NÓI VỀ SỰ NGHÈO NÀN
TRONG TƯ DUY TRIẾT HỌC
CỦA “TRIẾT GIA” TRẦN ĐỨC THẢO
Kể
từ khi ông Trần Đức Thảo đậu được xong văn bằng Thạc sĩ triết học khi ấy ở
Pháp, nhất là sau khi ông ta đã tranh luận suốt cả một tuần với triết gia Pháp
nổi tiếng Jean Paul Sartre về một số vấn đề triết học duy vật Các Mác và hiện
tượng luận Husserl nào đó, chẳng biết hai bên thắng thua thế nào, nhưng từ đó
ông Thảo đã nổi tiếng như một nhà triết học lớn mới xuất hiện ở Âu châu, và về
sau đã có tư thế như một triết gia số một đầu tiên và duy nhất quá đáng gờm của
Việt Nam chúng ta. Nhưng thực chất sự thật tư tưởng triết học của Trần Đức Thảo
là gì cũng rất phải cần nói đến, và hôm nay chính là điều nhất thiết phải nên
nói tới.
Thật
vậy, không biết ông Thảo có vào đảng cộng sản Pháp hoặc Việt Nam hay không, như
chắc chắn ông Thảo là người có tư tưởng cộng sản rất đậm nét, hay nói đúng hơn
ông ta là người có tư tưởng mác xít rất thuần thành và rất dứt khoát. Nói khác
đi ông ta là người có quan điểm duy vật thuần túy, kiểu duy vật luôn luôn trung
thành theo tư tưởng Mác, Ănghen, Lênin mà không gì khác. Có nghĩa từ trước đến
sau ông Thảo không hề có chút tư tưởng nào riêng của mình, trái lại ông có vẻ
chỉ như một người sứ giả, một cái loa chuyên minh họa, lý giải tư tưởng duy vật
mác xít qua mọi vấn để triết học, kể cả vấn đề triết học hiện tượng luận
Husserl theo cách duy tâm mà mỗi khi ông có dịp chạm đến. Các nội dung trình
bày sau đây là căn cứ vào bài viết đã có của ông Trần Đức Thảo được đăng trên tờ
Tạp chí triết học Tư Tưởng (La Pensée, số 119, tháng hai 1965) và tờ Phê Bình mới (La Nouvelle
Critique, số 86, 1975) ở Pháp mà ai cũng có thể tìm đọc
được.
Tuy nhiên trước
khi đi sâu vào phân tích nội dung bài viết của ông Thảo, thiết tưởng phải nên
giúp cho cho người đọc một số các khái niệm triết học chung nhất hay nền tảng
nhất như sau. Đó là sự khác nhau thế nào giữa quan điểm duy tâm và duy vật cũng
như sự nhận thức hay đánh giá chân lý của con người ra sao, là những điều không
thể không bàn tới trước nhất. Bởi khi đã rõ tất cả những điều này, sự đánh giá
về tư tưởng triết học của Trần Đức Thảo cũng như của phái triết học duy vật nói
chung và tư tưởng duy vật biện chứng của Mác, Ănghen, Lenin không mấy gì khó,
và cả tư tưởng triết học của triết gia Trần Đức Thảo nói riêng cũng hoàn toàn
như vậy.
Nào cứ nhìn mọi
sự vật đang có mặt chung quanh ta, từ mọi vật dụng trong cuộc sống, ngay đến
thân xác cụ thể mỗi người, cả thế giới thiên nhiên hay vũ trụ bao quanh, chúng
đều là mọi vật cụ thể cả, hay nhìn chung chúng đều cấu tạo nên bởi mọi vật chất
bề ngoài, mà trong khoa học phân ra vật chất vô cơ và vật chất hữu cơ mà không
gì khác. Nói khác đi vật chất là mọi cái gì cụ thể, khách quan chung quanh ta,
nó bao gồm tính vật thể cụ thể, có thể tiếp xúc, khám phá được bằng giác quan,
kể cả bằng mọi dụng cụ khoa học để có thể cân đo đong đếm được mọi mặt chẳng có
gì trừu tượng hay bí mật cả.
Thế nhưng đó
chỉ là kiểu mọi quan niệm duy vật tầm thường. Bởi vì còn những vật thể trừu
tượng như sự sống, ý thức, sự nhận thức, tinh thần, ngôn ngữ, ý tưởng v.v…
chúng đều không phải những dạng thể vật chất nào cả, bởi chúng tuyệt đối trừu
tượng, không thể nào cân đo đong đếm mọi dạng theo cách vật chất, đó là điều
không thể nào chối cãi được. Nhưng lại còn một dạng ý nghĩa cao hơn, bản tính
quan trọng hơn, giá trị chủ động hơn, đó là ý nghĩa của tính chủ thể hay là chủ
thể tính (Subjektivität, subjectivity, subjectivité) mới thực sự
là điều quan trọng nhất. Bởi chính đây mới là yếu tố thống nhất vừa cũng là đầu
mối của mọi thuộc tính về ý thức, tinh thần như vừa thấy ở trên. Thật vậy nếu
thiếu đi bản chất chủ thể (Subjekt, Subject, sujet) này cũng không lấy chi làm
chủ được cho mọi trạng thái hay suy nghĩ trong tinh thần, trong đầu óc mỗi
người, thành đó mới chính là điều cần nói nhất.
Vậy nếu những thuộc tính của chủ thể
đã không còn là vật chất nữa, đã vượt ra ngoài mọi thể dạng của vật chất, thì
chủ thể tính của nó, cái tinh thần (Geist, spirit, esprit) hay nói chung là cái
ego, tâm thức chủ thể, mới chính là động lực chủ thể mà không hề là thân xác
vật chất của con người. Thân xác chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa phải là
điều kiện đủ, cũng giống như mọi yếu tố vật chất chỉ mới là điều kiện cần nhưng
chưa phải là điều kiện dủ cho thân xác, bởi thân xác là cơ thể sống mà không
phải chỉ là một tổ hợp đơn thuần của mọi vật chất cấu thành nên nó. Quá trình
ba bước đó nếu chỉ quy vào có một thì đó là điều nông cạn, phi lý, kể cả mâu
thuẫn, nghịch lý, là điều không thể nào chỉ đơn giản chấp nhận được.
Có nghĩa thuyết duy tâm thuần túy,
phủ nhận mọi trạng thái vật chất bên ngoài coi như không thật, chỉ công nhận
duy nhất tồn tại tinh thần phi vật chất bên trong ý thức con người, đó cũng là
điều phi lý và không thực tế. Nhưng ngược lại quan điểm duy vật thuần túy chỉ
coi vật chất là tồn tại duy nhất có thật, còn tinh thần, ý thức chỉ đều là sản
phẩm vật chất phản chiếu vào trong óc não con người ngoài ra không gì khác cũng
chỉ là quan niệm thiển cận, thấp kém, tầm thường mà không có gì khác hơn như
thế. Đó chính là quan điểm duy vật của Mác, Engels và Leenin cùng nhiều nhà duy
vật tương ứng khác trong đó có cả Trần Đức Thảo.
Bởi vậy suốt trong tác phẩm hay các
bài viết của mình, ông Thảo không hề bao giờ ra khỏi chính quan điểm đó. Nói
chung ông ta chỉ là một nhà mác xít thuần túy đúng nghĩa mà không phải như một
nhà triết học độc lập, một triết gia thực sự có quan điểm tư duy riêng của
mình, độc lập, không lẫn lộn hay đồng hóa chung vào người khác. Ông Thảo đúng
ra luôn luôn chỉ là người trung thành, lặp lại y chang các quan điểm đã có
trong thuyết Mác, ông không đi trật ra thảy một phân một ly nào cả. Đúng ra ông
chỉ là người truyền tải, một kẻ khuân vác thuyết duy vật biện chứng của Mác đi
nơi này nơi khác kiểu y như một con lừa mà chẳng có gì khám phá, sáng tạo độc
lập riêng tư như mình là nhà triết học chân chính cả.
Hai
điều tâm đắc nhất của ông Thảo là quan điểm duy vật và duy vật biện chứng. Nhưng
ông lại không thắc mắc hay không đặt vấn đề tại sao nó lại như vậy, có cái gì
đó thiết yếu tự nghịch lý mâu thuẫn bên trong hay không. Bởi ai cũng biết vật
chất thuần túy chỉ là tính trơ lỳ tuyệt đối, tức nó không là gì khác ngoài ra
chỉ duy tính trơ lỳ đó. Nói khác đi, vật chất luôn luôn không có bất kỳ thuộc
tính, tức tính nội hàm hay tính chứa đựng bên trong chính nó chỉ là tính vật chất.
Nó không có khả năng hay tiềm năng của tính cách nào khác, ví dụ đất đá thì
hàng triệu vẫn chỉ là đất đá, không thể nào biến chuyển được ra cái gì khác.
Nhưng sự sống là cái gì đó khác, ý thức tinh thần lại là cái gì đó khác. Không
thể nào hai bản chất bản thể khác nhau lại có thể chuyển đổi được cho nhau, nói
nôm na như nước với lửa, hòn đá với cái cây, ý tưởng với sự vật chẳng hạn.
Vậy
mà mọi vật trên đời đã luôn có, nhiều nguyên nhân vẫn còn tiềm ẩn, không bất kỳ
con người nào tạo nên nó cả. Ví dụ như tính hữu lý, nguyên lý nhân quả, tính
cách giống tính tức phái tính, các ý nghĩa và giá trị xã hội mà ai cũng phải
tôn trọng. Mọi cái đó hoàn toàn không thể chỉ giản lược vào vật chất, không thể
chỉ quy kết vào biện chứng duy vật, cả nhiều sự kiện xã hội không thể giản lược
vào duy vật lịch sử mà có thể tạo ra nó. Vì cái khác nhau ở đây chính là chủ thể
ý thức, chủ thể con người. Ngay cả loài vật, đó cũng là những thứ chủ thể ý thức
nhưng ở tầm thấp, ở trình độ tự nhiên hoang dã, không như xã hội đã thuộc về tầng
cao, thuộc về ý nghĩa văn minh, tinh thần, văn hóa và nhân bản. Có nghĩa chính
những khía cạnh tranh đấu ý thức đã làm cho xã hội phát triển mà không phải chỉ
thuần túy là sự vận động hay sự chuyển động vật chất mà Mác và Engels quan niệm.
Chủ
nghĩa duy vật thật ra chỉ là chủ nghĩa cảm tính hay kiểu một thị hiếu cảm tính.
Đó là kiểu ngắt đầu ngắt đuôi, chỉ lấy khúc hiện tượng quan sát bề ngoài ở giữa
và tinh chắc như vậy, kết luận như vậy. Đó chẳng qua chỉ là kiểu triết học
trích đoạn, sự lười nhác nông cạn về tư duy, và chính Trần Đức Thảo cũng không
đi ra ngoài chiều hướng như thế. Kiểu thấy chung quanh ta chỉ là sự vật vật chất,
chỉ là thế giới vật chất, thậm chí chỉ là vũ trụ vật chất và quy mọi kết luận
chỉ vào điều đó thế thôi nhưng không hề đặt vấn đề nào xa hơn, sâu hơn, toàn diện
hay bao quát hơn. Nói khác đi, tinh thần triết học của Trần Đức Thảo chưa chín,
nó chỉ là niềm tin bợt chợt vào thuyết duy vật của Mác rồi trước sau thảy đều
bám víu, diễn đạt theo đó mà không hề đưa ra được cái gì của riêng mình cả.
Cứ
lấy ví dụ như hai hòn đá đập vào nhau, chỉ khiến gây ra tiếng động, tóe lửa,
hay chúng vỡ đi, mà không tạo ra được điều gì khác. Hai thân xác đập vào nhau
thì cũng chỉ có thế, có điều kết quả mềm hơn, ít khốc liệt hơn và chỉ thế thôi.
Nhưng hai hòn đá không thể đập vào nhau nếu không có động lực khách quan bên
ngoài hay thiên nhiên nào đó tác động vào. Hai thân thể đập vào nhau cũng thế,
nếu sự va chạm không phải do ngoại lực tác động, ít ra phải có phần chủ động
nào đó của ý thức bên trong, tức có ý chí của não bộ tác động dẫn dắt mà không
thể tự mình thân xác có. Như vậy rõ ràng chủ thể tính là điều quan trọng trong
thế giới sự sống, trong thế giới sinh vật mà không hề kiểu toàn như thuần túy vật
chất thô. Những loài thú dữ săn mồi, con mồi phải chạy để không bị bắt được, mọi
điều chỉ đơn giản như vậy. Ngay giới thực vật cũng có chủ thể tính riêng nơi từng
đơn vị giống loài của mình. Chỉ có đá sỏi là vật chất chai ỳ hoàn toàn khác hẳn.
Nên
ngay trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người, ban đầu là mọi tác động của
chủ thể sinh vật ở tầm thấp, rồi dần dần được nâng cao lên, tích tụ dần dần ở
các mức cao hơn, không phải chỉ đơn thuần là hệ lụy của nguyên lý chuỗi thức ăn
hay quyền lợi kinh tế vật chất duy nhất mà Mác nổ lực chứng tỏ và chính Thảo
hoàn toàn tâm đắc. Dĩ nhiên mọi sự tiến hóa và phát triển đi lên đó không phải
chỉ bản thân tác động kiểu hiện tượng rời rạc gây nên từ bên ngoài, mà chính là
sự kết cấu nào đó được phát triển ra từ bên trong, được phát huy, nâng cấp lên
từ bên trong. Một cái cây ra hoa ra trái, không hề là sự cấu thành từ thân lá
bên ngoài, mà chính là sự triển khai ngấm ngầm từ bản thân bên trong của nó.
Ngày nay khoa học đều biết đó chính nhờ cơ chế gien mà nó đã chứa đựng ngay từ
đầu đã lập trình hóa ra từ bản thân chính nó, cây hồng không thể cho hoa lài
hay hoa huệ, cây bưởi không thể cho ra bông trái ổi, hay là hoa trái chanh, đều
hoàn toàn như thế.
Nên
từ khi có xã hội văn minh, đấu tranh ý thức, đấu tranh chủ thể mới là điều đầu
tiên mà không phải chỉ là đấu tranh thân xác, đấu tranh vật chất, đấu tranh
kinh tế mà Mác luôn chỉ nhìn một cách hời hợt nông cạn mà Thảo cũng không hề vượt
được lên trên mọi điều đó. Đương nhiên thân xác, vật chất luôn luôn là điều kiện
cần nhưng không bao giờ là điều kiện đủ. Trong một nghĩa địa các thân xác không
hề đấu tranh nhau, chúng chỉ rã mục và tiêu tán đi. Trong một xã hội con người
không chỉ duy đấu tranh vì mục tiêu kinh tế mà còn cả nhiều mục tiêu tinh thần
khác nhau. Pháp luật bởi vậy là mặt cần để điều hòa tất cả, nhưng ngược lại
pháp luật vẫn có thể bị lợi dụng cho mục tiêu của chính kẻ mạnh. Việc tranh bá
đồ vương trong xã hội phong kiến, quân chủ cũng không ngoài những kèn cựa như vậy.
Đó là tham vọng của những cá nhân con người, nhiều lúc chỉ là lợi ích cá nhân tầm
thường, nhưng cũng không ngoài nhiều mục tiêu cộng đồng cao cả hơn, điều này
trong lịch sử đều cho thấy mà không thuần chỉ là đấu tranh giai cấp như Mác phô
diễn. Tất cả mọi điều đó Trần Đức Thảo không hề thấy mà chỉ như một cậu học trò
nhỏ chỉ biết luôn đi theo cắp rương cho Mác.
Vậy
nên lịch sử luôn luôn diễn tiến, có khi chủ quan, có khi khách quan, nói chung
là đều hội tụ bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải thuần chỉ giản lược
vào đấu tranh quyền lợi giai cấp như Mác chỉ thấy và hầu tin như thế. Cho nên tới
khi khoa học kỹ thuật phát triển, tức nhận thức con người đã vươn lên tầm vóc mới,
chính tinh thần, trí tuệ con người mới là điều quyết định mà không còn thuần là
lợi ích vật chất nói chung như các giai đoạn thời kỳ trước. Tức là trí tuệ đã dần
dần tách ra khỏi sự mịt mùng của thế giới vật chất trước đó, điều đó khiến tinh
thần vươn lên, những mọi nền tảng bản năng cũ đều không thể xóa nhòa hay mai một.
Kiểu một lâu dài dầu cao bao nhiêu, dầu vương giả bao nhiêu, vẫn chỉ có thể xây
dựng trên chính nền móng của nó mà không thể xây dựng chỉ trên cát hay trên mây
là chính như vậy. Mác luôn chỉ nhìn thấy có một mà không nhìn thấy hết mười,
khiến quan niệm duy vật chỉ trở nên tầm thường, thấp kém, có khi phản cả nhân bản
là vì thế. Vậy nhưng Trần Đức Thảo cũng chỉ mù quáng vào duy một điều là gần
như vậy.
Mọi
cá nhân đều là thành phần của xã hội, chịu chi phối bởi mọi hoàn cảnh, điều kiện
khách quan tự nhiên của xã hội, đó chỉ đều chân lý tầm thường chẳng có gì ghê gớm
để Mác, Ănghen, Lênin cứ đồ đi đồ lại và Trần Đức Thảo cũng luôn theo sát nút
không ngoài điều đó. Thế nhưng xã hội là gì nếu không phải từ mọi thành phần cá
nhân hợp lại, và mỗi cá nhân là gì nếu không ngoài ý thức chủ thể ở trng chính thân
xác của người đó. Dĩ nhiên không có ý thức, tinh thần, chủ thể tính nếu không
có thân xác. Nhưng khi ý thức, tinh thần, chủ thể tính đó đã ra đi, thân xác
còn lại cũng chỉ có thể đem chon ngoài nghĩa địa hay hỏa thiêu đi mà không thể
làm gì khác. Thế thì cái nào quan trọng hơn ở đây, tinh thần hay thân xác, cái
nào có trước cái nào, như kiểu Mác, Ănghen, Lênin hoài lặp đi lặp lại, và Thảo
cũng không hề ra khỏi chính con đường mòn đó ? Cứ kiểu duy vật thì cho là vật
chất có trước, duy tâm thì cho là tinh thần có trước, cuối cùng thử hỏi ai thắng
hay ai thưa ?
Thành
nên cuối cùng chỉ kiểu nhìn duy một chiều rồi tự cho mình mới là kẻ ưu việt,
chiến thắng, cả duy vật hay duy tâm thuần túy đều kiểu sật sừ như vậy. Nói như
vậy không hẳn là ba phải, lưng chừng hay lừng khừng kiểu ba rọi hay kiểu nửa chừng
xuấn, mà chính là cách nhìn tông thể, cái lý bao quát nhất mà cả ngàn năm trước
chính người xưa đã thấy. Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn
vật. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát
quái, từ đó muôn loài xuất hiện v.v… Thế thì cái “Đạo” đó là gì ? Là bản thân vật
thể hay chủ thể, là bản thể thuần túy hay chủ thể thuần túy, hay cả hai cùng là
một, như trong những bài trước có lần tôi đã nói, đó là cái Substanz-Subjekt
(substance-subject, substance-sujet), như là cái tồn tại thực chất nhất. Đó
cũng là cái mà từ ngàn xưa Lão tử đã nói, đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả
danh phi thường danh, vô danh thiên địa chỉ thỉ, hữu danh vận vật chi mẫu … thử
lưỡng giả đồng, xuất chi nhị danh, đồng vị chi huyền, huyền chi hựu huyền,
chúng diệu chi môn.
Nên
đừng nghĩ Đạo là bản thể trừu tượng, không phải như vậy. Chính trong cái trừu
tượng đã có mầm mống cái cụ thể, và trong cái cụ thể luôn luôn có bản chất là
cái trừu tượng, thế thôi. Con người ban đầu đi từ thế giới vật thể, rồi chuyển
qua thế giới phân tử, chuyển qua thế giới nguyên tử, rồi thế giới hạt cơ bản,
tiến vào khái niệm trường vật chất, đồng thời cũng quay về thế giới hợp nhất mọi
lực vào một, đi tới nguyên lý sóng hạt, đi tới phản hạt, đi tới phản vật chất,
đi tới nguyên lý bất định v.v… và chắc cũng sẽ còn đi tới nữa, không bao giờ là
điểm dừng được cả. Ngay cả khái niệm không gian và thời gian cũng đã từng được
hợp nhất vào khái niệm Không-thời (Temps-espace) mà Thuyết tương đối của
Einstein đã từng khai sáng. Lênin xưa đã từng chế diễu điều gọi là “vật chất biến
mất”, nhưng điều đó giờ đây đã thành sự thật. Tức vật chất quả đã biến mất
trong mọi hình thức đặc thù của nó, chủ nghĩa duy nghiệm đã được đưa lên một nấc,
và mọi quan niệm duy vật tầm thường đã trở thành non dại và ấu trĩ.
Trần
Đức Thảo buổi ban đầu đã chủ tâm nghiên cứu Hiện tượng luận của Husserl, một
triết gia duy tâm đức, nhưng cuối cùng mục đích nghiên cứu Husserl của Thảo
không phải nhằm ý nghĩa triết học thực sự, mà chủ yếu Thảo vẫn cho Husserl là
duy tâm hằm tìm cách phủ nhận và đánh đổ nó, bởi điều dễ hiểu là Thảo chỉ có
thuần thành theo Mác, theo duy vật biện chứng của Mác còn ngoài ra không còn
nhìn thấy trời đất trăng sao nào cả. Thật ra ông ta kiểu tự xem mình như một
cán bộ mác xít mà chẳng có tư duy, tư tưởng gì độc lập, ngoài mục đích minh họa,
biện hộ, giải bày, hay chỉ cốt phục vụ làm sao cho hiệu lực nhất quan niệm duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của cả ba ông thầy mình Mác, Engels và Lênin,
điều này rất tháy rõ Thảo đều chỉ biết trích dẫn để làm cơ sở và minh chứng tư
duy của ba ông đó như chính là tư duy của Thảo, không bao giờ dám đi trệt ra một
chút nào cả thảy.
Trần
Đức Thảo viết : “Dans PHÉNOMÉNOLOGIE
ET MATÉRIALISME DIALECTIQUE, au moment même où les contradictions
internes de l’oeuvre de Husserl m’obligeaient à la liquider, j’ai cru pouvoir
prendre modèle sur la critique positive de Hegel par les classiques du
marxisme-léninisme, pour chercher à garder dans une certaine mesure la méthode
phénoménologique en la débarrassant de l’idéalisme husserlien, et la «remettre
sur les pieds» en l’intégrant comme un moment dans la dialectique matérialiste”
(“Trong cuốn Hiện tượng luận và Duy vật biện chứng, chính vào lúc những mâu thuẫn
hàm chứa trong tác phẩm của Husserl bắt buộc tôi phải giải quyết nó, tôi đã tin
tưởng có thể dùng mẫu mực nơi sự phê phán tích cực về Hegel bởi các nhà kinh điển
mác xít- lêninít, để nhằm tìm kiếm giữ lại theo một chừng mực nào đó phương
pháp hiện tượng luận bằng cách loại bỏ đi quan điểm duy tâm của Husserl, và “và
đặt nó lại trên đôi chần chính nó” nhằm hội nhập nó vào như là một bộ phận của
Duy vật biện chứng luận”).
Chỉ
riêng câu này thôi đã cho thấy tính nô lệ một chiều và sự ngớ ngẩn của Trần Đức
Thảo. Ông ta bắt chước y hệt ý tưởng và câu nói trước kia của chính Mác khi
khai thác Hegel. Tức chỉ rút ra phương pháp biện chứng còn loại bỏ đi hệ thống
duy tâm Hegel, bằng biện pháp “lật ngược Hegel lại, để giúp Hegel đi bằng chân
mà không còn chỉ đi bằng đầu nữa”. Thế nhưng chính Mác lại quên rằng, một
phương pháp nào đó khi đã gắn chặt thiết yếu với bản thân hệ thống đó, không thể
được rút ra để gắn vào hay áp dụng cho một hệ thống khác mà bản thân hoàn toàn
trái ngược. Ví dụ không thể dùng nguyên lý bộ máy kim loại để hoàn toàn áp dụng
vào cho bộ máy bằng gỗ hay bằng tre, không thể thay bản chất của nước vào cho bản
chất của lửa, không thể thay nguyên lý vật cứng vào cho nguyên lý vật mềm,
không thể thay nguyên lý vật chất thuần cho cơ thể sinh học, không thể thay sự
vật cụ thể vào cho ý tưởng chỉ có trong đầu óc v.v…Cũng như không thể lật ngược
chai rượu để biến nó ra nước hay ra giấm được.
Hegel
duy tâm không thể lật ngược để biến thành ra duy vật. Hegel đi bằng đầu chỉ là
lối nói để ám chỉ Hegel thừa nhận sự siêu việt về tinh thần như là điều gì tiên
phong quyết định, trong khi Mác chỉ thừa nhận duy vật chất là tồn tại duy nhất,
tức Mác chỉ đi bằng chân. Nhưng thử hỏi chân mà không có đầu, đầu không có óc,
óc không có tư duy, chủ thể tính, vậy thì chân có tự bước được không. Chính điều
nông cạn, thô kệch, ngây dại đó của Mác mà Cả Engels, Lênin đều không nhìn thấy
ra, huống gì là Trần Đức Thảo, bởi ông ta chỉ nhằm đi theo đúng bước chân của
người trước mà có đâu tư duy, ý nghĩ độc lập của mình. Thành nên bắt chước
phương cách đó để rút ra phương pháp hiện tượng luận của Husserl, nhằm bác bỏ
quan điểm duy tâm của Husserl, để biến ông này thành như bộ phận, môn đồ của duy vật lịch sử mác xít-leninít như ông
ta nói thật là hết sức ngây thơ và ngờ nghệch. Đấy “triết gia” Trần Đức Thào là
như thế đó.
Ông
ta viết tiếp: “la phénoménologie pouvait être «aufgehoben»:
supprimée, conservée, dépassée, bref absorbée de manière positive dans le
marxisme” (“Hiện tượng luận Husserl có thể bị vượt lên, bị bỏ đi, được giữ lại và bị
vượt qua, nói chung là bằng cách đưa vào một cách tích cực trong tư tưởng chủ
nghĩa Mác”). Ý muốn nói thực tiển (praxis) phải tất yếu là duy vật, thế giới
quan và nhân sinh quan cũng phải như vậy, nên phải loại bỏ tính duy tâm trong
Hiện tượng luận nhằm đưa nó vào thuần túy chỉ như một bộ phận nội dung trong học
thuyết Mác. Đây thật sự cũng chỉ là việc đem râu ông nọ cắm cằm bà kia như Mác
từng đã làm và nay Trần Đức Thảo lại bắt chước y hệt. Đấy công trình nghiên cứu
Hiện tượng luận Husserl buổi ban đầu của Thảo nhằm mục đích cuối cùng là như thế,
điều đó cho thấy ông ta thật sự chỉ là kiểu cán bộ tư tưởng theo cách cuồng
tín, không hề bao giờ là nhà tư duy hay triết gia hoàn toàn độc lập riêng mình
được.
Ông
ta lý giải “le projet si séduisant d’une Aufhebung comme
suppression et en même temps absorption et intégration de Husserl dans Marx,
conçu sur le modèle de la Aufhebung” (“Kế hoạch
thật hấp dẫn của một Aufhebung như là sự loại bỏ đi nhưng cùng lúc là sự hấp thụ và hội nhập của
Husserl vào trong Mác, được thừa nhận như là mô thức của Aufhebung”).
Tức Thảo đã biến cái Aufhebung, như Mác đã làm với Hegel, nay cũng được đem làm với Husserl, ý
như kiểu mượn đầu heo nấu cháo, và hiểu thực tiển
theo kiểu thực tiển áp đặt một chiều đầy sự giản lược, cảm quan và thị hiếu chẳng
giống ai cả. Thật ra ý niệm Aufhebung do Hegel đưa ra chỉ có thể áp dụng được cho tinh thần, ý thức, hoặc cả
ý nghĩa sự sống (Leben, life, vie) còn không thể nao áp dụng cho vật chất thuần
túy được (Materie, matter, matière) vì thực thể nầy hoàn toàn không hề có tính
chủ thể (Subjektivität, subjectivity, subjectivité).
Cái ngố nhất của ông Thảo chính là ở chỗ này.
Tiếp
đến ông ta viết : “la démonstration de l’origine matérielle de la
conscience, ce qui écartait a limine toutes les théories de la
transcendance” (Sự chứng minh về nguồn gốc vật chất của
ý thức đã tuyệt đối loại bỏ mọi lý
thuyết về siêu việt). Điều này dĩ nhiên không cần phải nói, bởi chỉ thừa nhận
duy nhất sự tồn tại vật chất, thì ngoài ra còn bất kỳ cái nào khác nữa. Đây
cũng chính là sự ngây thơ của Thảo, còn “chứng minh” là như thế nào ? Khoa học
nào đã chứng minh được chưa ? Hay thực chất chỉ là suy sự suy nghĩ giản đơn, một
chiều, quy chụp ? Thành nên trước kia Mác đã phủ nhận tất cả mọi ý nghĩa gì gọi
là tinh thần, Mác cho đó đều chỉ là sự vận động thần kinh trong óc não phản ảnh
ra, kiểu chỉ là thượng tầng kiến trúc mang tính chất “ý thức hệ”, là sự phản
ánh điều kiện kinh tế xã hội từ ngoài vào mà không ý nghĩa gì cả. Mác cho đó chỉ
là sự vong thân ý thức (aliénation de la conscience), chỉ là sự vận động vật chất
trong óc não mà không gì khác. Nhưng thế sao còn bảo là “vong thân” được thảy.
Thành ra lý thuyết Mác đầy những sự mâu thuẫn nghịch lý như thế mà Trần Đức Thảo
vẫn không hề thấy, chỉ nói bừa nói bướng một chiều theo ông thầy mình đã tin tưởng.
Bởi
vậy ông ta nói huỵch tẹt : “Hegel fournissait des indications utiles puisqu’il avait visé le même processus historique.
Mais le rétablissement lui-même n’a
été possible qu’en prenant et en décrivant ce processus dans sa réalité propre,
ce qui impliquait une élaboration absolument originale de la méthode
dialectique, une création radicale où les catégories du mouvement se
définissent directement sur le mouvement même de la matière dans sa structure
réelle, «de sorte que la vie de la matière se réfléchit dans sa reproduction
idéale» (LE
CAPITAL, Postface de la
deuxième édition). Et si l’on y retrouve le «noyau rationnel» de la dialectique hégélienne, ce
noyau lui-même ne peut se définir correctement qu’en langage marxiste, non
hégélien”. Tức có nghĩa đây là sự “duy vật hóa”
Hegel một cách toàn diện và tuyệt đối, cả phương thức biện chứng luận nữa cũng
bị đem duy vật hóa luôn. Đoạn văn này hơi dài, nhưng quan trọng và thiết yếu,
song xin ai biết tiếng Pháp thì nên đọc hiểu, tôi không buồn dịch ra tiếng Việt
nữa, bởi chung quy nội dung nó cũng chỉ có luẩn quẩn như vậy, không có gì khác.
Cả
phần tiếp đến, khi bàn về quan điểm ngữ học của nhà ngữ học Ferdinand de
Saussure (LE SAUSSURISME),
Thảo cũng quy giản tất cả mọi điều phân tích về ngữ học, ngữ nghĩa của Saussure
chỉ đều là những sự trao đổi (exchange) của các ký hiệu vật chất, cả trên
phương diện biện chứng luận duy vật mà không có gì ngoài ra cả. Mác không thừa
nhận trong đó có những ý nghĩa tâm lý ý thức hay tinh thần nào khác nhau, mà chỉ
thuần túy là những biểu hiệu vật chất phát triển nên. Phần này Thảo phân tích
tuy có hơi dài, nhưng tựu trung không ngoài ý đồ và mục đích của ông là là nhằm
gom vào duy nhất trong quan điểm duy vật và loại bỏ hẳn mọi phần phân tích mang
tính duy tâm nào đó mà Saussure muốn hướng tới. Như vậy cả ngôn ngữ ông ta cũng
không cho là có mang ý nghĩa hay nội dung tiềm ẩn nào cả, ông đồng hóa ký hiệu
ngôn ngữ nơi loài vật cũng không khác ý nghĩa ngôn ngữ nơi loài người là mấy, tức
không ra ngoài một hệ thống ký hiệu vật chất và sự giao thoa, trao đổi giữa
chúng với nhau nào đó, chẳng khác ý nghĩa về hàng hóa mà trong Tư bản luận Mác
đã từng đưa ra phân tích.
Như
vậy cũng có nghĩa vì duy vật hóa tất cả, ông Thảo cũng theo Mác phủ nhận mọi
cái gì về tinh thần mà xã hội loài người từng có, cả như ngôn ngữ, tư tưởng và
ý thức đạo đức. Mác cho đó chỉ đều duy là sản phẩm của vật chất vận động bên
ngoài phản chiếu vào não trạng của con người. Nó chỉ là sản phẩm thuần túy phản
ảnh. Nói đúng ra, tất cả mọi cái đó trong xã hội tư sản cũng chỉ là sản phẩm của
tư sản. Và đạo đức truyền thống mọi loại, ông Thảo cũng tin theo Mác, quy cho
là đạo đức kiểu tư sản. Mác chủ trương phải loại bỏ tất cả đi, thay vào duy nhất
thứ đạo đức vô sản, tức đạo đức cách mạng, đoạn tuyệt, xóa bỏ mọi nền nếp cũ nhằm
xây lên hệ đạo đức mới, là hệ đạo đức theo kiểu hoàn toàn vô sản, đạo đức của
thành phần giai cấp mới vô sản. Ở đây rõ rang ta thấy quan điểm hoàn toàn cực
đoan của Mác, không nhìn thấy mọi ý nghĩa giá trị tiềm ẩn, nhân văn của con
ngwoif mà chỉ nhìn thấy yếu tố duy vật chất, yếu tố duy giai cấp mà chính sự vận
động lịch sử biện chứng của vật chất mang lại duy nhất thế thôi. Quan điểm phi
lý đó thực chất chẳng khác gì quan điểm hư vô hóa, phi nhân bản hóa, hoàn toàn
tiêu cực trên bình diện con người và lịch sử xã hội loài người mà Trần Đức Thảo
vẫn chưa hồi nào nhìn thấy.
Thế
nên ông Thảo viết : “La dialectique
matérialiste étant la «reproduction idéale de la vie de la matière» (Marx), ou
encore «le reflet exact du développement de l’univers» ou reflet exact de «la
dialectique des choses elles-mêmes» (Lénine), son application à la théorie de
la conscience consistera évidemment à reproduire exactement le mouvement
dialectique réel, par lequel, à partir des rapports matériels entre l’homme et
le monde dans la pratique sociale, se constitue, avec ses trois relations
fondamentales, le rapport vécu de la conscience, à travers ses sensations, à ce
monde extérieur lui-même”.
Tức
quanh đi quẩn lại, Trần Đức Thảo cũng chỉ hiểu hay chỉ thừa nhận chửng chuyện
mà không gì khác. Thế giới ngoại vật chỉ là mọi sự tương quan vật chất giữa
chúng với nhau. Các tương quan này kể cả những tương quan vật chất cụ thể khác
nữa trong xã hội tạo nên sự phản ảnh nhất định nào đó trong não bộ con người mà
đưa đến sự xuất hiện của ý thức (conscience) mà không gì khác cả. Tức ý thức nhận
thức sự vật cũng chỉ là một trạng thái vật chất, một bản thể vật chất duy nhất
đó thế thôi. Thảo trưng dẫn điều đó chính Mác và Lênin cũng đã nói như vậy. Ông
ta còn khẳng định “La conscience est donc d’emblée un produit social» (IDÉOLOGIE
ALLEMANDE, Ed. sociales, p. 59)". Và cuối cùng ông ta cũng
chỉ nại ra Mác để cho rằng «Ý thức như vậy trước hết là một sản phẩm xã
hội » còn ngoài ra không là gì cả.
Tiếp theo, sau
khi phân tích vòng vo các nội dung ý thức chủ thể (intentioalité) mà
Husserl đưa ra trong nhận định về ý thức như là nội dung đích thực hay quan
trọng nhất của ý thức, cuối cùng ông Thảo cũng vẫn chỉ nói : «J’ai cru pouvoir placer ce mouvement
sémiotique matériel ou plus brièvement cette sémiotique matérielle, sous le concept, créé par Marx, du langage
de la vie réelle: «La
production des idées, des représentations, de la conscience, est tout d’abord immédiatement
entrelacée dans l’activité matérielle et les relations matérielles des hommes,
dans le langage de la vie réelle. La représentation, la pensée, les relations
spirituelles des hommes apparaissent encore ici comme l’émanation directe de
leur comportement matériel». Cũng không ngoài mọi điều gì xảy ra trong ý
thức và ngữ nghĩa đều không qua đó là những tương quan cùng sự vận động của các
yếu tố vật chất, phản ảnh các thực tại vận động của vật chất nơi thực tại khách
quan và thực tại xã hội thế thôi.
Nên
nói cho cùng, mọi bài viết hay mọi tác phẩm về triết học của Trần Đức Thảo đều
không bao giờ ra khỏi cái khuôn thước đã định của quan điểm triết học duy vật
đã định của Mác. Có điều ông Thảo không thấy đó chỉ là quan điểm triết học hết
sức tầm thường, bởi vì quy tất cả về vật chất thì đâu còn nghĩa lý gì, khác nào
sổ toẹt cả lịch sử, cả thế giới, con người và xã hội. Bởi nếu như vậy thì còn
có ý nghĩa hay giá trị gì để nhằm “giải phóng” giai cấp, giải phóng con người,
giải phóng xã hội, mà chẳng qua chỉ là sự ngụy biện, giả dối. Vả chăng cơ sở
nào toàn diện để nhận định mọi thực tại chỉ là vật chất. Nhìn thấy một mặt của
sự vật, lấy lý do nào để kết luận đầy đủ về các mặt khác.
Đó
là chưa nói nhét khái niệm biện chứng vào cho vật chất thuần túy chỉ là sự nông
cạn và ngốc nghếch. Từ đó thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác
thật sự chỉ là một sự chuyên đoán, không mang ý nghĩa khoa học khách quan hay
nhân văn nào cả. Tư tưởng của Trần Đức Thảo chỉ hoàn toàn dựa vào đó cho thấy bản
chất hết sức nghèo nàn và nông cạn. Nên khi phi bác, phủ nhận biện chứng luận của
Husserl, Mác chỉ làm một việc đơn thuần là nhu cầu thị hiếu, ý thức cảm tính, mục
đích định kiến mà không có chiều sâu khách quan nào cả. Ông thảo hoàn toàn
không thấy ra hay không đánh giá đúng đắn chút nào về ý hướng tính (intentionalité) như là tính quyết định của
chủ thể tính mà Husserl đã nổ lực khai phá ra. Bởi đây mới chính là ý nghĩa hay
yếu tố phân biệt giữa tinh thần và vật chất, giữa sự sống và chất thể chai lỳ,
giữa thế giới vô tri, thế giới sự sống, cũng như thế giới loài vật và thế giới
loài người. Và Trần Đức Thảo cũng không hề có chút tinh tế, sâu sắc nào trong
tư tưởng, trong tư duy triết học của mình để hoàn toàn nhận thấy ra được tất cả
mọi điều đó.
By
VÕ HƯNG THANH
(04/9/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét