Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

PHÊ PHÁN TÁC PHẨM "Ý THỨC HỆ ĐỨC" CỦA MÁC VÀ ENGELS

 

PHÊ PHÁN TÁC PHẨM “Ý THỨC HỆ ĐỨC”

(DIE DEUTSCHE IDEOLOGIE) CỦA MÁC VÀ ENGELS

 

Cuốn Ý hệ cộng sản của Mác thật ra chỉ có phần đầu là quan trọng nhất, còn phần sau chủ yếu chỉ là phần bút chiến giữa Mác cùng một số tác giả đương thời của ông ta, tức những người tư tưởng khác biệt, tuy cũng thuộc phái tả Hegel, như Bruno, Bauer và Max Stirner, phê phán lại Mác, hay Mác kình chống lại họ. Nó dài khoảng trên 400 trang tất cả nhưng nói chung nội dung hơi loãng, chưa thuộc dạng tác phẩm thật sự hoàn chỉnh mà phần lớn chỉ tập hợp lại nhiều bài đã viết trước đó. Nó ra đời năm 1945, nguyên bản tiếng Đức, sau đó được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Anh (L’Idéologie allemande, German Ideology). Tập trung phần đầu Mác phê phán về Ludwig Feuerbach, một triết gia Đức duy vật, nhưng khuynh hướng nặng về nhân văn tôn giáo. Thế nhưng đây lại là một trong những tác phẩm quan trọng nhất khi nói về Mác, chẳng khác gì cuốn Gia đình Thần thánh (La Sainte Famille) cũng chính yếu là các nội dung tranh luận, bút chiến vào thời kỳ đó của Mác. Có điều ở phần đầu của tập Ý thức hệ Đức này, thiết yếu Mác và Engels trình bày nền tảng căn cơ nhất về học thuyết của mình, nguồn cội của thuyết Mác xít hay là toàn bộ nội dung của quan điểm duy vật trong học thuyết này. Các tác phẩm này của Mác về sau Viện Mác-Engels-Lenin tập trung in vào trong bộ MEGA, tức Toàn Tập Mác Ănghen (Marx-Engels Gesamte Aufgabe) mà nói chung mọi người đọc đều biết.

Trước tiên trong phần mở đầu cho lời tựa (preface) của tác phẩm, Mác viết : “Die Menschen haben sich bisher stets falsche Vorstellungen über sich selbst gemacht, von dem, was sie sind oder sein sollen. Nach ihren Vorstellungen von Gott, von dem Normalmenschen usw. haben sie ihre Verhältnisse eingerichtet. Die Ausgeburten ihres Kopfes sind ihnen über den Kopf gewachsen. Vor ihren Geschöpfen haben sie, die Schöpfer, sich gebeugt. Befreien wir sie von den Hirngespinsten, den Ideen, den Dogmen, den eingebildeten Wesen, unter deren Joch sie verkümmern. Rebellieren wir gegen diese Herrschaft der Gedanken. Lehren wir sie, diese Einbildungen mit Gedanken vertauschen, die dem Wesen des Menschen entsprechen, sagt der Eine, sich kritisch zu ihnen verhalten, sagt der Andere, sie sich aus dem Kopf schlagen, sagt der Dritte, und – die bestehende Wirklichkeit wird zusammenbrechen.”

Hitherto men have constantly made up for themselves false conceptions about themselves, about what they are and what they ought to be. They have arranged their relationships according to their ideas of God, of normal man, etc. The phantoms of their brains have got out of their hands. They, the creators, have bowed down before their creations. Let us liberate them from the chimeras, the ideas, dogmas, imaginary beings under the yoke of which they are pining away. Let us revolt against the rule of thoughts. Let us teach men, says one, to exchange these imaginations for thoughts which correspond to the essence of man; says the second, to take up a critical attitude to them; says the third, to knock them out of their heads; and-existing reality will collapse”.

“Jusqu'à présent les hommes se sont toujours fait des idées fausses sur eux-mêmes, sur ce qu'ils sont ou devraient être. Ils ont organisé leurs rapports en fonction des représenta­tions qu'ils se faisaient de Dieu, de l'homme normal, etc. Ces produits de leur cerveau ont grandi jusqu'à les dominer de toute leur hauteur. Créateurs, ils se sont inclinés devant leurs propres créations. Libérons-les donc des chimères, des idées, des dogmes, des êtres imagi­naires sous le joug desquels ils s'étiolent. Révoltons-nous contre la domination de ces idées. Apprenons aux hommes à échanger ces illusions contre des pensées correspondant à l'essence de l'homme, dit l'un, à avoir envers elles une attitude critique, dit l'autre, à se les sortir du crâne, dit le troisième et - la réalité actuelle s'effondrera”.

Qua đoạn văn trên, có thể thấy được toàn bộ việc phê phán của Mác đối với các quan điểm của nhà tư tưởng tả khuynh Hegel cùng thời với Mác ở Đức khi ấy là như thế nào:

“Con người cho tới nay vẫn luôn có những hình dung sai lầm dối với chính họ, qua đó họ cho mình là gì hay mình cần phải như thế nào. Theo những hình dung đó của họ về Thượng đế, về con người bình thường như thế nào v.v…cùng hướng tới sự tương quan với họ như thế nào. Những sản phẩm đầu óc đó của họ đều thoát thai ra từ chiếc đầu của họ. Họ, những người sáng tạo lại phải phục phục trước những sự vật được sáng tạo ra bởi họ. Chúng ta cần phải giải phóng họ ra khỏi những quỷ ám đầu óc này, những ý tưởng, những giáo điều, những vật tưởng tượng này, hiện đang thành ra cái ách mà dưới nó họ phải cúi mình chịu đựng. Chúng ta phải nổi loạn chống lại chế ngự này của tư tưởng. Chúng ta cần cho họ thấy rằng phải thay đổi các hình ảnh tạo ra này để phù hợp theo yếu tính của con người đích thực, một người nói thế khi phê phán về những mối quan hệ của họ, người khác lại nói phải trục chúng ra khỏi đầu óc của họ, còn người thứ ba thì nói phải bẻ gãy đi ngay chính mối tương quan thực tại đó”.

Nhìn chung, Mác cho rằng nhóm các nhà Hegel tả khuynh đều chủ trương phê phán chỉ trích chính nội dung đầu óc, tư tưởng, quan niệm mọi mặt của con người, nhưng theo ông ta, họ đều thừa nhận mọi cái gì trong đầu óc con người đều chỉ do chính con người đó làm ra cả, như các ý tưởng về Thượng đế, về thân phận con người, về mọi tư duy của họ đối với các sự vật bên ngoài. Và đó cũng chính là cái ách do con người tạo ra để đè nén họ, vậy nên Mác bảo phải tìm cách nổi loạn, tức làm cách mạng, để thay đổi đi những điều như thế, giải phóng con người ra chính sự thống trị đó, để tìm về lại chính yếu tính hay bản tính chân thực, chính đáng nhất của chính con người, dù có người muốn phê phán như thế, có người muốn trục xuất mọi điều đó ra khỏi đầu óc của họ, có người lại muốn thay đổi chính thực tại khách quan đời sống đã tạo nên tất cả điều đó, tức mọi sai lầm trong tư tưởng đó. Nhưng Mác cho rằng những loại dạng các nhà ý thức hệ kiểu đó đều là những nhà tư tưởng kiểu duy tâm, tức chỉ nhằm giải quyết các vấn đề chung quanh bản thân tư tưởng con người, còn chưa quyết liệt mở rộng ra chính điều gì đó khác còn đáng nói nhất.

Đại để nội dung đầy đủ của phần này là thế này, là ý thức hệ nói chung, và ý thức hệ nói riêng ở Đức, trong đó, Mác trình bày về lịch sử, về sự tạo ra ý thức. Kế đó, nói về nền tảng thực của ý thức hệ, chia làm ba mục là những sự trao đổi và lực lượng sản xuất, các mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật về quyền tư hữu, những công cụ sản xuất và những hình thức của sở hữu tự nhiên và xã hội dân sự. Cuối cùng, là nói về xã hội cộng sản, việc tạo ra các sự trao đổi, và kết vào tiếp đó là những chủ đề về Feuerbach mà trong một bài viết trước đã được đề cập tới. Dù sao chăng nữa, tác phẩm Ý thức hệ Đức này, tuy quan trọng như là nền tảng nói chung của toàn thể học thuyết Mác, nhưng sự thật nó chưa hề được xuất bản thời gian Mác còn đang sống. mà chỉ về sau được tập hợp lại qua các bài bút chiến đã có của Mác và được hình thành sau khi Mác chết vậy thôi.

Mà nhìn chung các tác phẩm của Mác cũng vậy, phần lớn là các bài báo, bài bút chiến, tranh luận của ông về sau tập hợp lại, phần lớn nó chưa hề như những cuốn sách hoàn chỉnh nào cả, trừ cuốn ban đầu “Das Elend der Philosophie (Sự nghèo nàn của triết học), để chống trả lại cuốn của Proudhon “La philosophie de la misère” (Triết học về sự nghèo khó), hay bộ Tư bản luận, thật ra Mác cũng chỉ mới viết đầy đủ có cuốn đầu, còn các tập II, III đều là các bản thảo, tài liệu chưa hoàn chỉnh và về sau chính tay Engels biên tập lại để xuất bản. Bởi vậy ngày nay nếu đọc lại toàn bộ tác phẩm của Mác, trừ những người làm khoa học hay triết học muốn tìm hiểu riêng những vấn đề gì đó trong tư tưởng Mác, hay những người cộng sản muốn minh họa lại Mác theo nhiệm vụ của họ, phần lớn mọi người khác đều cảm thấy ngao ngán khi phải đọc lại các lập luận đã không còn gì mới mẻ, hấp dẫn mà đều trở nên nhàm chán vì lối lý luận kiểu giản lược, hay quy nạp kiểu một chiều mà Mác hay thường có.

Đại thể, hệ thống tư tưởng của Mác không ngoài là hệ thống tư duy với tiền đề khẳng định sẳn, kết luận khẳng định sẳn, còn mọi lập luận trung gian không ngoài nhằm liên kết hai điều đó lại với nhau, không cần có gì về chiều sâu phân tích khoa học hay triết học có liên quan đến các nội dung đó cả. Nó gần như một hệ thống các quan niệm, các quan điểm có sẳn, xác định sẳn, rồi cứ thế mà tổ hợp lại, gán ghép lại để cho thành đầu thành đuôi cách rành mạch mà không gì khác. Tức nó chứa đầy những cảm tính, thị hiếu để nhằm thuyết phục người khác, nhiều phần mang tính cách ngụy biện, hay tính cách áp đặt một chiều về lý lẽ, lập luận mà không nhằm mở ra lối lý giải độc lập, riêng biệt nào khác.

Như tiền đề hay tiên đề vật chất (duy vật, chỉ có vật chất là thuần túy và duy nhất tồn tại), Mác đặt ra như kiểu một định đề toán học, tức mặc cho nó mọi cái tất yếu, không cần và không thể phê phán nào khác. Hay điều kiện kinh tế (hoặc kinh tế xã hội) tác động duy nhất lên não bộ con người, uốn nắn não bộ con người, tạo ra mọi loại ý thức, tư tưởng, quan niệm của đầu óc mà ngoài ra không là gì khác. Kinh tế xã hội đó Mác gọi là hạ tầng cơ sở, và tư duy tư tưởng đó, Mác gọi là thượng tầng kiến trúc, cho muôn đời nó cũng chỉ như vậy, như là công thức hay quy luật bất biến duy nhất mà không thể nào khác hơn, không có gì ngoài ra khác hơn. Nói chung thì đó cũng chỉ là một loại tiên đề, nhưng tiên đề ở đây là tiên đề ý thức hệ, tiên đề của duy vật lịch sử, khác hơn hay cộng vào thêm cho tiên đề trước tiên đã có là tiên đề duy vật (hay duy vật biện chứng) như là nền móng duy nhất.

Như vậy đó thực chất chỉ là một hệ thống các tiên đề được định sẳn rồi Mác lý luận làm sao cho khớp lại với nhau một cách thật giản đơn, giản dị, không cần phải đòi hỏi được tư duy gì thêm cả. Thị hiếu duy vật, thị hiếu về một xã hội cộng sản, đó là hai điều chính yếu mà Mác muốn ráp lại với nhau, nhưng Mác cho đó mới là lý luận thực tiển, tức thực tế duy vật, dựa vào đời sống kinh tế chính trị cụ thể, hiện thực mà không phải chỉ duy trong tư tưởng như những nhà ý thức hệ tư sản, duy tâm mà Mác phê phán và lên án. Mọi lý luận khoa học và triết học của Mác thực chất đều không ngoài như vậy, tức nó không còn là khoa học và triết học đúng nghĩa nữa, mà kiểu chỉ là tư duy áp đặt nhằm vào mục đích phục vụ thị hiếu. Có điều Mác cho đó mới là tuyệt đối khoa học, bởi vì nó thiết yếu có “biện chứng” nằm trong đó. Tư duy hay quy luật biện chứng theo Mác có nghĩa là chân lý duy nhất khách quan tuyệt đối. Nhưng ý nghĩa và giá trị của “biện chứng” thực chất là gì, điều đó bản thân Mác và mọi người theo Mác đều không đặt vấn đề hay đều không hoặc không cần nghĩ tới.

Thật ra biện chứng là gì ? Đó là quan điểm đắp đổi, bổ sung về lý luận mà trước hết Socrate và Platon đã từng đưa ra vào thời kỳ cổ đại Hy lạp. Sự thảo luận giữa hai người, bù trừ thiếu sót qua lại mới vạch ra chân lý mà chân lý không thể là sự nhận thức chủ quan một chiều duy nhất nào đó. Biện chứng ở đây rõ ràng là biện chứng giữa hai hay nhiều chủ thể, chủ yếu trong tư tưởng nhận thức về chân lý khách quan ngoại tại và không thể có con đường nào khác. Đó chính là khái niệm đầu tiên mà con người xác định hay định nghĩa về nguyên tắc và quy luật biện chứng. Đây chỉ là một loại quan điểm triết học duy nghiệm thực tế thật sự.

 Nhưng đến Hegel thì khái niệm biện chứng không còn chỉ được hiểu kiểu đơn sơ theo khách quan thực tại như vậy. Hegel nâng lên một bậc, cho ý nghĩa tồn tại của vũ trụ tiên khởi là một loại bản thể Tinh thần nào đó thật sự, ông ta gọi là Der Geist (tiếng Đức), còn nói chung tiếng Anh, tiếng Pháp đều chủ yếu hiểu là The Spirit, L’ Esprit. Để cũng từ đó Hegel cho rằng quy luật biện chứng là quy luật cốt lõi và tiên quyết vốn có sẳn nơi chính bản thân của Tinh thần. Tức hiểu nôm na quy luật đó được diễn ra trong ba bước hay theo ba bước là Thesis, Antithesis, Synthesis. Hay là Tiền đề, Phản đề và Hợp đề. Nói cụ thể hơn, nó diễn ra liên tục kiểu phủ định, và phủ định tiếp tục (die Negation der Negation), tự vượt lên nó hoài (die Aufhebung), để từ hình trạng hay trạng thái ban đầu mà đi lên mọi kết quả cao nhất về sau này chỉ nhờ vào tính tự biện chứng như vậy (The negation of negaton, la négation de négation). Nhưng Mác cho triết học Hegel chỉ là triết học duy tâm, tư tưởng Hegel chỉ là tư tưởng duy tâm, nên Mác muốn lật ngược (renverser) Hegel lại. Có nghĩa Mác đem khái niệm vật chất (Materie, matter, matière) nhằm thế vào cho bản thể Tinh thần kia của Hegel.

Thế nhưng điều Mác quên rằng, Hegel quan niệm bản thể Tinh thần tự nó là năng lực tuyệt đối vô hạn, thế thì bản thân nó mới khả dĩ có thể tự biện chứng được. Còn Mác quan niệm hay hiểu vật chất chỉ là thứ thực thể tầm thường, vật thể, chất thể thuần túy, chẳng thể có thuộc tính, nội dung, năng lực nào có hơn chính nó, thế thì tự nó biện chứng làm sao ? Đây chính là điều khiên cưỡng đầu tiên, hay mẫu thuẫn, nghịch lý đầu tiên mà Mác vấp phải, làm cho học thuyết của Mác đã không có xương sống ngay từ đầu, hay chỉ là thứ xương sống giả tạo, vay mượn của người khác, bên ngoài đưa vào, và còn bản chất hoàn toàn trái ngược nữa. Kiểu làm thế nào một lò xo bằng tre có thể thay thế được một lò xo bằng kim loại, bản chất của đất, của nước, làm sao thay thế được bản chất của sự sống, bản chất của vật chất làm sao có thể thay thế được bản chất của tinh thần ? Đem râu ông nọ cắm cằm bà kia đó chỉ là sự cưỡng ép, buồn cười của Mác, mà qua đó Mác lại tự cho mình là khoa học để khiến nhiều người buộc phải lé mắt.

Mác viết : “Bewußtsein ist also von vornherein schon ein gesellschaftliches Produkt und bleibt es, solange überhaupt Menschen existieren”. “Und ferner, daß jede nach der Herrschaft strebende Klasse, wenn ihre Herrschaft auch, wie dies beim Proletariat der Fall ist, die Aufhebung der ganzen alten Gesellschaftsform und der Herrschaft überhaupt bedingt, sich zuerst die politische Macht erobern muß, um ihr Interesse wieder als das Allgemeine, wozu sie im ersten Augenblick gezwungen ist, darzustellen”. “Industrie und universelle Konkurrenz bedingten Kapital, dem reinen Privateigentum, das allen Schein des Gemeinwesens abgestreift und alle Einwirkung des Staats auf die Entwicklung des Eigentums ausgeschlossen hat. Diesem modernen Privateigentum entspricht der moderne Staat, der durch die Steuern allmählich von den Privateigentümern an sich gekauft”. “Der Kommunismus unterscheidet sich von allen bisherigen Bewegungen dadurch, daß er die Grundlage aller bisherigen Produktions- und Verkehrsverhältnisse umwälzt und alle naturwüchsigen Voraussetzungen zum ersten Mal mit Bewußtsein als Geschöpfe der bisherigen Menschen behandelt”.

“The production of ideas, of conceptions, of consciousness, is at first directly interwoven with the material activity and the material intercourse of men, the language of real life. Conceiving, thinking, the mental intercourse of men, appear at this stage as the direct efflux of their material behaviour. The same applies to mental production as expressed in the language of politics, laws, morality, religion, metaphysics, etc. of a people. Men are the producers of their conceptions, ideas, etc. -- real, active men, as they are conditioned by a definite development of their productive forces and of the intercourse corresponding to these, up to its furthest forms. Consciousness can never be anything else than conscious existence, and the existence of men is their actual life-process. If in all ideology men and their circumstances appear upside-down as in a camera obscura, this phenomenon arises just as much from their historical life-process as the inversion of objects on the retina does from their physical life-process”. “In direct contrast to German philosophy which descends from heaven to earth, here we ascend from earth to heaven”. “Communists do not oppose egoism to selflessness or selflessness to egoism, nor do they express this contradiction theoretically either in its sentimental or in its highflown ideological form; they rather demonstrate its material source, with which it disappears of itself. The Communists do not preach morality at all”. “They do not put to people the moral demand: love one another, do not be egoists, etc.; on the contrary, they are very well aware that egoism, just as much selflessness, is in definite circumstances a necessary”. “Form of the self-assertion of individuals. Hence, the Communists by no means want to do away with the "private individual" for the sake of the "general", selfless man. That is a statement of the imagination”. “Les hommes qui, en développant leur production matérielle et leurs rapports matériels, transfor­ment, avec cette réalité qui leur est propre, et leur pensée et les produits de leur pensée. Ce n'est pas la conscience qui détermine la vie, mais la vie qui détermine la conscience”. “La conscience est donc d'emblée un produit social et le demeure aussi longtemps qu'il existe des hommes. Bien entendu, la conscience n'est d'abord que la conscience du milieu sensible le plus proche les rapports sociaux existants sont entrés en contradiction avec la force productive existante; la force productive, l'état social et la conscience, peuvent et doivent entrer en conflit entre eux car, par la division du travail, le mode de production de la vie et le mode d'échanges qu'il implique”. “Le communisme n'est our nous ni un état qui doit être créé, ni un idéal sur lequel la réalité devra se régler. Nous appelons communisme le mouvement réel qui abolit l'état actuel. Les condi­tions de ce mouvement résultent des prémisses actuellement existantes”. “Pour le communiste réel ce qui importe, c'est de renverser cet ordre existant”. “La plus grande division du travail matériel et intellectuel est la séparation de la ville et de la campagne. L'opposition entre la ville et la campagne fait son apparition avec le passage de la barbarie à la civilisation, de l'organisation tribale à l'État, du provincialisme à la nation, et elle persiste à travers toute l'histoire de la civilisation jusqu'à nos jours”. “L'opposition entre la ville et la campagne ne peut exister que dans le cadre de la propriété privée”. “C'est à cette pro­priété privée moderne que correspond l'État modern”. “L'État étant donc la forme par laquelle les individus d'une classe dominante font va­loir leurs intérêts communs et dans laquelle se résume toute la société civile d'une épo­que, il s'ensuit que toutes les institutions communes passent par l'intermédiaire de l'État et reçoivent une forme politique”. “Dans l'opposition la plus ouverte avec toutes les autres classes, une classe que forme la majorité des membres de la société et d'où surgit la conscience de la nécessité d'une révolution radicale, conscience qui est la conscience communiste et peut se former aussi, bien entendu, dans les autres classes quand on voit la situation de cette classe”. “La révolution communiste par contre est dirigée contre le mode d'activité antérieur, elle supprime le travail et abolit la domina­tion de toutes les classes en abolissant les classes elles-mêmes, parce qu'elle est effectuée par la classe qui n'est plus considérée comme une classe dans la société, qui n'est plus reconnue comme telle et qui est déjà l'expression de la dissolution de toutes les clas­ses, de toutes les nationalités, etc., dans le cadre de la société actuelle”. “Elle est le seul moyen de renverser la classe dominante”. “Le communisme se distingue de tous les mouvements qui l'ont précédé jusqu'ici en ce qu'il bouleverse la base de tous les rapports de production et d'échanges antérieurs et que, pour la première fois, il traite consciemment toutes les conditions naturelles préalables comme des créations des hommes qui nous ont précédé jusqu'ici, qu'il dépouille celles-ci de leur caractère naturel et les soumet à la puissance des individus unis”.

Nói chung qua nội dung các đoạn trên, dù tiếng Đức hay dịch ra các tiếng Anh, Pháp, người ta đều thấy tràn ngập trong đó quan điểm hay tinh thần duy vật của Mác. Tức Mác cho rằng sự phân chia lao động trong xã hội cũng tạo ra lao động vượt khỏi phạm vi gia đình và chia xã hội thành vùng quê và thành thị, tạo ra sự khác biệt giữa xã hội bộ lạc, xã hội phong kiến, xã hội tư sản, và xã hội tư bản. Đó chẳng qua chỉ do định chế tư hữu tạo ra tất cả. Nó tạo ra giai cấp, bóc lột giai cấp, và từ đó mọi mâu thuẫn trong điều kiện xã hội phản ảnh vào trong óc não con người tạo thành mọi quan điểm ý thức hệ như tôn giáo, nhà nước, chính trị, triết học, tư tưởng v.v… mà không gì khác.

Hay ở đây quan điểm của Mác là quan điểm duy vật tuyệt đối, chỉ cho tồn tại vật chất là duy nhất tuyệt đối nên mới đề ra luận thuyết kiểu thế. Bởi Mác cho con người cũng chỉ là vật chất, sự sống hay óc não cũng là vật chất, sự vận động thần kinh là sự vận động vật chất, nên mọi ý tưởng, hoạt động cũng chỉ là vật chất. Điều đó cho thấy Mác không còn phân biệt gì giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, cái vật thể và cái tinh thần, thành đó hoàn toàn là quan niệm quá khích. Tức cấp con người cũng chỉ là loài vật, chỉ đấu tranh sinh tồn về mặt kinh tế vật chất, và tất cả điều đó đã phản ảnh vào trong và biến thành cả mọi khía cạnh não trạng của con người. Đây chỉ là kiểu lập luận nhân quả kiểu đơn giản, tầm thường, cốt yếu, chỉ là kiểu suy đoán một chiều mà không chứng minh khoa học cụ thể gì cả. Nhưng nếu tinh thần hoàn toàn không có, cũng chỉ là vật chất tầm thường, thế thì ý nghĩa và giá trị con người còn gì, ý nghĩa và giá trị xã hội còn gì để nhằm xây dựng xã hội “cộng sản” mà Mác cho đó mới là kiểu xã hội “tinh thần”, trút bỏ, thoát ly, giải phóng ra được mọi trạng thái vong thân của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản mà Mác đả kích, lên án. Rõ ràng đây cũng là tính cách hoàn toàn nghịch lý, mâu thuẫn, trống đánh xuôi kèn thổi ngược mà hệ thống quan điểm của Mác từ trước đến sau đều luôn luôn có.

Thành ra lý thuyết của Mác thực chất đều đưa đến mọi kết quả ngược trong thực tế. Như Mác kêu nhằm giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, nhưng cuối cùng lại chủ tương thiết lập độc tài vô sản, triệt hạ mọi tự do trong xã hội tư sản, thế thì còn giải phóng được gì nữa như con đường mà Mác chủ trương đi đến. Bởi ai cũng biết bản chất bản năng của con người, một khi độc tài đã thiết định rồi, làm sao nó có thể tự tiêu diệt được mà đi đến tự do, giải phóng. Ý Mác nói thời kỳ quá độ, một khi không còn tư hữu nữa, con người sẽ hào hứng phấn khởi say sưa, vô tư sản xuất và đến lúc nào đó vật phẩm sẽ tràn dư lênh láng, khiến thời kỳ quá độ vượt qua, xóa bỏ cả nhà nước, pháp luật nên cũng không còn chuyên chính nữa, hay chuyên chế tự diệt, thật chẳng khác gì  một quan niệm khờ khạo, ngây thơ và hoàn toàn không thực tế. Xã hội khi đã tự cùm chân mình rồi thì chắc chắn điều ấy khó thể thoát ra được, bởi tham vọng và bản năng ích kỷ của kẻ nắm quyền chẳng bao giờ hết.

Trong xã hội dân chủ, con người đã tiên liệu tất cả các điều ấy nên luôn chủ trương một nền chính trị tự do là hoàn toàn thế. Người ta tự thấy phải có tam quyền phân lập, phải có tự do báo chí, phải có đa đảng thì con người mới có thể chế ngự lẫn nhau, mới hòa hợp dân chủ được nhau, còn không thì xã hội phải hoàn toàn bế tắt, vì bản chất con người sẽ phải đưa đến khách quan như thế. Vậy mà Mác chủ trương hoàn toàn ngược lại. Bởi Mác chỉ tin tưởng vào đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp vô sản là trạng thái giai cấp cuối cùng trong lịch sử xã hội, tự nó có sứ mệnh lịch sử thiêng liêng là sẽ xóa mọi giai cấp trong đó có nó để đi đến xã hội không còn giai cấp nào cả. Đúng là một quan điểm hoàn toàn mê tín, ngây dại, phản thực tế, hay cũng hoàn toàn phản khoa học, phi khoa học chính là như thế. Bởi vì loài người khác loài vật là ngoài bản năng còn có lý trí. Lý trí là bản chất, năng lực tinh thần của con người, hay nói khác óc não con người chính là một chủ thể (Subjekt, subject, sujet) mà không phải chỉ là một trạng thái (Statut, status, état) hoàn toàn thụ động theo kiểu vật thể, vật chất. Đây cũng chính là một quan điểm khoa học và triết học thật sự ngờ nghệch, ấu trí, nông cạn, hay hoàn toàn thấp kém, quy giản trong quan niệm của Mác.

Nên nói chung lại, học thuyết Mác thực chất đã bất cập, nông cạn, thiếu sót, nông nỗi ngay từ đầu. Chính cái tiền để tiêu cực (tất cả chỉ là vật chất) và cái hậu đề hay kết quả tiêu cực (chuyên chính vô sản) đã làm triệt tiêu toàn bộ ý nghĩa, giá trị của học thuyết Mác, mà không mang lại bất kỳ kết quả nào đáng kể cả. Bởi thực tế nó chỉ làm ngưng trệ, thụt lùi về kinh tế, làm bế tắt, hổn loạn về chính trị, làm giật lùi về xã hội mọi mặt thế thôi, trong đó kể cả giáo dục và văn hóa các mặt. Bởi vì thực tế nó chỉ tạo ra kiểu xã hội hoàn toàn tiêu cực, con người bị chèn ép, khống chế lẫn nhau vì không có tự do, tạo nên xã hội xuống cấp, vì thụ động và trở thành nô lệ ý thức, nghèo nàn, ngưng trệ nhận thức, hay tệ hơn hết là sự phá nhân cách để có khuynh hướng phải tha hóa, nịnh nọt để cốt nhằm tồn tại cách phi lý nhất, đê tiện, phi nhân cách là điều thường thấy của cá nhân con người trong xã hội.

Hay để kết luận, có thể nói khoa học và triết học là cốt yếu tìm ra những nguyên lý khách quan, đầy đủ, trọn vẹn, bao quát nhất cho con người và xã hội. Điều đó không bao giờ ngừng lại mà luôn luôn phát triển, tiến tới. Các nguyên lý đó là các quy luật khách quan, tự nhiên trong vũ trụ vật chất, thiên nhiên, trong bản thân con người nói chung cũng như trong toàn xã hội và lịch sử loài người nói chung. Mục tiêu chính yếu của khoa học và triết học không phải cốt yếu chỉ mô tả hay ghi nhận thụ động mọi đối tượng sự vật nhận thức mà luôn cố tìm ra các nguyên lý, các quy luật khách quan chi phối chung chính là như thế.

Quan điểm của Mác bất chấp mọi chiều hướng đó mà nhằm chỉ kiên định cảm tính, thị hiếu bản thân mình để thay thế hẳn vào, tức nó chỉ chủ quan mà không phải hoàn toàn khách quan, bởi vậy sự thất bại của nó trong mọi vấn đề xã hội chỉ là tự nhiên, hay mọi sự kết thành của nó đều hoàn toàn giả tạo, cưỡng chế mà không bao giờ là bản thân đích thực. Cả chính quan niệm về “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa cộng sản” trong tươn lai cũng vậy, tức nó chỉ là hình ảnh không tưởng dệt nên mà không bao giờ trở thành thực tế khách quan, hiện thực được cả. Mác chỉ làm phung phí xã hội, phung phí lịch sử về rất nhiều mặt, đó không những là sự lỗi lầm mà còn là tội lỗi của Mác trong lịch sử nhân loại đã qua nếu có thể nói được như vậy. Bài học đó mọi người đều đã thấy và nếu không học ra được thì cũng chính là phần trách nhiệm của Mác. Những người đồ đệ của Mác, hay những người cộng sản, thật ra họ đều chỉ là nạn nhân vô tình tất cả, chỉ trừ ra một thiểu số rất nhỏ hữu ý nào đó, mà mục đích là nhằm lợi dụng chính chủ thuyết đó của Mác để thỏa mãn các tham vọng quyền lực, lợi ích ích kỷ, mang tính cá nhân tự nhiên của mình.

 

By VÕ HƯNG THANH

          (30/8/2021) 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét