NÓI
VỀ SỰ NGHIỆP TRÍ THỨC CỦA DÂN TỘC, ĐẤT NƯỚC
TA
TỪ SAU CÁCH MẠNG 1945 ĐẾN NAY
Nhà yêu
nước vĩ đại Phan Chu Trinh (1872-1926), ngoài những hoạt động thiết thực, cụ thể
của mình trong sự đấu tranh chống ách đô hộ thực dân Pháp khi ấy, như vận động
duy tân, cắt tóc ngắn, chống sưu thuế v.v… thì sự nghiệp lớn lao nhất của ông
còn để mãi đến ngày nay. và cả muôn đời mai sau, chính là tư tưởng và mục đích
chính trị cao cả, tầm vóc nhất : “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”,
như là một chân lý xã hội chính trị thực tế, ý nghĩa và giá trị nhất, mà muôn đời
luôn tỏ hữu ích, và cũng không bao giờ mai một hay bị đào thải được.
Ngày nay khi nghe nói đến quan điểm đó, một số
người có thể nhìn thấy chỉ là bình thường, ai cũng có thể thấy hay nói ra được,
nhưng ở thời Phan Chu Trinh quả thật là một sự đúc kết tiêu biểu và đầy lòng
tâm huyết với dân với nước mới có thể khai phá ra được điều đó. Phan Chu Trinh
là người vượt lên thời đại, đi trước thời đại mới có thể có được tầm suy nghĩ
sâu sắc và cao xa như thế. Bởi trong lúc Phan Bội Châu tìm mọi cách chống Pháp
bằng bạo lực nhằm giải phóng đất nước, thì Phan Chu Trinh lại suy nghĩ căn cơ
hơn, gốc nền hơn, thiết yếu hơn, mà lại có thể hiệu quả lâu dài, vững chắc hơn.
Ai cũng
biết Phan Sào Nam vì nôn nóng giải phóng dân tộc, nên cả có thể mượn thế lực nước
ngoài là Nhật bản lúc đó để làm đồng minh đánh Pháp. Nhưng Tây Hồ lại cho đó là
mưu kế cạn, ảo tưởng, dễ dàng rơi vào chỗ đuổi beo trước rước cọp sau lưng, và
điều đó về sau quả không khác, khi quân Nhật nhân danh chính sách chủ trương Đại
Đông Á để vào đảo chánh hất cẳng Pháp, đặt ách thống trị của mình lên đất nước
ta để nhằm chống lại phe Đồng Minh. Cũng như cuộc cách mạng của các anh hùng
Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học và nhiều người khác nữa quyết tâm dùng vũ lực
cuối cùng đều phải thất bại, bởi vì lực lượng của ta chống Pháp khi ấy chẳng
khác gì lấy trứng chọi đá, bởi vì sự chênh lệch giữa hai bên về rất nhiều mặt.
Vậy
nhưng một vài tay cán bộ quần chúng kiểu như nhà văn Vũ Hạnh đã từng một thời
theo đuôi mạt sát, lến án, chưởi bới Phan Tây Hồ coi như một người cải lương,
hòa hoãn với Pháp, chẳng khác một kẻ tay sai cho Pháp, một kẻ phản động, bởi
theo Nguyễn Đức Dũng, phải cần kiểu cán bộ tay sai Việt Minh ngay từ đầu mới thật
sự kiểu kiên cường cách mạng, còn mọi giải pháp khác đều là nhượng bộ, đầu hang
địch. Đây là điều hoàn toàn khác nhau giữa nhân cách của con người trí thức, độc
lập, cao cả kiểu Phan Chu Trinh và dám cán bộ quần chúng cách mạng ngu dốt theo
đuôi kiểu như Vũ Hạnh. Sự khác nhau giữa nhân cách trí thức như Phan Chu Trinh,
Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám … hoàn toàn khác với đám quần
chúng ngu dốt theo đuổi kiểu như Vũ Hạnh.
Thế nên
cái khác giữa trí thức yêu nước và quần chúng thấp kém là như thế. Trí thức yêu
nước có thể trở nên những nhân cách lãnh đạo, còn quần chúng theo đuôi thật ra
chẳng bao giờ lãnh đạo ai được cả mà chỉ là lực lượng được lãnh đạo hay bị lãnh
đạo. Nói như thế để thấy rằng chính ý thức nhận thức độc lập, nhân cách trong
sáng, tự chủ mới luôn luôn là sức mạnh vững chãi, sâu xa nhất của một đất nước
và dân tộc trong mọi thời đại mà không phải chỉ loại quần chúng dua được thổi
lên để nhằm lợi dụng, biến thành đám tay sai cho những cá nhân hay tập đoàn nào
đó. Chính vì điều đó mà câu nói hay nguyện ước của Phan Chu Trinh mới thật sự
sâu sắc, nhìn xa thấy rộng, không giống bất kỳ những đầu óc chính trị tầm thường,
thấp kém hay thiển cận nào.
Bởi vì
Phan Chu Trinh nhìn ra dân trí như là yếu tố sức mạnh căn bản, nền móng sâu xa
nhất của một dân tộc, dân khí cũng luôn tương tự như vậy, và cả hai yếu tố này
mới bảo đảm được chính nền tảng dân sinh như là mục tiêu và sức mạnh căn cơ nhất
để phát huy dân tộc và mở mang, củng cố đất nước. Không có lực lượng trí thức
thật sự đông đảo, không tìm cách trí thức hóa được toàn dân, thế thì dân trí
cũng có được gì, mà dân trí không có thì thật ra dân khí cũng cũng có được gì,
chỉ đều là đám quần chúng ô hợp để sai khiến thì thật sự lực lượng nào mới lãnh
đạo được xã hội, lãnh đao được đất nước mà chẳng qua chỉ đều những sản phẩm thừa
hành thế thôi. Cái sâu sắc nơi ý thức và nhận thức của Tây Hồ về sức mạnh thật
sự của dân tộc, đất nước là điều mà mọi người cạn nghĩ, đầu óc thấp kém đều
không thể nào nhận thấy ra được chính là như thế.
Cúng
tương tự như vậy, trong cuộc cách mạng cộng sản ở Trung Hoa, Chính Mao Trạch
Đông không ngần ngại tuyên bố “Trí thức chẳng đáng một cục phân” , hay có thời
kỳ cuộc cách mạng Xô Viết Nghệ Tỉnh ở nước từng chủ trương “Trí Phú Địa Hào,
đào tận gốc trốc tận rễ”, cũng không ngoài các khuynh hướng quá khích, mờ tối,
mùa quáng kiểu như vậy. Mà thực chất các quan điểm đó đều không ngoài tư tưởng
nền tảng về cộng sản của Mác từ ban đầu, tư tưởng trí thức đều là tư tưởng “tư
sản”. chỉ có tư tưởng cách mạng thật sự mới là tư tưởng đấu tranh giai cấp của
giới công nhân thợ thuyền mà thôi, tức “công nhân vô sản khắp thế giới phải
đoàn kết lại”. Chỉ có lực lượng công nhân vô sản mới là lực lượng tiên phong
lãnh đạo lịch sử, lãnh đạo xã hội mà không bất kỳ một lực lượng nào khác. Điều
này cho thấy tư tưởng cá nhân của Mác đã trở thành tư tưởng thống soái lãnh đạo
xã hội, mà không còn là chính lực lượng trí thức tiềm ẩn và bao gồm cả thảy sức
mạnh của mọi thành phần dân chúng cấu thành toàn bộ xã hội đó nữa.
Có
nghĩa tư tưởng cá nhân riêng tư của Mác thực chất ngay từ đầu đã được nhân danh
như ý nghĩa hay giá trị chân lý, như kim chỉ nam của toàn bộ cuộc cách mạng cộng
sản hay cách mạng vô sản trên toàn thế giới mà không là gì khác. Có điều tư tưởng
của Mác có khi nào được mang ra kiểm chứng cả đâu. Đó chẳng qua chỉ là niềm tin
một chiều, một khẳng định như nguyên tắc, như nguyên lý mù quáng mà chẳng còn
ai dám đặt vấn đề, chẳng còn ai dám nhận định ha phản biện lại bất kỳ khía cạnh,
ý nghĩa hay giá trị nào. Chỉ còn là tin và niềm tin chẳng khác nào là niềm tin
tôn giáo, trở thành kiểu giáo điều chính trj thuần túy, mà chẳng còn bất kỳ ý
nghĩa, giá trị khoa học nào, chẳng cần xem xét bất kỳ ý nghĩa, giá trị thực tế,
hay thực tiển, thực nghiệm nào. Dó nguyên lý duy nhất Mác đã đặt ra : độc tài hay
chuyên chính vô sản. Thế là quan điểm một chiều giai cấp đã vượt xa ra ngoài thực
tiển xã hội, vượt xa ra ngoài mọi chân lý khách quan lịch sử, chỉ còn toàn là
tư tưởng một cá nhân được áp đặt lên toàn thế giới, lên toàn nhân loại trong mọi
thời đại và trong mọi trường hợp.
Cái phi
lý hay thật sự nghịch lý của thuyết Mác là hoàn toàn như vậy. Bởi khi Mác đặt
ra thuyết “duy vật tuyệt đối”, đã chắc gì chân lý này là hoàn toàn khách quan
đúng đắn, mà không phải chỉ là loại thị hiếu hay cảm tính duy nhất của bản thân
Mác mà thôi. Vì luôn luôn chân lý khách quan là chân lý của mọi người, của toàn
xã hội, có phải đâu chỉ là “chân lý” của một người, một nhóm người nào đó và
nhân danh hay áp đặt thành chân lý của toàn xã hội hay ngay cả chân lý của toàn
lịch sử nói chung. Từ niềm tin cá nhân về chân lý duy vật tuyệt đối đó, Mác suy
đoán thêm ra duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. đều tự mình cương đại và tự
mình lý giải ra mọi mặt chỉ kiểu tư biện thuần túy một chiều mà chẳng có gì chứng
minh thực tế nguyên lý khách quan của nó cả. Ròi lại cái chốt cuối cùng vào
nguyên tắc “độc tài” hay “chuyên chính vô sản” thế là làm toàn bộ xã hội phải kẹt
cứng tất cả. Nói y như là sự thật, trở thành như phán quyết của toàn án lịch sử,
không ai được quyền phản kháng hay phản biện lại cả.
Như vậy
Các Mác mới chính là cái sai lầm đầu tiên của lịch sử nhân loại. Mọi người cộng
sản khác nhau từ trước đến nay hóa chỉ đều nạn nhân mà không gì khác. Bởi khởi
đầu họ tin vào những nguyên lý vô lý, như vật chất mà biện chứng, để cũng từ đó
mà tin luôn vào “các hỉnh thái xã hội” trong lịch sử, mà chẳng qua do suy diễn
ý thức hệ một chiều như là duy vật lịch sử chỉ do quan niệm cá nhân của Mác
nghĩ ra, mà chẳng hề nhận ra có điều gì mơ hồ, mâu thuẫn và nghịch lý trong đó
hay không, để cuối cùng rói vào cái ngàm “chuyên chính vô sản” thì tất cả đều
phải đánh bó tay chịu trận. Bởi vậy họ tất cả đều trở thành hệ lụy, trở thành sản
phẩm tất yếu của tư duy Các Mác mà chẳng còn chút tư tưởng, quan điêm, lập trường
nào độc lập của riêng nhận thức hay tư duy nào của riêng mình cả. Con người cá
nhân ở đây tất cả đều bị triệt tiêu, chỉ còn lại duy nhất là sản phẩm của “giai
cấp” thuần túy tưởng tượng, khuếch đại nên mà chẳng có bản chất nào thực chất
trong khách quan hiện hữu cả. Mọi con người cụ thể đều bị thay vào bằng chính
các phạm trù hư ảo của nó, con người thật bị hoàn toàn xóa bỏ, chỉ còn là hình
bóng mê hoặc của chính nó, vậy còn thế nào là nhân bản thật về mọi mặt cho được.
Do thế,
một thời kỳ dài trong quá khứ khi nói về nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc,
nhưng thực chất chỉ nhằm nói về đảng cộng sản Liên Xô và đảng cộng sản Trung Quốc.
Vả lại cũng chẳng phải thực chất là hai đảng đó, mà thật ra đó chỉ là cái công
cụ, cái bung xung cho toàn bộ các thành phần lãnh đạo chop bu mà không gì khác.
Nói cụ thể ta, chóp bu của cái chóp bu đó cũng chỉ là một kẻ nào cầm quyền cao
nhất mà ở đây chẳng khác nào Lênin và Mao Trạch Đông chẳng hạn. Như vậy thuyết
Mác thực chất chẳng mang lại ý nghĩa của một giai cấp nào cả, mà chỉ là vài cá
nhân nào đó thống lãnh chung của toàn xã hội. Thật đó không gì phi lý bằng. Bởi
cá nhân nào cũng đầy những bản năng trong lòng nó, nó có thể nhân danh dủ thứ
mà thật ra không ngoài chính bản thân của nó hay sự hiểu biết riêng tư nào đó của
nó. Điều đó có gì bảo đảm là chân lý khách quan của lịch xử, của xã hội, mà thật
ra đều của chỉ những cá nhân cầm quyền độc tài vô hạn. Sự tai hại của thuyết
Mác ở đây dối với xã hội là vây, bởi nó phủ nhận mọi con người tự do có thật,
phủ nhận mọi quyền tự do dân chủ chính đáng của bản thân mỗi người và của toàn
xã hội loài người chính là như thế.
Đó là
lý do trong mọi ngành khoa học nói chung, không phải chỉ nói lung tung trên bề
cạn, bề mặt, trên phần ngọn của vấn đề, mà phải nắm bắt cho được mọi nguyên lý
cơ bản, nền tảng nhất của nó. Có nắm bắt được như thế mới làm chủ được chính bản
thân khoa học đó, còn không đều chỉ là thả mồi bắt bóng, lập lờ phỉnh dụ chính
mình và phỉnh dụ người khác. Tức mọi nguyên lý chỉ tồn tại khi nó là khách
quan, bao quát, còn nếu không được, không đạt đến mọi ý nghĩa, giá trị đó, đều
chỉ là nói hươu nói vượn, ngụy tạo, phỉnh gạt , ngụy biện mà chẳng khi nào là ý
nghĩa hay giá trị thật cả. Học thuyết Mác nói chung trên mọi phương diện đều chỉ
có thế. Tức đều một kiểu ý thức hệ dựa trên nền tảng chủ quan, trên thị hiếu,
trên cảm tính đặc thù, mơ hồ mà chẳng bao giờ là chân lý đích thực hay xác đáng
nào hết. Sự huyễn tưởng trong bản thân Mác, sự huyễn tưởng mọi mặt của Mác về lịch
sử, con người và xã hội thực chất đều chỉ như thế. Đó chỉ là chân lý giả, một loại
khoa học giả, tức là giả khoa học mà không khi nào là khoa học hoàn toàn khách
quan, đích xác hay nghiêm túc cả. Ví dụ những nguyên lý cơ bản muôn đời của mọi
xã hội loài người là nguyên lý bình đẳng về phẩm chất mọi cá nhân, nguyên lý tự
do dân chủ, nguyên lý nam và nữ luôn tồn tại trong xã hội, nguyên lý nhận thức
là giá trị tuyệt đối cao nhất, nguyên lý đạo đức là nguyên lý phẩm hạnh tiêu biểu
nhất, nguyên lý quyền tư hữu chính đáng, nguyên lý bất bạo động trong đấu tranh
cũng là nguyên lý thiết yếu hay lý tưởng nhất … Tức đó là những nguyên lý mà xã
hội con người không thể bao giờ đi ngược được, đi ngược lại đều trở thành xuống
cấp, tiêu cực hay phá hoại.
Như vậy
cũng có nghĩa lịch sử xã hội luôn luôn biến chuyển qua mỗi thời đại theo từng
thời kỳ nhưng không thể hoàn toàn đột biến, phá bung ra cả thảy, nhưng truyền
thống hay nguyên lý khách quan luôn phải
được tôn trọng và giữ lại. Mác chỉ thừa nhận duy nhất là nguyên lý đấu tranh
giai cấp, nguyên lý vô sản hóa, nguyên lý độc tài chuyên chính, nguyên lý thời
kỳ quá độ … đều là những nguyên lý giả tạo, không hề khách quan nếu không nói
hoàn toàn phịa đặt chủ quan, giả tạo do chính nhận thức riêng tư của Mác. Đặt
biệt đây cũng là cản ngại phủ nhận mọi ý nghĩa tự do hay trí thức, nhận thức
khách quan của bản thân con người cũng như giá trị loài người. Nó tạo thành mọi
hiện tượng tha hóa xã hội, vong thân xã hội, bởi con người cá nhân không còn được
nhìn như những chủ thể tính chính đáng mà bị đưa xuống hàng vật thể, hàng công
cụ, hàng sinh học, loài vật, hàng vật chất thuần túy y như bản thân thuyết duy
vật nói chung của Mác. Nó luôn được coi là chân lý vô địch, bách chiến bách thắng, bởi con người tất
yếu đều bị quần chúng hóa theo kiểu đại trà, chỉ thành mọi công cụ huy động,
sai khiến, mà không còn là chủ nhân ông chính mình, không còn là chủ thể tính
chính mình. Từ đó nó cũng tạo thành một xã hội hoàn toàn giả dối, nói một đàng
làm một ngã, coi nhân dân quần chúng như rác cỏ, tuyên truyền hoàn toàn tùy tiện,
chẳng cần tôn trọng mọi chân lý khách quan gì nữa.
Bởi kiểu
“tất cả cho chiến thắng”, tất cả vì “chủ nghĩa xã hội”, “tất cả cho thiên đường
cộng sản”, và không ai được nói khác, trong khi đó, ngôn ngữ bề ngoài lại nói
“tất cả vì độc lập dân tộc”, “tất cả vì hạnh phúc của toàn dân”, “tất cả vì quyền
làm chủ của nhân dân”. Mục đích thật sự một nơi, nhưng lời nói và hành vi lại
theo một ngã khác, mọi ý nghĩa chính trị quanh quẹo đều chỉ là vậy. Nhân dân mọi
nước cộng sản đều phải nói theo, chẳng ai có quyền nhận xét khác đi hay có quyền
đưa ra ý kiến của mình nào cả. Lỗi này nói chung là lỗi của lý thuyết độc tài
vô sản của Mác ngay từ đầu, mọi người cộng sản về sau đều chỉ là sản phẩm bó buộc
tự nhiên mà chính họ cũng không có quyền lựa chọn nào khác cả. Tức nói chung đều
là xã hội dẹp bỏ trí thức, trí thức phải thành công cụ mà không còn là sức mạnh
riêng của bản thân họ, sức mạnh của toàn xã hội, sức mạnh của cả quôc gia dân tộc
nào nữa. Tát cả đều trở thành xuống cấp, đều chỉ biết nói theo, và khi xã hội
không còn trí thức thì xã hội đó trở thành như thế nào, dân tộc, đất nước đó đều
trở thành thé nào.
Nên nói
một cách khách quan, xã hội Việt Nam từ sau cách mạng cộng sản mùa thu năm 1945
tầng lớp trí thức thật sự đều không còn nữa. Họ chỉ biến thành lực lượng quần
chúng như bao lực lượng quần chúng khác, tức chỉ biết vâng lời và nói theo mà
không là gì khác. Thậm chí không những vâng lời, nói theo mà còn chỉ biết nói nịnh,
nói thụi, như điển hình nhất là tay Hoàng Chí Bảo bấy lâu nay mà ai cũng nhận
ra được. Đó không hề chút gì là trí thức đúng nghĩa mà chỉ là sản phẩm bầy đàn.
Một sản phẩm xu nịnh phi nhân cách và thấp kém tầm thường nhất. Nhưng quan trọng
nhất là cũng không còn giới sử học, hay giới khoa học tuyệt đối đúng nghĩa nữa,
kể từ năm 1954 ở Miền Bắc hoàn toàn cho đến nay. Bởi sử học đó thực chất chỉ là
lịch sử viết theo một chiều, phi nhân cách, phi ý thức, phi trách nhiệm. Nó khiến
trở thành một lỗ hổng, một con số không to tướng nếu so với những thời kỳ khác
nhau trước kia trong lịch sử đất nước và dân tộc. Tức nó đã bị chính trị hóa chính
thức về mọi mặt, một thức chính trị hóa mang màu sắc ý thức hệ cưỡng chế, chủ
quan của một số người cầm quyền mà không còn giá trị lịch sử, giá trị đất nước
hay giá trị dân tộc nào nữa cả. Điều này còn do sản phẩm của cả môt nền giáo dục
theo hướng đó từ A đến Z. Ở đây cũng cần mở ngoặc ra đề nói về ông Phạm Văn Đồng,
một người kể như chủ xị cả nền giáo dục đó kể từ năm 1945, biến nền giáo dục Miền
Bắc chỉ trở thành nền giáo dục ý thức hệ một chiều mà không hề khác. Trách nhiệm
của ông Phạm văn Đồng đối với nhu cầu đào tạo trí thức cho dân tộc thật sự là rất
đen tối mà sau này lịch sử chắc phải biết đến. Việc giảng dạy đó mọi mặt không
còn là khoa học giáo dục trong sáng, khách quan gì nữa, mà trở thành chỉ như một
hệ thống tuyên truyền chính trị một chiều về mọi mặt. Két quả đó cũng đã từng
xâm nhập kín đáo lặng lẽ vào cả Miền Nam trước đây, tạo thành một lực lượng
khuynh tả trí thức thuộc mọi thành phần, thậm chí còn tạo ra cả đám tay sai vô
ý thức chính trij, phi ý thức dân tộc như đám báo chí tả khuynh một thời hay
còn gọi là Lực Lượng thứ ba trước năm 1975 kiểu hoàn toàn thấp kém mà sau này
chắc lịch sử phải cần ghi nhận. Có cả những tên vô liêm sĩ sau này chạy sang Mỹ
hay nước ngoài như tên tên trung úy thủy quân lục chiến Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn
Phương Hùng, Lê Mạnh Cường, Hoàng Như Hùng v.v… chỉ toàn là thứ hạ cấp, xu nịnh.
chẳng có chút tinh thần dân tộc nào đích thực cả thảy.
Mới đây
nhất, tay Cù Huy Hà Vũ (mà đúng ra phải gọi là tên) đã cố tình viết một bài dài
nói về Trần Đức Thảo (07/5/2018 gởi cho BBC), với nội
dung nhằm bảo vệ “con người thật” của Trần Đức Thảo, hay nói đúng, để nhằm chống
lại cuốn “Trần Đức Thảo - Những Lời Trăn Trối” do nhà báo Tri Vũ – Phan Ngọc
Khuê biên soạn, ghi lại các tâm sự của ông Thảo sau khi ông này trở lại Pháp đầu
thập niên 1990. Thái độ cuống quit của Cù Huy Hà Vũ cho thấy tinh thần trí thức
của anh ta là như thế nào. Mọi người đọc không phải ngu mà cần Vũ đi giải độc,
ý nghĩa giải mã vè Tràn Đức Thảo cho thấy Vũ chẳng có chút tinh thần khoa học
khách quan nào cả. Chỉ vì tình cảm phe nhóm, vì cảm tính mà sẳn sàng muốn lái
dư luận xã hội đi theo mình. Vũ vốn là con trai của cố nhà thơ Huy Cận, là thư
ký riêng của ông Hồ từ 1945. Vũ làm ở Bộ ngoại giao Miền Bắc, sau được cho đi
tu nghiệp Tiến sĩ luật ở Pháp. Vũ luôn hãnh diện mình là Tiến sĩ luật học của
Paris, nhưng tinh thần thật sự của Vũ là khoe danh nhưng chẳng có trình độ chiều
sâu gì về khoa học luật học nào cả. Vũ đã từng nổi danh trong thời kỳ chống đối
nhau với cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chắc vì lý do kèn cựa nào đó, Vũ bị ông
Dũng lúc ấy co vào tù, ròi cuối cùng bị trục xuất qua Mỹ cho đến nay. Vũ từng
tuyên bố nhiều câu rất huêch hoang làm thiên hạ lác mắt nhưng thật ra chỉ kiều
đánh võ mồm vào gió, chẳng ai quan tâm nào cả. Đặc biệt khi còn bị tù Vũ say mê
vẽ chân dung của Bác, Mác Lê, ông Giáp, và từng tuyên bố một câu xanh rờn đến
này mọi người còn nhớ “Xin đồng bào sẽ hãy trả thù cho tôi”, thật là một ý tưởng
rỗng tuếch kiểu trẻ con, nói lên trình độ kiểu trí thức Miền Bắc của Vũ.
Về bài báo gời cho
BBC, Cù Huy Hà Vũ viết : “Về học thuật, Trần Đức Thảo là một nhà Mác xit. Để
khỏi chứng minh dài dòng, tôi lấy Trần Đức Thảo để định nghĩa Trần Đức Thảo. Trong
'Tiểu sử Trần Đức Thảo' tự biên, ông viết: "Tháng 8 năm 1951 tôi công bố
cuốn "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng" do Nhà xuất bản
Minh Tân phát hành. Cuốn sách này đánh dấu sự chuyển biến của tôi từ Hiện tượng
học đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên thực tế, tôi mới chỉ đạt tới ngưỡng cửa của Chủ nghĩa Mác. Tôi đã đi đến nhận
biết được chân lý của những cơ sở lý luận của học thuyết duy vật biện chứng,
nhưng chưa nắm được đầy đủ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin,
đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong hành trình của tôi, tôi đã được
đưa đến Chủ nghĩa Mác qua hai con đường: Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự
do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa xã hội; Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và
lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới
vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận
khoa học" (Do người viết gạch dưới và in xiên). Và để kết luận :
Cù Hà Vũ viết : “với tư cách là một người có quan hệ gần gũi với Trần Đức Thảo,
tôi thấy cuốn sách 'Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối' là một sự xuyên tạc có
chủ ý triết gia duy nhất này của Việt
Nam (tính đến thời điểm hiện tại), hơn thế nữa, được giới triết học quốc tế ngưỡng mộ.
Đấy cái nhìn của Trần Đức Thảo về mình là như thé, và cái nhìn của Cù Huy Hà Vũ
về Trần Đức Thảo tựu trung là như thế.
Bài viết
ờ đây không cốt nhằm chỉ trích, phê phán riêng bản thân của Trần Đức Thào hay bản
thân của Cù Vũ Hà Vũ. Có điều nhằm nói lên bản thân giới trí thức Việt Nam sau
năm 1945 đến nay chỉ là như thế. Ông Thảo có bằng Thạc sĩ triết học, Vũ thì có
bằng Tiến sĩ luật học, mà cách thể hiện tư duy mình chỉ kiểu tầm thường, xoàng
xỉnh như vậy, thì quả thật còn nào niềm tin ở giới trí thức Việt Nam ngày nay nữa.
Nếu sự nghiệp của giới trí thức tinh hoa chỉ là như thế thì khác nào trí tuệ của
đất nước đã hoàn toàn rơi vào thảm hại. Ý hướng và mục tiêu của trí thức không
được nâng lên mà bị hoàn toàn bị chìm xuống. Trí thức không còn chút cương nghị
nào, mà chỉ còn biết nói kiểu xu nịnh một chiều, ù ù cạc cạc, chẳng có tính
cách trí tuệ nào của riêng mình, thì đất nước, dân tộc đó sẽ thật sự đi về đâu.
Đã thế kỷ 21 rồi, mà não trạng giới trí thức Việt Nam tiêu biểu hiện tai như thế,
không hề còn có chút tinh thần phê phán nào, thể thì nay quả còn biết trách ai,
và chính ai mới hoàn toàn trách nhiệm về việc này. Bởi kiểu óc não của trí thức
không có chất xám, tức băng hoại mọi sự suy nghĩ độc lập tự do, thì có khác nào
chỉ còn mỗi miếng bã đậu, chỉ còn duy biết tung hô “thần tượng”, tung hô “lãnh
tụ”, mà chẳng có chút tư tưởng, tư duy riêng lẻ, độc lập. tự chủ chủ mình, thì cả
xã hội và người quần chúng bình dân còn biết còn tin cậy vào ai nữa.
Bởi tất
cả nếu còn đều kiểu cá mè một lứa, hề chẳng cao hơn dân một cái đầu nào cả, thì
ý nghĩa và giá trị của cái gọi là trí thức đó có phỏng để làm gì. Hậu quả ngày
nay ở nhiều nước cộng sản và hậu cộng sản đều có cùng một thực tại như thế. Trí
thức đầu óc bã đậu còn quần chung nói chung, đều là sự mê muội và sợ hãi. Điều
này phải chăng đều do hậu quả của lý thuyết Mác tạo ra và để lại. Và mọi người
trí thức chân chính, nếu đều không vượt lên và góp phần giải quyết chính vấn nạn
này cho xã hội, đất nước, và dân tộc, thử hỏi có còn chút ý nghĩa hay giá trị
gì nữa. Học thuyết Mác thực chất tiêu diệt trí thức và trí thức độc lập, bởi vậy
chúng đều không còn, và sẽ không cứu vãn được xã hội trước làn sóng xâm lăng của
các thế lực thù địch bên ngoài vào, cả trong hoàn cảnh hiện nay và trong tương
lai. Liệu đó là lỗi do ai, và rồi sẽ phải được giải quyết như thế nào, đó mới
chính là vấn đề mà ngày nay mọi người cần quan tâm xem xét đến. Ngày nay, hầu
như dân tộc, đất nước chúng ta đã bị tiệt nói các đại trí thức kiểu như Hoàng
Xuân Hãn, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký …(do thời Pháp đào tạo), và
cả nhiều lớp trẻ ngày nay (do thời bây giờ đào tạo), vì cứ vào xem qua các lời bình
phẩm nhảm nhí, nông cạn, một chiều, ấu trĩ của họ trên Facebook, nhất là trên Youtube,
về mọi ý nghĩa của các vấn đề xã hội, chính trị khác nhau, đều cho thấy tình hình
não trạng nơi mặt bằng trí thức của xã hội, dân tộc, đất nước trong tình trạng hiện
nay là đáng báo động như thế nào rồi, bởi chỉ thuần túy biểu hiện ra cùng một
thứ não trạng ton hót, bợ đỡ lãnh tụ mang đầy chất mù quáng, mê muội, kể cả thấp
kém, mà chẳng hề biểu lộ ra một chiều sâu tâm thức thực chất nào, về năng lực
trí thức chân chính và đầy đặn ở nơi bản thân của họ, cũng như về tình tự đất
nước, tình tự dân tộc thật sự chính đáng, thật sự cao cả nào đó mà họ tự biểu hiện
ra có mang tính độc lập, tự chủ nào cả.
By ĐẠI
NGÀN
(10/9/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét