tâm tuyệt đối như vậy của Hegel là hoàn toàn trừu tượng, không ăn nhập gì đến cuộc sống thực tế cả, nên Mác bèn phủ nhận nó, biến thành quan điểm duy vật thuần túy, cho thế giới khởi sự chỉ toàn là vật chất, chỉ có vật chất tuyệt đối còn ngoài ra không có gì cả. Thuyết Mác vừa duy vật tuyệt đối, tất nhiên cũng vô thần tuyệt đối chỉ là như thế. Nhưng Mác chỉ lấy lại quan điểm biện chứng của Hegel, cho là “hạt nhân duy lý” duy nhất, song hạ Tinh thần của Hegel xuống một cấp chỉ còn thuần túy là Vật chất (Materie, matter, matière). Tức vật chất sơ khởi ban đầu tự phủ nhận mình, vượt ra khỏi mình, và sự tự chối bỏ liên tục đó làm ra thế giới thực hữu mà không là gì khác. Ở đây phải nói ngay rằng so với Hegel thì Mác chỉ thật sự thiển cận, ngây thơ, lại tự cho rằng mình vượt qua Hegel và “lật ngược” Hegel lại, bởi Mác cho rằng Hegel chỉ đi bằng cái đầu, nên Mác phải khiến cho ông ta đi bằng đôi chân.

 

Học thuyết Mác bời vậy chỉ phỉnh dụ được những kẻ nông cạn, thiếu đầu óc lô-gích thật sự mà chỉ thiên về cảm tính, hoặc cả thiên về thị hiếu, tức chỉ nhìn mọi sự bằng cảm quan và chỉ bằng sở thích chủ quan. Bởi vì khi Mác chỉ vào vật chất thuần túy, tức nó hoàn toàn không có bất kỳ nội dung, thuộc tính, hay khả năng tiềm ẩn nào, bởi vì nó chỉ hoàn toàn bất khả hay trì lực đơn thuần thì lấy đâu để nó biến hóa ra cái khác. Quan điểm duy vật thuần túy thật sự chỉ là quan điểm ngây thơ, cảm tinh mà Mác đã mắc phải, cả Trần Đức Thảo ngu dốt, tưởng mình thông minh mà đáp cứt Mác cũng toàn nói thuần một luận điệu phi lô-gích, dốt nát, nông cạn như thế mà cũng được tay điếu đóm Cù Huy Hà Vũ tôn là “triết gia” duy nhất của Việt Nam từ trước đến nay thật là lố bịch và ngu xuẩn cả thảy.

 

Bởi vậy biện chứng luận chỉ có thể đi cùng với quan điểm duy tâm mà không thể nào đi với quan điểm duy vật, bởi kiểu đó là hoàn toàn phi lô-gích, dốt nát, phi triết học thật sự. Mọi cái gì tự nó có tiềm lực vô hạn hay có tiềm lực nào đó thì mới phát triển, tự triển khai ra được. Bào thai thì mới thành người, hạt cây mới có thể trở thành cây, bào thai đã chết, hay sạn trong bàng quan, hay hạt đã nấu chín thì không thể phát triển ra được thành cái gì cả. Thành nên quan điểm về Thái Cực nới Kinh Dịch hay quan điểm về cái Đạo đầu tiên của Lão tử là hoàn toàn đúng. Tuy không nói theo kiểu phủ định của phủ định, như Hegel đem thuần lý hóa theo cách lô-gích phương Tây, nhưng nội dung của Hegel và của phương Đông vẫn chỉ là một. Tức tin vào bản thể siêu viết lúc ban đầu của vũ trụ mà không tin theo kiểu cá nhân hóa (personification) hữu hình như một vị Thượng đế ban đầu sáng tạo nào.

 

Một tảng đá dù triệu năm nó vẫn chỉ đá là đá, chỉ có thể phong hóa và tan rã thành bụi đất mà không bao giờ có thể biến được thành cây. Chỉ hạt mầm mới có thể biến được thành cây. Vật chất hữu hình khác hoàn toàn với sự sống (life) có bản chất trừu tượng, vô hình là như thế. Ngày nay ngành sinh học (biology), cả sinh học phân tử (molecular biology) cũng chưa thể giải thích được tuyệt đối sự sống trên trái đất đã được hình thành cụ thể như thế nào, từ đâu mà có. Mọi giả thiết đều mới chỉ là phỏng đoán, sự tiếp cận giữa vật lý lượng tử (quantum physics) và sự sống đầu tiên, dầu cứ cho đó là vật chất sống khởi thủy (material primitive life) dưới dạng phân tử ADN sơ đẳng nhất thì cũng chưa có gì chứng minh tuyệt đối cụ thể hay hoàn hảo nhất. Đây thực chất vẫn còn luôn hoài là vấn đề triết học, không thể nào chỉ là ý nghĩa vật lý hay hóa học thuần túy được.   

 

  Cái nhìn toàn vũ trụ là cái nhìn bao quát từ Big Bang, đến các Thiên hà vô hạn, đến Ngân hà, đến hệ mặt trời, đến các điện tử electron, đến photon trong hoạt động diệp lục hóa nơi lá cây của sự sống, rồi đến thần kinh óc não, đến ý thức và nhận thức nơi đầu óc con người đều thật sự là một đại dương bao la, không thể khu biệt vào doạn nào cụ thể, hời hợt, đặc thù cả. Thuyết duy tâm dầu sao vẫn còn có lý nhiều điều hơn thuyết duy vật là thế. Về nguyên tắc lô-gích, chỉ mọi cái lớn hơn mới có thể phân tích ra mọi cái nhỏ hơn nhưng không bao giờ ngược lại điều đó. Mọi sự phân tích đều luôn vô hạn, và mọi sự tổng hợp đều luôn vô hạn, nhưng chỉ cái tổng thể mới chứa đựng được cái đặc thù và nguyên lý này là hoàn toàn bất biến, không khi nào có thể loại bỏ hoặc thay thế nếu không đưa đến mọi sự phi lý và vô nghĩa.

 

 Vậy mà Mác dùng quan điểm duy vật thuần túy để kết hợp vào quy luật biện chứng có nội dung và ý nghĩa riêng của nói là hoàn toàn ngược ngạo và phi lý. Điều này quả chẳng khác đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, kiểu sự vật đầu Ngô mình Sở, quả chẳng đâu vào đâu cả. Ví dụ nguyên lý bản chất của lừa là hoàn trái trái ngược hay khác hẳn với nguyên lý bản chất của nước. Đem hai thực tại này trộn lẫn hay kết hợp với nhau là điều hoàn toàn nghịch lý và không bao giờ có thể làm được. Nguyên lý vô hình và nguyên lý hữu hình cũng hoàn toàn khác, không bao giờ chống lấn được hai cái lại với nhau bởi vì bản chất chúng hoàn toàn khác nhau. Vật chất chỉ là bản chất tồn tại tuyệt đối tối giản, thô sơ, trong khi biện chứng phải đi theo với nội dung và mục đích tiềm ẩn nhất định. Vậy không thể đem hai cái khác hẳn hay trái ngược bản chất nhằm hòa trộn lại với nhau như Mác từng làm là hoàn toàn phi lý, ngờ nghệch và ngớ ngẩn. Nên khi thuyết Duy vật biện chứng của Mác hoàn toàn không có cơ sở khách quan hay hoàn toàn sai, thì dẫn đến quan điểm duy vật lịch sử của ông ta cũng hoàn toàn như vậy, bởi trong đó vẫn nguyên lý biện chứng là nguyên lý cốt lõi, mà nếu nguyên lý này lại bị triệt tiêu hay vô hiệu hóa thì liệu mọi cái phát sinh hay còn lại có ý nghĩa là gì, đó là điều mà mọi người có đầu óc bình thường đều không thể bị khuất phục được.

 

Nhưng từ lý luận nguyên tắc biện chứng lịch sử Mác đưa đến quan niệm giai cấp đấu tranh, đến các hình thái xã hội, đến nguyên tắc độc tài vô sản, đến thời kỳ quá độ, sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân vô sản, đến xã hội cộng sản không còn giai cấp v.v… và v.v… tự chúng đều trở thành tư biện liền một dãy, tạo thành một hệ thống ngụy biện đây chuyền nhau, chỉ đều mang tính tưởng tượng hay ức đoán mà chẳng có chút thực chất khoa học hoặc khách quan cụ thể nào cả. Tất cả hệ thống quan niệm của Mác đưa ra nói chung đều kiểu toán học trừu tượng đem xâu chuỗi vào nhau, mà chỉ cần tiền đề đặt sai thì mọi khâu lý luận trung gian và cả khâu kết luận cũng phải đều hỏng dây chuyền cùng nhau cả. Bởi nếu tiền đề chỉ là vật chất thuần túy, thì còn có cơ sở nào để xây dựng xã hội con người hoàn toàn hay tuyệt đối lý tường. Bởi làm thế nào lấy bùn đất để xây dựng nên lâu đài kim cương, đó là điều hoàn toàn ngịch lý hay phi lý, chỉ phỉnh được những đầu óc nông cạn, kém suy lý, mà chính Mác cũng không hề ngờ tới.    

 

 Như vậy cũng có nghĩa quan điểm về lịch sử xã hội của Mác là quan điểm hoàn toàn phi lý, huyền hoặc và mê tín, bởi chỉ tin bừa vào ý nghĩa của quy luật biện chứng là khách quan mà không gì khác. Trong khi đó ý nghĩa của biện chứng luôn bao gồm ý nghĩa của sự mâu thuẫn và sự vượt lên hay vượt qua. Mâu thuẫn là ý niệm mấu chốt nhất, bởi thiếu ý nghĩa này cũng không thể nói cái gì là biện chứng được. Nhưng tính mâu thuẫn hoàn toàn khác hẳn với sự dị biệt, sự trái ngược, hay sự khác nhau. Như đàn bà, đàn ông chẳng hạn, đó là hai tính phái hoàn toàn khác nhau, nhưng chẳng có gì là mâu thuẫn nhau cả. Các chiều trong không gian đối nhau như nam bắc, đông tây cũng vậy, đó chỉ những chiều, những phương trái ngược, nhưng chưa chắc đã là mâu thuẫn. Hai cực nam bắc của địa cầu, hai cực bắc nam của thanh nam châm cũng vậy, chúng trái ngược nhau nhưng chưa hẳn đã mâu thuẫn nhau.

 

Nên mâu thuẫn ngoài sự trái ngược nhau, còn phải là sự cùng kết gắn nhau trong một thực thể nào đó. Chẳng hạn một người vừa muốn đi theo hướng A lại vừa muốn đi theo hướng B hoàn toàn đối ngược nhau, đó chính là sự mâu thuẫn. Hay kẻ vừa muốn phủ nhận một điều, vừa muốn xác nhận cùng điều đó, vậy là mâu thuẫn. Một kẻ vừa yêu vừa ghét một đối tượng nào đó, chính là sự mâu thuẫn. Tức mâu thuẫn là sự vận động trái ngược nhau đang xảy ra tại một đối tượng sự vật hay chính nơi một chủ thể. Đây chính là sự giằng xé tội tâm hay sự phân rẽ ngược nhau nơi cùng một sự vật cụ thể nhất định nào đó. Tức luôn có sự tranh chấp, phân tranh nhau giữa hai lực bên trong hoặc bên ngoài tác động lên cùng bản thân một sự vật cụ thể. Sự mâu thuẫn tự phát trong lòng một sự vật theo Hegel chính là tác nhân của sự biện chứng, nó làm sự vật phải thay đổi, chuyển động theo một hướng nào đó, mà thường phải là sự thay đổi tiến tới.

 

Như hạt cây khi gặp điều kiện nầy mầm phải chịu một sự mâu thuẫn ngay trong chính nó. Vừa muốn tự giữ lại như kiểu hạt cây như cũ, vừa muốn tự chối bỏ tình trạng cũ để chuyển sang tình trạng mới hơn, đó là cái mầm cây, và luôn tiếp tục như vậy. Có nghĩa biện chứng chính là tình trạng tự chối bỏ để phát triển đi lên mãi mãi không ngừng cho tới khi đạt đến mục tiêu cần thiết của mình nào đó. Đây là khái niệm không phải hoàn toàn cụ thể, dễ hiểu, hoặc xác thực. Biện chứng không phải sự tự chối bỏ, phủ nhận chung chung, vô lối, mà luôn phải có mục đích và chiều hướng xác đáng. Tức một thực thể tinh thần nào đó, một thực thể sự sống nào đó tự biện chứng để vượt lên chính minh, tự thoát ra khỏi mình nhằm đạt đến mức độ cao hơn, điều đó còn có lý, còn hiểu vật chất thuần túy nói chung mà tự biện chứng là điều hoàn toàn vô nghĩa cũng như ngờ nghệch.

 

Cho nên khi Mác lấy nguyên lý biện chứng duy tâm của Hegel bỏ vào thực chất duy vật của mình thật sự là làm điều phi lý, không tưởng, bởi vì nó trái bản chất và nghịch lý ngay từ đầu, chỉ mang kiểu gàn bướng, chẳng có gì thích đáng, phù hợp, hay chẳng mang lại điều gì kết quả cả. Kiểu không ai có thể đem một động cơ xe máy bỏ vào xe nôi của trẻ con, hay đem bộ trục của máy dệt sợi bằng gỗ để làm động cơ máy dệt sợi chạy bằng hơi nước hay thay cho động cơ bằng điện được, tại vì bản chất cũng như nguyên lý và cơ chế hoạt động của chúng là hoàn toàn khác nhau, hoàn toàn trái ngược nhau. Cái ngờ nghệch của Mác ở đây không phải nhằm cố ý bịa đặt, xuyên tạc, mà thực tế nó hoàn toàn khách quan như vậy.

 

Chính bởi vậy mà từ nguyên lý áp dụng sai, Mác giải thích về lịch sử xã hội con người cũng sai. Trong Tuyên ngôn cộng sản Mác phát biểu ngay vào đầu lịch sử loài người từ trước đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp, chẳng qua vì cắn cứ hay tín chắc vào nguyên lý biện chứng bị áp dụng một cách sai trái như vậy. Từ đó Mác cũng suy rộng ra các hình thái xã hội kế tiếp nhau, chuyên chính vô sản, thời kỳ quá độ, sự nghiệp sứ mạng lịch sử giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của giai cấp công nhân vô sản cũng hoàn toàn như thế. Tức Mác hoàn toàn tin tưởng vào cơ chế hoàn toàn tự động có tính cách thuần túy cơ giới, nhưng đầy tính huyền hoặc, mê tín về lịch sử xã hội dựa trên ý niệm biện chứng đầy sự huyễn mơ, huyền thoại kiểu vậy hoàn toàn không khác. Thế nhưng điều tin chắc đó Mác lại tự cho là “khoa học” bởi vì Mác tin chắc vào nguyên lý biện chứng đó là nguyên lý khách quan, nhất thiết không có cách nào làm thay đổi khác đi được. Chính đây thực chất là sự mù quáng đầy tính phi khoa học của Mác và cái ngố của Trần Đức Thảo suốt cả thời gian dài trong cuộc đời mình cũng chỉ biết tin tưởng theo Mác như thế.

 

Bởi vậy Mác cho do sự mâu thuẫn kinh tế xã hội giữa giai cấp công nhân vô sản và giai cấp tư bản giàu có lúc ban đầu, đến một lúc nào tính mâu thuẫn này sẽ bị vượt qua, giai cấp công nhân vô sản trên toàn thế giới sẽ tiêu diệt giai cấp tư bản phản động, làm giai cấp tư bản phải bị triệt tiêu hay bị tự chôn, mở ra duy nhất thời kỳ quá độ của độc tài vô sản, công nhân sẽ làm chủ toàn bộ công cụ sản xuất, tương quan sản xuất dần dần chỉ có một, là giai cấp công nhân duy nhất, sẽ bải bỏ mọi quyền tư hữu, bãi bỏ thị trường, bải bỏ tiền tệ, không còn bóc lột nữa, loài người khi đó hoàn toàn tự giác, từ làm theo năng lực hưởng theo thành quả trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội sẽ tiến lên làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, vì lúc đó hàng hóa tuôn ra như nước trong giai đoạn xã hội cộng sản bậc cao, sẽ giải phóng con người, giải phóng xã hội mặt, sáng vào xưởng thợ, chiều về đi giải trí, câu cá thỏa thuê. Đúng là một bức tranh đầy hấp dẫn mà lớp những người cộng sản ban đầu mọi nơi trên khắp thế giới đều mê say như điếu đổ. Câu khẩu hiệu của Mác giai cấp vô sản khắp nơi hay đoàn kết lại từng là tiêu chí đã nổi đình nổi đám một thời mọi nơi từng là như thế.

 

Song song đó, Mác cho tư hữu là đầu mối của sự bốc lột, đầu mối làm phát sinh ra giai cấp xã hội trong lịch sử, nên tiêu chí của Mác là phải hủy bỏ quyền tư hữu, mà trước tiên là tư hữu tư liệu sản xuất, để công nhân cùng vào làm tập thể trong nhà máy,phân công lao động theo chương trình, kế hoạch được quy định giữa nhau, sản phẩm làm ra đều được chia đều trực tiếp, bãi bỏ thị trường, bãi bỏ tiền tệ, đó chính là mục tiêu xã hội lý tưởng và công bằng nhất mà Mác theo đuổi. Có điều Mác quên rằng bản thân con người phần lớn chỉ lười biếng, chỉ ưa nhàn nhã, nếu không có nguồn kích thích hay bó buộc nào khác cũng ít khi chịu lao động. Đó là chưa nói bản năng tham lam, ích kỷ, kèn cựa lẫn nhau vẫn đều thường có, thành ra điều Mác tưởng mình thực tế thực chất lại phi thực tế, điều mình tưởng là lý tưởng lại thực thực chất phi lý tường, bởi vì khi mọi kết quả đầu ra đều trở thành bế tắt, phá sản, thì xã hội cũng sẽ trở thành phá sản mọi mặt, mà thời kỳ bao cấp dài xảy ra ở nhiều nước khác nhau bất kỳ ai cũng biết.

 

Đúng ra, hoàn cảnh nghèo đói khốn khổ của giai cấp công nhân vô sản Anh thời kỳ đầu của xã hội tư bản đang lên xảy ra vì đâu thì ai cũng biết. Xã hội châu Âu lúc đó là xã nội nông nghiệp, quân chủ phong kiến, khi chuyển qua nền khoa học kỹ thuật còn đang phôi thai đi lên, chủ yếu là nghề dệt sợi và giao thương hàng hóa đến các nơi, sự tập trung giàu có vốn liếng tư bản vào một thiểu số ban đầu chỉ là điều tự nhiên, tất yếu. Mọi sự huy động công nhân nông nghiệp từ nông thôn ra thành thị để sung vào đội quân công nghiệp lúc đó còn thật sự khó khăn và trở ngại đủ thứ, và trong giai đoạn tích lũy tư bản để phát triển đó, hoàn cảnh người công nhân bị nghèo đói khó khăn chỉ là điều tất yếu khách quan, buộc phải chờ hoàn cảnh về sau cần được cải thiện. Các biện pháp dần dần cần được cải thiện có thể bằng chính sách thuế khóa, chính sách xã hội, dư luận báo chí, sự phát triển kinh tế xã hội khi lịch sử mở mang, phát triển dần. Đằng này Mác chỉ nhìn duy mặt tiêu cực của xã hội mà không thấy mọi chiều hướng lịch sử khác nhau đang đi lên khách quan của nó. Thay vì dùng những biện pháp nhẹ nhàng, đơn giản, đầu chỉ tương đối nhưng có thể hiệu quả lúc ban đầu, Mác chỉ thích dùng bạo lực kiểu lật đổ, kiểu đao to búa lớn, dùng dấu tranh giai cấp kiểu mù quáng, sắt máu để thay vào tất cả. Đó chính là cốt lõi nội dung của Mác Mác về phương diện chính trị xã hội mà ai cũng đều đã thấy.

 

Một ví dụ hiển nhiên là Công xã Paris trước đó đã từng thất bại. Bởi khi giới công nhân chiếm hữu nhà máy, thật ra họ không biết phải làm gì cả, vì trình độ quản lý chuyên môn kém, cha chung không ai khóc, sản xuất trở nên lộn xộn, phản hiệu quả, phản tác dụng, đó là điều hoàn toàn thực tế. Cuối cùng Công xã kiểu đó đã hoàn toàn thất bại và tan rã, đó chỉ là chuyện khách quan. Mác cũng đã từng thây mội quan điểm cộng sản không tưởng trước kia từng đem thực hiện ở Pháp, ở Anh, và cả ở Mỹ đều cũng chịu chung số phận như vậy, và cuối cùng mọi sáng kiến cục bộ đó đều phải bị hủy bỏ, cả Mác cũng phải công nhận đó đều là chủ nghĩa cộng sản kiểu không tương (Utopical Communism), nên lần này Mác rút kinh nghiệm, định nâng lên một tầm cao hơn, tích cực hơn mà Mác gọi là cộng sản khoa học, tức dựa vào niềm tin nguyên lý biện chứng làm thành cốt lõi, nhất là đấu tranh giai cấp dùng như nguyên tắc thực tế, kể cả chuyên chính vô sản dùng như biện pháp bao quát nhất để nhằm tránh mọi vết xe đổ cũ trước đó. Đấy nguyên lý biện chứng trở thành cốt lõi của học thuyết Mác là như thế, và biện pháp chuyên chính vô sản Mác chủ trương về sau cũng không ra ngoài chính niềm tin trên cơ sở đó.

 

 Có điều Mác cũng lại tiếp tục quên đi nguyên tắc con người và nguyên tắc lịch sử xã hội. Bởi về mặt khách quan, xã hội không hề giống một mảng màu, hay mối khối vật chất liền lạc nào đó. Xã hội thực tế là tập hợp của mọi cá nhân trong một không gian nhất định. Đơn vị xã hội là mỗi chủ thể cá nhân, không chỉ là mặt thân xác mà chủ yếu chính là mặt ý thức, nhận thức tinh thần. Mỗi cá nhân lại có vòng đời cụ thể của mình, khó ai vượt quá cả trăm năm thông thường cả. Nhưng luôn từng thế hệ kế tiếp nhau thay đổi cho nhau, tất cả lại bắt đầu lại kiểu từ đầu. Do đó mọi cá nhân chỉ có thể liên thông nhau theo cách nào đó nhưng không hề là sự liên lỉ trực tiếp trong không gian sống liền lạc nào cả. Thế nên cho lịch sử xã hội biện chứng nhau theo kiểu đối lập giai cấp như Mác quan niệm là điều hoàn toàn không thực tế và cũng không hề thực chất. Như sự đối lập giữa hai cực địa cầu hoặc sự đối lập giữa hai cực nam châm có bao giờ “biện chứng” để mang lại cái gì mới cả đâu, mà ngàn đời chúng vẫn cứ nguyên luôn như vậy.

 

Thế nên “giai cấp” thật ra chỉ là khái niệm mơ hồ, đúng ra nó chỉ là khái niệm được trừu tượng hóa, được tổng quát hóa, được phạm trù hóa theo từng “lớp” hay tập hợp người cụ thể nào đó theo những tính chất khái quát nào đó mà không bao giờ là những thực thể hay con người cụ thể. Nói theo toán học, đó chỉ là những tập mờ không hơn không kém. Thành ra khái niệm giai cấp xã hội của Mác chỉ là quan điểm độc đoán, tùy tiện, nhằm để làm nền cho thuyết đấu tranh giai cấp theo kiểu tưởng tượng mà không gì khác.  Nói khác đi, giai cấp xã hội chỉ là cấu trúc xã hội tạm thời nào đó qua các thời điểm, bởi không vật nào trong thế gian lại phi cấu trúc, ngay như nguyên tử, tế bào, vật dụng, cây cối, hay đén cả hề mặt trời, ngân hà, thiên hà v.v… đều luôn phải vậy. Quan niệm một xã hội hoàn toàn không còn giai cấp thật sự chỉ là quan điểm mê sảng, hoàn toàn phi thực tế. Con người kiểu Mác nhìn vào như con người vô sản thực chất chỉ là hình tượng trừu tượng của con người mà hoàn toàn không có thực chất. Mác quên quyền sở hữu tài sản, vật dụng chính là điều kiện đầu tiên để con người tồn tại như một thực thể hoàn toàn thực tế. Đó chỉ là điều kiện cần dù không bao giờ là điều kiện đủ để cho người thành người.

 

Bởi xã hội luôn là tổ hợp con người luôn thường xuyên biến đổi, nên cơ chế xã hội luôn luôn là điều thiết yếu nhất. Cá nhân luôn là thực thể vận động trong không gian môi trường sống chẳng khác gì những nguyên tử tự do trong không gian thời gian thực. Nguyên lý kết hợp tự do thành các nguyên tử, thành các tổ hợp nguyên tử, thành các thực thể tế bào xã hội khác nhau là sự vận động khách quan, hiệu quả, không thể nào thiếu hay không thể nào cản ngăn hay chấm dứt. Chính cơ chế vận động tạo nên mọi hiệu quả cao nhất, tiết kiệm nhất, hay kinh tế nhất trong môi trường xã hội mà không gì khác. Mác muốn mọi người kết hợp sản xuất theo kiểu tập thể, tự nguyện phân công lao động giữa nhau là điều phản thực tế, phản hiệu quả, vì nó hoàn toàn trái với quy luật tự do khách quan và tự nhiên của toàn xã hội. Kiểu ngày xưa con người còn lạc hậu phải ngồi tính toán bằng thủ công, bằng tay. Đến sau có bàn toán, rồi ngày nay có máy tính, cục diện đã hoàn toàn đổi khác. Ngày xưa triệu phép tính nhiều người phải làm trong hàng tháng, ngày nay tỉ phép tính máy chỉ thực hiện trong chỉ một giây. Đó là nhờ gì, nhờ vào quy chế vận hành khách quan của máy móc, và cơ chế tự động nhiều mặt của xã hội cũng hoàn toàn như vậy. Điều đó cho thấy tính lạc hậu ngày xưa trong tư duy khoa học của Mác.

 

Vả chăng Mác còn mê muội vào giai cấp vô sản. Bởi thực tế vào thời Mác, đây cũng chỉ mới là số lượng ít ỏi so với số lượng chung của toàn xã hội. Vả lại là thành phần rất ít chọn lọc, rất ít tinh hoa, trí tuệ khi đó, bởi điều kiện sống của họ khi đó còn rất nhiều hạn chế, bất lợi mọi mặt. Thay vì hỗ trợ, giúp đỡ, trang bị thêm lên cho họ mọi mặt, đàng này Mác hóa chỉ thành anh mê tín, thần thánh hóa họ, coi họ như tiên phong, như đầu tàu của lịch sử, như là sứ mệnh lịch sử, thật là tăm tối và mê tín tột cùng, nhưng vì đi kèm theo câu thần chú chuyên chính vô sản nên chẳng ai dám nói. Thành ra Mác chẳng khác gì khuyến khích những sự tiêu cực của xã hội, đưa thành phần không phải tinh hoa làm phá hỏng mọi thành phần có thể tinh hoa khác. Như vậy rõ ràng thuyết Mác là thuyết phản khoa học, phản con người, phản xã hội, phản lịch sử, mà lại tự xưng là thuyết giải phóng loài người, giải phóng lịch sử, trong khi thực chất Mác chỉ làm ngược lại. Có khác nào thuyết Mác trong ngôn ngữ là học thuyết cách mạng xã hội, nhưng trong thực tế lại trở thành học thuyết phản động, học thuyết tiêu cực, phản xã hội, phản con người, phản lịch sử thì đúng hơn.

 

Bởi bắt kỳ học thuyết khoa học nào, con người khoa học nào cũng phải cần nhìn vào sản phẩm làm ra, nhìn vào kết quả làm ra, không phải chỉ nhìn vào ngôn ngữ hay lý luận nếu điều đó hoàn toàn không thực tế mà thực chất còn thành ngược lại. Bởi khoa học thực chất không bao giờ là lý thuyết suông mà đều phải cần kiểm nghiệm trong thực tế. Ngay các thuốc chủng ngừa cũng phải cần như vậy. Mọi sản phẩm nào nếu làm hại con người đều không phải là sản phẩm tốt, nên phải cần kiểm chứng nghiêm ngặt là yêu cầu thiết yếu phải hoàn toàn như thế. Ngay từ khi ra đời đến nay, suốt trong bao nhiêu năm đầu phải cất kín trong hộc tủ để mối mọt ăn, chính Mác đã phải thú nhận như vậy, bởi chẳng có ai mang ra áp dụng cả, mãi đến khi Lênin là người đầu tiên mang ra ứng dụng tại nước Nga là nước nông nghiệp lạc hậu so với Tây Âu khi ấy. Nhưng sau bảy mươi năm vật lộn vô cùng chật vật, cuối cùng Liên Xô cũ đã phải sụp đổ và tan ra, kéo theo sự tan biến của cả mảng Đông Âu, điều đó cho thấy thực chất hiệu quả của thuyết Mác là như thế nào. Chỉ bởi vì nó trái ngược lại mọi nguyên lý khách quan trong cuộc sống loài người vậy thôi.

 

Thật ra không phải con người muốn gì đều tự ý làm được bất chấp mọi quy luật khách quan tự nhiên của thiên nhiên cũng như lẫn của xã hội. Ví dụ nguyên lý tồn tại phái giống, nam nữ là nguyên tắc khách quan tự nhiên, không bao giờ có thể thay thế khác đi được. Hay nguyên lý trọng lực trái đất cũng là điều như vậy. Con người muốn vào không gian phải sáng chế ra kỹ thuật, phải vận dụng kỹ thuật, không thể tự luyện tập để mọc cánh mà bay như mọi loại chim muông. Tức có những cơ chế nguyên lý vật lý, nguyên lý hóa học, nguyên lý sinh học, nguyên lý trí tuệ, nguyên lý tương quan xã hội, nguyên lý lịch sử phát triển đi lên theo cách tuyến tính, là điều mà con người chỉ có thể thích nghi nhưng không bao giờ làm cho tuyệt đối thay đổi khác đi được. Ngay cả nguyên lý đạo đức truyền thống cũng vậy, đó là sự tích lũy cả ngàn năm do cả lịch sử loài người mang lại, trong đó có tôn giáo, có thẩm mỹ nghệ thuật, có ngôn ngữ là điều không bao giờ có thể mất đi hay tuyệt đối làm cho thay đổi. Vậy mà Mác quy tất cả mọi điều nào không phải kiểu “vô sản” như Mác muốn đều mệnh danh là “tư sản” để yêu cầu phải triệt tiêu hay hủy bỏ. Đó thật là quan niệm hết sức cực đoan và hoàn toàn phi lý mà chính Mác đã từng đưa ra và được cả khối người từng đem áp dụng. Cái tai hại hơn cả khái niệm chuyên chính vô sản, thực chất nó cũng đều chẳng dẫn lịch sử tới đâu cả, nếu không nói nó chỉ làm cho con người và xã hội trở nên vong thân, tức đánh mất bản thân mình một cách toàn diện, bởi do nỗi sợ hãi chiếm ngự tất cả, để chì còn duy khuynh hướng xu nịnh, suy thoái nhân cách một cách hèn kém nhất, mà ai cũng thấy, điều đó càng khiến cho Mác trở nên tội lỗi đối với một bộ phận nhân loại xưa nay, là điều không ai có thể nào phủ nhận được. 

 

Thành ra chính cái cốt lõi trong học thuyết Mác đã chi phối toàn bộ học thuyết Mác, và gây ra tất cả mọi điều về sau đó nữa. Cái cốt lõi đó, như từng nói ngay ban đầu, là lý thuyết “biện chứng” mà Mác đã lấy ra từ Hegel, và nó đã trở thành nguyên nhân của tất cả. Nhưng nếu ở Hegel nó đã mơ hồ, huyền hoặc, thì được chuyển qua Mác nó còn kỳ dị, trái khoáy và càng phi lý hơn. Thật ra cả chính trong bản thân học thuyết Hegel, ông ta cũng rất ít khi sử dụng từ ngữ biện chứng một cách công khai hay minh thị, thường xuyên nào cả. Chỉ về sau nhiều người muốn giản lược cho dễ hiểu suy biến nó ra thành định để tam tố là tiền để, phản đề, hợp đề. Thực chất đây cũng chỉ là nói bá vơ, bởi vì không thể định ranh bất kỳ cái nào trong ba cái lấy đâu làm giới hạn cụ thể cả. Nguyên nguyên lý phủ định của phủ định thì ai nói chẳng được và vật nào, lúc nào áp dụng mà chẳng được. Khi cái trứng gà được ấp nở ra và lớn lên từ gà con đến gà mẹ, đó quả là chuỗi phủ định nhau liên tục khác gì. Nhưng cũng cái trứng gà đó, nếu đập vỡ đi để chiên ăn, hay luộc đi để chấm muối tiêu, cũng có khác gì chuối phủ định liên tục những lại hoàn toàn ngược chiều đâu khác. Điều đó có khác nào nguyên lý ấy nó đã vốn ít nhiều vớ vẩn nơi Hegel, và khi Mác đem áp dụng cho học thuyết mình lại càng thêm tùy tiện, rỗng tuếch và hoàn toàn phi lý. Thế nên nói cho cùng, thuyết Mác từ trước đến nay hoặc nhiều người ngây thơ tin tưởng nó để hóa thành nạn nhân tự phát của nó, hoặc có người nhằm lợi dụng nó cho mọi tham vọng ích kỷ riêng tư của cá nhân mình khiến cho nó cũng chẳng ích lợi gì cho xã hội cả. Đó chắc hẳn cùng là điều mà cuối đời chính Mác đã từng thú nhận “Tôi chẳng phải là người mác xít” (“Je ne suis pas marxist !”), thật chẳng khác nào một điều hoàn toàn hài hước cả suốt hơn thế kỷ trong lịch sử nhân loại cho tới nay.

 

By VÕ HƯNG THANH

            (21/9/21)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét