Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021

 NÓI VỀ SỰ NGHÈO NÀN 

TRONG TƯ DUY TRIẾT HỌC 

CỦA “TRIẾT GIA” TRẦN ĐỨC THẢO

 

Kể từ khi ông Trần Đức Thảo đậu được xong văn bằng Thạc sĩ triết học khi ấy ở Pháp, nhất là sau khi ông ta đã tranh luận suốt cả một tuần với triết gia Pháp nổi tiếng Jean Paul Sartre về một số vấn đề triết học duy vật Các Mác và hiện tượng luận Husserl nào đó, chẳng biết hai bên thắng thua thế nào, nhưng từ đó ông Thảo đã nổi tiếng như một nhà triết học lớn mới xuất hiện ở Âu châu, và về sau đã có tư thế như một triết gia số một đầu tiên và duy nhất quá đáng gờm của Việt Nam chúng ta. Nhưng thực chất sự thật tư tưởng triết học của Trần Đức Thảo là gì cũng rất phải cần nói đến, và hôm nay chính là điều nhất thiết phải nên nói tới.

Thật vậy, không biết ông Thảo có vào đảng cộng sản Pháp hoặc Việt Nam hay không, như chắc chắn ông Thảo là người có tư tưởng cộng sản rất đậm nét, hay nói đúng hơn ông ta là người có tư tưởng mác xít rất thuần thành và rất dứt khoát. Nói khác đi ông ta là người có quan điểm duy vật thuần túy, kiểu duy vật luôn luôn trung thành theo tư tưởng Mác, Ănghen, Lênin mà không gì khác. Có nghĩa từ trước đến sau ông Thảo không hề có chút tư tưởng nào riêng của mình, trái lại ông có vẻ chỉ như một người sứ giả, một cái loa chuyên minh họa, lý giải tư tưởng duy vật mác xít qua mọi vấn để triết học, kể cả vấn đề triết học hiện tượng luận Husserl theo cách duy tâm mà mỗi khi ông có dịp chạm đến. Các nội dung trình bày sau đây là căn cứ vào bài viết đã có của ông Trần Đức Thảo được đăng trên tờ Tạp chí triết học Tư Tưởng (La Pensée, số 119, tháng hai 1965) và tờ Phê Bình mới (La Nouvelle Critique, số 86, 1975) ở Pháp mà ai cũng có thể tìm đọc được.

Tuy nhiên trước khi đi sâu vào phân tích nội dung bài viết của ông Thảo, thiết tưởng phải nên giúp cho cho người đọc một số các khái niệm triết học chung nhất hay nền tảng nhất như sau. Đó là sự khác nhau thế nào giữa quan điểm duy tâm và duy vật cũng như sự nhận thức hay đánh giá chân lý của con người ra sao, là những điều không thể không bàn tới trước nhất. Bởi khi đã rõ tất cả những điều này, sự đánh giá về tư tưởng triết học của Trần Đức Thảo cũng như của phái triết học duy vật nói chung và tư tưởng duy vật biện chứng của Mác, Ănghen, Lenin không mấy gì khó, và cả tư tưởng triết học của triết gia Trần Đức Thảo nói riêng cũng hoàn toàn như vậy.

Nào cứ nhìn mọi sự vật đang có mặt chung quanh ta, từ mọi vật dụng trong cuộc sống, ngay đến thân xác cụ thể mỗi người, cả thế giới thiên nhiên hay vũ trụ bao quanh, chúng đều là mọi vật cụ thể cả, hay nhìn chung chúng đều cấu tạo nên bởi mọi vật chất bề ngoài, mà trong khoa học phân ra vật chất vô cơ và vật chất hữu cơ mà không gì khác. Nói khác đi vật chất là mọi cái gì cụ thể, khách quan chung quanh ta, nó bao gồm tính vật thể cụ thể, có thể tiếp xúc, khám phá được bằng giác quan, kể cả bằng mọi dụng cụ khoa học để có thể cân đo đong đếm được mọi mặt chẳng có gì trừu tượng hay bí mật cả.

Thế nhưng đó chỉ là kiểu mọi quan niệm duy vật tầm thường. Bởi vì còn những vật thể trừu tượng như sự sống, ý thức, sự nhận thức, tinh thần, ngôn ngữ, ý tưởng v.v… chúng đều không phải những dạng thể vật chất nào cả, bởi chúng tuyệt đối trừu tượng, không thể nào cân đo đong đếm mọi dạng theo cách vật chất, đó là điều không thể nào chối cãi được. Nhưng lại còn một dạng ý nghĩa cao hơn, bản tính quan trọng hơn, giá trị chủ động hơn, đó là ý nghĩa của tính chủ thể hay là chủ thể tính (Subjektivität, subjectivity, subjectivité) mới thực sự là điều quan trọng nhất. Bởi chính đây mới là yếu tố thống nhất vừa cũng là đầu mối của mọi thuộc tính về ý thức, tinh thần như vừa thấy ở trên. Thật vậy nếu thiếu đi bản chất chủ thể (Subjekt, Subject, sujet) này cũng không lấy chi làm chủ được cho mọi trạng thái hay suy nghĩ trong tinh thần, trong đầu óc mỗi người, thành đó mới chính là điều cần nói nhất.

Vậy nếu những thuộc tính của chủ thể đã không còn là vật chất nữa, đã vượt ra ngoài mọi thể dạng của vật chất, thì chủ thể tính của nó, cái tinh thần (Geist, spirit, esprit) hay nói chung là cái ego, tâm thức chủ thể, mới chính là động lực chủ thể mà không hề là thân xác vật chất của con người. Thân xác chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ, cũng giống như mọi yếu tố vật chất chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện dủ cho thân xác, bởi thân xác là cơ thể sống mà không phải chỉ là một tổ hợp đơn thuần của mọi vật chất cấu thành nên nó. Quá trình ba bước đó nếu chỉ quy vào có một thì đó là điều nông cạn, phi lý, kể cả mâu thuẫn, nghịch lý, là điều không thể nào chỉ đơn giản chấp nhận được.

Có nghĩa thuyết duy tâm thuần túy, phủ nhận mọi trạng thái vật chất bên ngoài coi như không thật, chỉ công nhận duy nhất tồn tại tinh thần phi vật chất bên trong ý thức con người, đó cũng là điều phi lý và không thực tế. Nhưng ngược lại quan điểm duy vật thuần túy chỉ coi vật chất là tồn tại duy nhất có thật, còn tinh thần, ý thức chỉ đều là sản phẩm vật chất phản chiếu vào trong óc não con người ngoài ra không gì khác cũng chỉ là quan niệm thiển cận, thấp kém, tầm thường mà không có gì khác hơn như thế. Đó chính là quan điểm duy vật của Mác, Engels và Leenin cùng nhiều nhà duy vật tương ứng khác trong đó có cả Trần Đức Thảo.

Bởi vậy suốt trong tác phẩm hay các bài viết của mình, ông Thảo không hề bao giờ ra khỏi chính quan điểm đó. Nói chung ông ta chỉ là một nhà mác xít thuần túy đúng nghĩa mà không phải như một nhà triết học độc lập, một triết gia thực sự có quan điểm tư duy riêng của mình, độc lập, không lẫn lộn hay đồng hóa chung vào người khác. Ông Thảo đúng ra luôn luôn chỉ là người trung thành, lặp lại y chang các quan điểm đã có trong thuyết Mác, ông không đi trật ra thảy một phân một ly nào cả. Đúng ra ông chỉ là người truyền tải, một kẻ khuân vác thuyết duy vật biện chứng của Mác đi nơi này nơi khác kiểu y như một con lừa mà chẳng có gì khám phá, sáng tạo độc lập riêng tư như mình là nhà triết học chân chính cả.

Hai điều tâm đắc nhất của ông Thảo là quan điểm duy vật và duy vật biện chứng. Nhưng ông lại không thắc mắc hay không đặt vấn đề tại sao nó lại như vậy, có cái gì đó thiết yếu tự nghịch lý mâu thuẫn bên trong hay không. Bởi ai cũng biết vật chất thuần túy chỉ là tính trơ lỳ tuyệt đối, tức nó không là gì khác ngoài ra chỉ duy tính trơ lỳ đó. Nói khác đi, vật chất luôn luôn không có bất kỳ thuộc tính, tức tính nội hàm hay tính chứa đựng bên trong chính nó chỉ là tính vật chất. Nó không có khả năng hay tiềm năng của tính cách nào khác, ví dụ đất đá thì hàng triệu vẫn chỉ là đất đá, không thể nào biến chuyển được ra cái gì khác. Nhưng sự sống là cái gì đó khác, ý thức tinh thần lại là cái gì đó khác. Không thể nào hai bản chất bản thể khác nhau lại có thể chuyển đổi được cho nhau, nói nôm na như nước với lửa, hòn đá với cái cây, ý tưởng với sự vật chẳng hạn.

Vậy mà mọi vật trên đời đã luôn có, nhiều nguyên nhân vẫn còn tiềm ẩn, không bất kỳ con người nào tạo nên nó cả. Ví dụ như tính hữu lý, nguyên lý nhân quả, tính cách giống tính tức phái tính, các ý nghĩa và giá trị xã hội mà ai cũng phải tôn trọng. Mọi cái đó hoàn toàn không thể chỉ giản lược vào vật chất, không thể chỉ quy kết vào biện chứng duy vật, cả nhiều sự kiện xã hội không thể giản lược vào duy vật lịch sử mà có thể tạo ra nó. Vì cái khác nhau ở đây chính là chủ thể ý thức, chủ thể con người. Ngay cả loài vật, đó cũng là những thứ chủ thể ý thức nhưng ở tầm thấp, ở trình độ tự nhiên hoang dã, không như xã hội đã thuộc về tầng cao, thuộc về ý nghĩa văn minh, tinh thần, văn hóa và nhân bản. Có nghĩa chính những khía cạnh tranh đấu ý thức đã làm cho xã hội phát triển mà không phải chỉ thuần túy là sự vận động hay sự chuyển động vật chất mà Mác và Engels quan niệm.

Chủ nghĩa duy vật thật ra chỉ là chủ nghĩa cảm tính hay kiểu một thị hiếu cảm tính. Đó là kiểu ngắt đầu ngắt đuôi, chỉ lấy khúc hiện tượng quan sát bề ngoài ở giữa và tinh chắc như vậy, kết luận như vậy. Đó chẳng qua chỉ là kiểu triết học trích đoạn, sự lười nhác nông cạn về tư duy, và chính Trần Đức Thảo cũng không đi ra ngoài chiều hướng như thế. Kiểu thấy chung quanh ta chỉ là sự vật vật chất, chỉ là thế giới vật chất, thậm chí chỉ là vũ trụ vật chất và quy mọi kết luận chỉ vào điều đó thế thôi nhưng không hề đặt vấn đề nào xa hơn, sâu hơn, toàn diện hay bao quát hơn. Nói khác đi, tinh thần triết học của Trần Đức Thảo chưa chín, nó chỉ là niềm tin bợt chợt vào thuyết duy vật của Mác rồi trước sau thảy đều bám víu, diễn đạt theo đó mà không hề đưa ra được cái gì của riêng mình cả.

Cứ lấy ví dụ như hai hòn đá đập vào nhau, chỉ khiến gây ra tiếng động, tóe lửa, hay chúng vỡ đi, mà không tạo ra được điều gì khác. Hai thân xác đập vào nhau thì cũng chỉ có thế, có điều kết quả mềm hơn, ít khốc liệt hơn và chỉ thế thôi. Nhưng hai hòn đá không thể đập vào nhau nếu không có động lực khách quan bên ngoài hay thiên nhiên nào đó tác động vào. Hai thân thể đập vào nhau cũng thế, nếu sự va chạm không phải do ngoại lực tác động, ít ra phải có phần chủ động nào đó của ý thức bên trong, tức có ý chí của não bộ tác động dẫn dắt mà không thể tự mình thân xác có. Như vậy rõ ràng chủ thể tính là điều quan trọng trong thế giới sự sống, trong thế giới sinh vật mà không hề kiểu toàn như thuần túy vật chất thô. Những loài thú dữ săn mồi, con mồi phải chạy để không bị bắt được, mọi điều chỉ đơn giản như vậy. Ngay giới thực vật cũng có chủ thể tính riêng nơi từng đơn vị giống loài của mình. Chỉ có đá sỏi là vật chất chai ỳ hoàn toàn khác hẳn.

Nên ngay trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người, ban đầu là mọi tác động của chủ thể sinh vật ở tầm thấp, rồi dần dần được nâng cao lên, tích tụ dần dần ở các mức cao hơn, không phải chỉ đơn thuần là hệ lụy của nguyên lý chuỗi thức ăn hay quyền lợi kinh tế vật chất duy nhất mà Mác nổ lực chứng tỏ và chính Thảo hoàn toàn tâm đắc. Dĩ nhiên mọi sự tiến hóa và phát triển đi lên đó không phải chỉ bản thân tác động kiểu hiện tượng rời rạc gây nên từ bên ngoài, mà chính là sự kết cấu nào đó được phát triển ra từ bên trong, được phát huy, nâng cấp lên từ bên trong. Một cái cây ra hoa ra trái, không hề là sự cấu thành từ thân lá bên ngoài, mà chính là sự triển khai ngấm ngầm từ bản thân bên trong của nó. Ngày nay khoa học đều biết đó chính nhờ cơ chế gien mà nó đã chứa đựng ngay từ đầu đã lập trình hóa ra từ bản thân chính nó, cây hồng không thể cho hoa lài hay hoa huệ, cây bưởi không thể cho ra bông trái ổi, hay là hoa trái chanh, đều hoàn toàn như thế.

Nên từ khi có xã hội văn minh, đấu tranh ý thức, đấu tranh chủ thể mới là điều đầu tiên mà không phải chỉ là đấu tranh thân xác, đấu tranh vật chất, đấu tranh kinh tế mà Mác luôn chỉ nhìn một cách hời hợt nông cạn mà Thảo cũng không hề vượt được lên trên mọi điều đó. Đương nhiên thân xác, vật chất luôn luôn là điều kiện cần nhưng không bao giờ là điều kiện đủ. Trong một nghĩa địa các thân xác không hề đấu tranh nhau, chúng chỉ rã mục và tiêu tán đi. Trong một xã hội con người không chỉ duy đấu tranh vì mục tiêu kinh tế mà còn cả nhiều mục tiêu tinh thần khác nhau. Pháp luật bởi vậy là mặt cần để điều hòa tất cả, nhưng ngược lại pháp luật vẫn có thể bị lợi dụng cho mục tiêu của chính kẻ mạnh. Việc tranh bá đồ vương trong xã hội phong kiến, quân chủ cũng không ngoài những kèn cựa như vậy. Đó là tham vọng của những cá nhân con người, nhiều lúc chỉ là lợi ích cá nhân tầm thường, nhưng cũng không ngoài nhiều mục tiêu cộng đồng cao cả hơn, điều này trong lịch sử đều cho thấy mà không thuần chỉ là đấu tranh giai cấp như Mác phô diễn. Tất cả mọi điều đó Trần Đức Thảo không hề thấy mà chỉ như một cậu học trò nhỏ chỉ biết luôn đi theo cắp rương cho Mác.

Vậy nên lịch sử luôn luôn diễn tiến, có khi chủ quan, có khi khách quan, nói chung là đều hội tụ bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải thuần chỉ giản lược vào đấu tranh quyền lợi giai cấp như Mác chỉ thấy và hầu tin như thế. Cho nên tới khi khoa học kỹ thuật phát triển, tức nhận thức con người đã vươn lên tầm vóc mới, chính tinh thần, trí tuệ con người mới là điều quyết định mà không còn thuần là lợi ích vật chất nói chung như các giai đoạn thời kỳ trước. Tức là trí tuệ đã dần dần tách ra khỏi sự mịt mùng của thế giới vật chất trước đó, điều đó khiến tinh thần vươn lên, những mọi nền tảng bản năng cũ đều không thể xóa nhòa hay mai một. Kiểu một lâu dài dầu cao bao nhiêu, dầu vương giả bao nhiêu, vẫn chỉ có thể xây dựng trên chính nền móng của nó mà không thể xây dựng chỉ trên cát hay trên mây là chính như vậy. Mác luôn chỉ nhìn thấy có một mà không nhìn thấy hết mười, khiến quan niệm duy vật chỉ trở nên tầm thường, thấp kém, có khi phản cả nhân bản là vì thế. Vậy nhưng Trần Đức Thảo cũng chỉ mù quáng vào duy một điều là gần như vậy.

Mọi cá nhân đều là thành phần của xã hội, chịu chi phối bởi mọi hoàn cảnh, điều kiện khách quan tự nhiên của xã hội, đó chỉ đều chân lý tầm thường chẳng có gì ghê gớm để Mác, Ănghen, Lênin cứ đồ đi đồ lại và Trần Đức Thảo cũng luôn theo sát nút không ngoài điều đó. Thế nhưng xã hội là gì nếu không phải từ mọi thành phần cá nhân hợp lại, và mỗi cá nhân là gì nếu không ngoài ý thức chủ thể ở trng chính thân xác của người đó. Dĩ nhiên không có ý thức, tinh thần, chủ thể tính nếu không có thân xác. Nhưng khi ý thức, tinh thần, chủ thể tính đó đã ra đi, thân xác còn lại cũng chỉ có thể đem chon ngoài nghĩa địa hay hỏa thiêu đi mà không thể làm gì khác. Thế thì cái nào quan trọng hơn ở đây, tinh thần hay thân xác, cái nào có trước cái nào, như kiểu Mác, Ănghen, Lênin hoài lặp đi lặp lại, và Thảo cũng không hề ra khỏi chính con đường mòn đó ? Cứ kiểu duy vật thì cho là vật chất có trước, duy tâm thì cho là tinh thần có trước, cuối cùng thử hỏi ai thắng hay ai thưa ?

Thành nên cuối cùng chỉ kiểu nhìn duy một chiều rồi tự cho mình mới là kẻ ưu việt, chiến thắng, cả duy vật hay duy tâm thuần túy đều kiểu sật sừ như vậy. Nói như vậy không hẳn là ba phải, lưng chừng hay lừng khừng kiểu ba rọi hay kiểu nửa chừng xuấn, mà chính là cách nhìn tông thể, cái lý bao quát nhất mà cả ngàn năm trước chính người xưa đã thấy. Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, từ đó muôn loài xuất hiện v.v… Thế thì cái “Đạo” đó là gì ? Là bản thân vật thể hay chủ thể, là bản thể thuần túy hay chủ thể thuần túy, hay cả hai cùng là một, như trong những bài trước có lần tôi đã nói, đó là cái Substanz-Subjekt (substance-subject, substance-sujet), như là cái tồn tại thực chất nhất. Đó cũng là cái mà từ ngàn xưa Lão tử đã nói, đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh, vô danh thiên địa chỉ thỉ, hữu danh vận vật chi mẫu … thử lưỡng giả đồng, xuất chi nhị danh, đồng vị chi huyền, huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn.

Nên đừng nghĩ Đạo là bản thể trừu tượng, không phải như vậy. Chính trong cái trừu tượng đã có mầm mống cái cụ thể, và trong cái cụ thể luôn luôn có bản chất là cái trừu tượng, thế thôi. Con người ban đầu đi từ thế giới vật thể, rồi chuyển qua thế giới phân tử, chuyển qua thế giới nguyên tử, rồi thế giới hạt cơ bản, tiến vào khái niệm trường vật chất, đồng thời cũng quay về thế giới hợp nhất mọi lực vào một, đi tới nguyên lý sóng hạt, đi tới phản hạt, đi tới phản vật chất, đi tới nguyên lý bất định v.v… và chắc cũng sẽ còn đi tới nữa, không bao giờ là điểm dừng được cả. Ngay cả khái niệm không gian và thời gian cũng đã từng được hợp nhất vào khái niệm Không-thời (Temps-espace) mà Thuyết tương đối của Einstein đã từng khai sáng. Lênin xưa đã từng chế diễu điều gọi là “vật chất biến mất”, nhưng điều đó giờ đây đã thành sự thật. Tức vật chất quả đã biến mất trong mọi hình thức đặc thù của nó, chủ nghĩa duy nghiệm đã được đưa lên một nấc, và mọi quan niệm duy vật tầm thường đã trở thành non dại và ấu trĩ.

Trần Đức Thảo buổi ban đầu đã chủ tâm nghiên cứu Hiện tượng luận của Husserl, một triết gia duy tâm đức, nhưng cuối cùng mục đích nghiên cứu Husserl của Thảo không phải nhằm ý nghĩa triết học thực sự, mà chủ yếu Thảo vẫn cho Husserl là duy tâm hằm tìm cách phủ nhận và đánh đổ nó, bởi điều dễ hiểu là Thảo chỉ có thuần thành theo Mác, theo duy vật biện chứng của Mác còn ngoài ra không còn nhìn thấy trời đất trăng sao nào cả. Thật ra ông ta kiểu tự xem mình như một cán bộ mác xít mà chẳng có tư duy, tư tưởng gì độc lập, ngoài mục đích minh họa, biện hộ, giải bày, hay chỉ cốt phục vụ làm sao cho hiệu lực nhất quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của cả ba ông thầy mình Mác, Engels và Lênin, điều này rất tháy rõ Thảo đều chỉ biết trích dẫn để làm cơ sở và minh chứng tư duy của ba ông đó như chính là tư duy của Thảo, không bao giờ dám đi trệt ra một chút nào cả thảy.

Trần Đức Thảo viết : “Dans PHÉNOMÉNOLOGIE ET MATÉRIALISME DIALECTIQUE, au moment même où les contradictions internes de l’oeuvre de Husserl m’obligeaient à la liquider, j’ai cru pouvoir prendre modèle sur la critique positive de Hegel par les classiques du marxisme-léninisme, pour chercher à garder dans une certaine mesure la méthode phénoménologique en la débarrassant de l’idéalisme husserlien, et la «remettre sur les pieds» en l’intégrant comme un moment dans la dialectique matérialiste” (“Trong cuốn Hiện tượng luận và Duy vật biện chứng, chính vào lúc những mâu thuẫn hàm chứa trong tác phẩm của Husserl bắt buộc tôi phải giải quyết nó, tôi đã tin tưởng có thể dùng mẫu mực nơi sự phê phán tích cực về Hegel bởi các nhà kinh điển mác xít- lêninít, để nhằm tìm kiếm giữ lại theo một chừng mực nào đó phương pháp hiện tượng luận bằng cách loại bỏ đi quan điểm duy tâm của Husserl, và “và đặt nó lại trên đôi chần chính nó” nhằm hội nhập nó vào như là một bộ phận của Duy vật biện chứng luận”).

Chỉ riêng câu này thôi đã cho thấy tính nô lệ một chiều và sự ngớ ngẩn của Trần Đức Thảo. Ông ta bắt chước y hệt ý tưởng và câu nói trước kia của chính Mác khi khai thác Hegel. Tức chỉ rút ra phương pháp biện chứng còn loại bỏ đi hệ thống duy tâm Hegel, bằng biện pháp “lật ngược Hegel lại, để giúp Hegel đi bằng chân mà không còn chỉ đi bằng đầu nữa”. Thế nhưng chính Mác lại quên rằng, một phương pháp nào đó khi đã gắn chặt thiết yếu với bản thân hệ thống đó, không thể được rút ra để gắn vào hay áp dụng cho một hệ thống khác mà bản thân hoàn toàn trái ngược. Ví dụ không thể dùng nguyên lý bộ máy kim loại để hoàn toàn áp dụng vào cho bộ máy bằng gỗ hay bằng tre, không thể thay bản chất của nước vào cho bản chất của lửa, không thể thay nguyên lý vật cứng vào cho nguyên lý vật mềm, không thể thay nguyên lý vật chất thuần cho cơ thể sinh học, không thể thay sự vật cụ thể vào cho ý tưởng chỉ có trong đầu óc v.v…Cũng như không thể lật ngược chai rượu để biến nó ra nước hay ra giấm được.

Hegel duy tâm không thể lật ngược để biến thành ra duy vật. Hegel đi bằng đầu chỉ là lối nói để ám chỉ Hegel thừa nhận sự siêu việt về tinh thần như là điều gì tiên phong quyết định, trong khi Mác chỉ thừa nhận duy vật chất là tồn tại duy nhất, tức Mác chỉ đi bằng chân. Nhưng thử hỏi chân mà không có đầu, đầu không có óc, óc không có tư duy, chủ thể tính, vậy thì chân có tự bước được không. Chính điều nông cạn, thô kệch, ngây dại đó của Mác mà Cả Engels, Lênin đều không nhìn thấy ra, huống gì là Trần Đức Thảo, bởi ông ta chỉ nhằm đi theo đúng bước chân của người trước mà có đâu tư duy, ý nghĩ độc lập của mình. Thành nên bắt chước phương cách đó để rút ra phương pháp hiện tượng luận của Husserl, nhằm bác bỏ quan điểm duy tâm của Husserl, để biến ông này thành như bộ phận, môn đồ  của duy vật lịch sử mác xít-leninít như ông ta nói thật là hết sức ngây thơ và ngờ nghệch. Đấy “triết gia” Trần Đức Thào là như thế đó.

Ông ta viết tiếp: “la phénoménologie pouvait être «aufgehoben»: supprimée, conservée, dépassée, bref absorbée de manière positive dans le marxisme” (“Hiện tượng luận Husserl có thể bị vượt lên, bị bỏ đi, được giữ lại và bị vượt qua, nói chung là bằng cách đưa vào một cách tích cực trong tư tưởng chủ nghĩa Mác”). Ý muốn nói thực tiển (praxis) phải tất yếu là duy vật, thế giới quan và nhân sinh quan cũng phải như vậy, nên phải loại bỏ tính duy tâm trong Hiện tượng luận nhằm đưa nó vào thuần túy chỉ như một bộ phận nội dung trong học thuyết Mác. Đây thật sự cũng chỉ là việc đem râu ông nọ cắm cằm bà kia như Mác từng đã làm và nay Trần Đức Thảo lại bắt chước y hệt. Đấy công trình nghiên cứu Hiện tượng luận Husserl buổi ban đầu của Thảo nhằm mục đích cuối cùng là như thế, điều đó cho thấy ông ta thật sự chỉ là kiểu cán bộ tư tưởng theo cách cuồng tín, không hề bao giờ là nhà tư duy hay triết gia hoàn toàn độc lập riêng mình được.

Ông ta lý giải “le projet si séduisant d’une Aufhebung comme suppression et en même temps absorption et intégration de Husserl dans Marx, conçu sur le modèle de la Aufhebung” (“Kế hoạch thật hấp dẫn của một Aufhebung như là sự loại bỏ đi nhưng cùng lúc là sự hấp thụ và hội nhập của Husserl vào trong Mác, được thừa nhận như là mô thức của Aufhebung”). Tức Thảo đã biến cái Aufhebung, như Mác đã làm với Hegel, nay cũng được đem làm với Husserl, ý như kiểu mượn đầu heo nấu cháo, và hiểu thực tiển theo kiểu thực tiển áp đặt một chiều đầy sự giản lược, cảm quan và thị hiếu chẳng giống ai cả. Thật ra ý niệm Aufhebung do Hegel đưa ra chỉ có thể áp dụng được cho tinh thần, ý thức, hoặc cả ý nghĩa sự sống (Leben, life, vie) còn không thể nao áp dụng cho vật chất thuần túy được (Materie, matter, matière) vì thực thể nầy hoàn toàn không hề có tính chủ thể (Subjektivität, subjectivity, subjectivité). Cái ngố nhất của ông Thảo chính là ở chỗ này.

Tiếp đến ông ta viết : “la démonstration de l’origine matérielle de la conscience, ce qui écartait a limine toutes les théories de la transcendance” (Sự chứng minh về nguồn gốc vật chất của ý thức đã tuyệt đối loại bỏ mọi lý thuyết về siêu việt). Điều này dĩ nhiên không cần phải nói, bởi chỉ thừa nhận duy nhất sự tồn tại vật chất, thì ngoài ra còn bất kỳ cái nào khác nữa. Đây cũng chính là sự ngây thơ của Thảo, còn “chứng minh” là như thế nào ? Khoa học nào đã chứng minh được chưa ? Hay thực chất chỉ là suy sự suy nghĩ giản đơn, một chiều, quy chụp ? Thành nên trước kia Mác đã phủ nhận tất cả mọi ý nghĩa gì gọi là tinh thần, Mác cho đó đều chỉ là sự vận động thần kinh trong óc não phản ảnh ra, kiểu chỉ là thượng tầng kiến trúc mang tính chất “ý thức hệ”, là sự phản ánh điều kiện kinh tế xã hội từ ngoài vào mà không ý nghĩa gì cả. Mác cho đó chỉ là sự vong thân ý thức (aliénation de la conscience), chỉ là sự vận động vật chất trong óc não mà không gì khác. Nhưng thế sao còn bảo là “vong thân” được thảy. Thành ra lý thuyết Mác đầy những sự mâu thuẫn nghịch lý như thế mà Trần Đức Thảo vẫn không hề thấy, chỉ nói bừa nói bướng một chiều theo ông thầy mình đã tin tưởng.

Bởi vậy ông ta nói huỵch tẹt : “Hegel fournissait des indi­cations utiles puisqu’il avait visé le même processus historique. Mais le rétablissement lui-même n’a été possible qu’en prenant et en décrivant ce processus dans sa réalité propre, ce qui impliquait une élaboration absolument originale de la méthode dialectique, une création radicale où les catégories du mouvement se définissent directement sur le mouvement même de la matière dans sa structure réelle, «de sorte que la vie de la matière se réfléchit dans sa reproduction idéale» (LE CAPITAL, Postface de la deuxième édition). Et si l’on y retrouve le «noyau rationnel» de la dialectique hégélienne, ce noyau lui-même ne peut se définir correctement qu’en langage marxiste, non hégélien”. Tức có nghĩa đây là sự “duy vật hóa” Hegel một cách toàn diện và tuyệt đối, cả phương thức biện chứng luận nữa cũng bị đem duy vật hóa luôn. Đoạn văn này hơi dài, nhưng quan trọng và thiết yếu, song xin ai biết tiếng Pháp thì nên đọc hiểu, tôi không buồn dịch ra tiếng Việt nữa, bởi chung quy nội dung nó cũng chỉ có luẩn quẩn như vậy, không có gì khác.

Cả phần tiếp đến, khi bàn về quan điểm ngữ học của nhà ngữ học Ferdinand de Saussure (LE SAUSSURISME), Thảo cũng quy giản tất cả mọi điều phân tích về ngữ học, ngữ nghĩa của Saussure chỉ đều là những sự trao đổi (exchange) của các ký hiệu vật chất, cả trên phương diện biện chứng luận duy vật mà không có gì ngoài ra cả. Mác không thừa nhận trong đó có những ý nghĩa tâm lý ý thức hay tinh thần nào khác nhau, mà chỉ thuần túy là những biểu hiệu vật chất phát triển nên. Phần này Thảo phân tích tuy có hơi dài, nhưng tựu trung không ngoài ý đồ và mục đích của ông là là nhằm gom vào duy nhất trong quan điểm duy vật và loại bỏ hẳn mọi phần phân tích mang tính duy tâm nào đó mà Saussure muốn hướng tới. Như vậy cả ngôn ngữ ông ta cũng không cho là có mang ý nghĩa hay nội dung tiềm ẩn nào cả, ông đồng hóa ký hiệu ngôn ngữ nơi loài vật cũng không khác ý nghĩa ngôn ngữ nơi loài người là mấy, tức không ra ngoài một hệ thống ký hiệu vật chất và sự giao thoa, trao đổi giữa chúng với nhau nào đó, chẳng khác ý nghĩa về hàng hóa mà trong Tư bản luận Mác đã từng đưa ra phân tích.

Như vậy cũng có nghĩa vì duy vật hóa tất cả, ông Thảo cũng theo Mác phủ nhận mọi cái gì về tinh thần mà xã hội loài người từng có, cả như ngôn ngữ, tư tưởng và ý thức đạo đức. Mác cho đó chỉ đều duy là sản phẩm của vật chất vận động bên ngoài phản chiếu vào não trạng của con người. Nó chỉ là sản phẩm thuần túy phản ảnh. Nói đúng ra, tất cả mọi cái đó trong xã hội tư sản cũng chỉ là sản phẩm của tư sản. Và đạo đức truyền thống mọi loại, ông Thảo cũng tin theo Mác, quy cho là đạo đức kiểu tư sản. Mác chủ trương phải loại bỏ tất cả đi, thay vào duy nhất thứ đạo đức vô sản, tức đạo đức cách mạng, đoạn tuyệt, xóa bỏ mọi nền nếp cũ nhằm xây lên hệ đạo đức mới, là hệ đạo đức theo kiểu hoàn toàn vô sản, đạo đức của thành phần giai cấp mới vô sản. Ở đây rõ rang ta thấy quan điểm hoàn toàn cực đoan của Mác, không nhìn thấy mọi ý nghĩa giá trị tiềm ẩn, nhân văn của con ngwoif mà chỉ nhìn thấy yếu tố duy vật chất, yếu tố duy giai cấp mà chính sự vận động lịch sử biện chứng của vật chất mang lại duy nhất thế thôi. Quan điểm phi lý đó thực chất chẳng khác gì quan điểm hư vô hóa, phi nhân bản hóa, hoàn toàn tiêu cực trên bình diện con người và lịch sử xã hội loài người mà Trần Đức Thảo vẫn chưa hồi nào nhìn thấy.

Thế nên ông Thảo viết : “La dialectique matérialiste étant la «reproduction idéale de la vie de la matière» (Marx), ou encore «le reflet exact du développement de l’univers» ou reflet exact de «la dialectique des choses elles-mêmes» (Lénine), son application à la théorie de la conscience consistera évidemment à reproduire exactement le mouvement dialectique réel, par le­quel, à partir des rapports matériels entre l’homme et le monde dans la pratique sociale, se constitue, avec ses trois relations fondamentales, le rapport vécu de la conscience, à travers ses sensations, à ce monde extérieur lui-même.

Tức quanh đi quẩn lại, Trần Đức Thảo cũng chỉ hiểu hay chỉ thừa nhận chửng chuyện mà không gì khác. Thế giới ngoại vật chỉ là mọi sự tương quan vật chất giữa chúng với nhau. Các tương quan này kể cả những tương quan vật chất cụ thể khác nữa trong xã hội tạo nên sự phản ảnh nhất định nào đó trong não bộ con người mà đưa đến sự xuất hiện của ý thức (conscience) mà không gì khác cả. Tức ý thức nhận thức sự vật cũng chỉ là một trạng thái vật chất, một bản thể vật chất duy nhất đó thế thôi. Thảo trưng dẫn điều đó chính Mác và Lênin cũng đã nói như vậy. Ông ta còn khẳng định “La conscience est donc d’emblée un produit social» (IDÉOLOGIE ALLEMANDE, Ed. sociales, p. 59)". Và cuối cùng ông ta cũng chỉ nại ra Mác để cho rằng «Ý thức như vậy trước hết là một sản phẩm xã hội » còn ngoài ra không là gì cả.

Tiếp theo, sau khi phân tích vòng vo các nội dung ý thức chủ thể (intentioalité) mà Husserl đưa ra trong nhận định về ý thức như là nội dung đích thực hay quan trọng nhất của ý thức, cuối cùng ông Thảo cũng vẫn chỉ nói : «J’ai cru pouvoir placer ce mouvement sémiotique matériel ou plus brièvement cette sémiotique matérielle, sous le concept, créé par Marx, du langage de la vie réelle: «La production des idées, des représentations, de la conscience, est tout d’abord immédiatement entrelacée dans l’activité matérielle et les relations matérielles des hommes, dans le langage de la vie réelle. La représentation, la pensée, les relations spirituelles des hommes apparaissent encore ici comme l’émanation directe de leur comportement matériel». Cũng không ngoài mọi điều gì xảy ra trong ý thức và ngữ nghĩa đều không qua đó là những tương quan cùng sự vận động của các yếu tố vật chất, phản ảnh các thực tại vận động của vật chất nơi thực tại khách quan và thực tại xã hội thế thôi.

Nên nói cho cùng, mọi bài viết hay mọi tác phẩm về triết học của Trần Đức Thảo đều không bao giờ ra khỏi cái khuôn thước đã định của quan điểm triết học duy vật đã định của Mác. Có điều ông Thảo không thấy đó chỉ là quan điểm triết học hết sức tầm thường, bởi vì quy tất cả về vật chất thì đâu còn nghĩa lý gì, khác nào sổ toẹt cả lịch sử, cả thế giới, con người và xã hội. Bởi nếu như vậy thì còn có ý nghĩa hay giá trị gì để nhằm “giải phóng” giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội, mà chẳng qua chỉ là sự ngụy biện, giả dối. Vả chăng cơ sở nào toàn diện để nhận định mọi thực tại chỉ là vật chất. Nhìn thấy một mặt của sự vật, lấy lý do nào để kết luận đầy đủ về các mặt khác.

Đó là chưa nói nhét khái niệm biện chứng vào cho vật chất thuần túy chỉ là sự nông cạn và ngốc nghếch. Từ đó thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác thật sự chỉ là một sự chuyên đoán, không mang ý nghĩa khoa học khách quan hay nhân văn nào cả. Tư tưởng của Trần Đức Thảo chỉ hoàn toàn dựa vào đó cho thấy bản chất hết sức nghèo nàn và nông cạn. Nên khi phi bác, phủ nhận biện chứng luận của Husserl, Mác chỉ làm một việc đơn thuần là nhu cầu thị hiếu, ý thức cảm tính, mục đích định kiến mà không có chiều sâu khách quan nào cả. Ông thảo hoàn toàn không thấy ra hay không đánh giá đúng đắn chút nào về ý hướng tính (intentionalité) như là tính quyết định của chủ thể tính mà Husserl đã nổ lực khai phá ra. Bởi đây mới chính là ý nghĩa hay yếu tố phân biệt giữa tinh thần và vật chất, giữa sự sống và chất thể chai lỳ, giữa thế giới vô tri, thế giới sự sống, cũng như thế giới loài vật và thế giới loài người. Và Trần Đức Thảo cũng không hề có chút tinh tế, sâu sắc nào trong tư tưởng, trong tư duy triết học của mình để hoàn toàn nhận thấy ra được tất cả mọi điều đó.  

    

By VÕ HƯNG THANH

         (04/9/2021)





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét