THẾ
NÀO LÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
TRONG
NGUYÊN LÝ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA
XÃ HỘI CON NGƯỜI ?
Điều
phải nói trước tiên là xã hội và chính trị có tương quan mật thiết và đều quan
trọng trong sự tồn tại cũng như phát triển của xã hội loài người. Xã hội như
cái nền và chính trị như ngôi nhà dựng lên trên đó. Cái nền như thế nào, cao
hay thấp, nghiêng lệch hay bằng phẳng, phức tạp hay đơn giản, đều quyết định và
làm ảnh hưởng đến chính trị kiểu đều như thế. Đó là sự liên quan hai chiều hay
sự tương quan, cái này quyết định , ảnh hưởng đến cái kia nhất định mà không
cách nào khác.
Còn
chính trị thì như thế nào ? Chính trị như một khung sườn, một nguyên lý tổ chức
nào đó, có thể nói được là bao quát, bao trùm, hay ảnh hưởng toàn diện nhất
trong những khía cạnh nào đó nói chung đến toàn bộ hoạt động xã hội. Ví dụ trước
hết là đời sống kinh tế, đời sống pháp luật, đời sống văn hóa, đời sống sinh hoạt
dân sự tổng quát hay từng cá nhân riêng tư trong toàn bộ xã hội đó. Điều đó có
nghĩa xã hội không thể không có pháp luật, và pháp luật trước hết ảnh hưởng đến
kinh tế rồi dẫn đến quyết định, tác động đến mọi sinh hoạt khác trong môi trường
xã hội. Một xã hội không có pháp luật là điều không thể quan niệm được, bởi
không có pháp luật mọi sự sẽ bị đổ vỡ, trật tự trước sau sẽ bị hổn loạn, từ bên
ngoài đến bên trong từng cá nhân, đơn vị của nó. Bởi pháp luật quan trọng nhất
là công cụ làm ức chế bản năng tự nhiên của con người và xã hội. Không có công
cụ ức chế này, mọi loại bản năng tự nhiên, khách quan sẽ được tha hồ bung ra
không làm sao có thể kiểm soát được. Nhưng cái gì làm ra luật pháp, uốn nắn luật
pháp nếu đó không phải căn bản trước hết chính là chính trị. Nói khác đi, chính
trị chính là các loại thể chế nhất định kiểm soát xã hội, tạo ra luật pháp và
thi hành luật pháp mà không là gì khác. Chính trị hay hoặc dỡ cũng làm ra luật
pháp hay hoặc dỡ, và tạo thành hay chi phối xã hội hay hoặc dỡ.
Bởi
vì nói chung, đơn vị chính yếu của xã hội là cá nhân con người, và cũng bao gồm
cả những những đơn vị tạo lập bởi các cá nhân con người như mọi loại hội đoàn,
tổ chức xã hội. Thế nhưng cá nhân cuối cùng vẫn là mục đích tối hậu và cứu cánh
cơ bản. Đây là một điều rất quan trọng và không thể lầm tưởng. Ví nói trắng ra,
nếu không có từng đơn vị cá nhân cũng không có xã hội, kiểu một rừng cây hay một
đầu tóc cũng thế. Cứ loại dần đi từng cái cây, sợi tóc riêng lẻ, cuối cùng cả
khu rừng hay cả đầu tóc cũng không còn nữa. Bởi lẽ do từng cá nhân nhận thức,
suy nghĩa mà làm cho xã hội nhận thức, suy nghĩ nhưng không hề ngược lại. Ảo tưởng
chỉ nhằm mục đích “phục vụ” xã hội một cách mơ hồ mà chà đạp cụ thể lên từng cá
nhân, đó thật sự chỉ là điều nghịch lý, phi lý, một ý nghĩa, mục đích phi xã hội
thực chất mà không gì khác. Nên lo cho xã hội, phát triển xã hội, là lo cho từng
cá nhân, phát triển từng cá nhân mà không là gì khác. Tất nhiên đây không phải
điều ảo tưởng mà chỉ điều nguyên tắc. Bởi mỗi cá nhân mới là chủ thể thật sự và
phải hay biết tự lo cho chính mình, không ai khác có thể thay thế được, và đó
cũng là khái niệm xã hội cụ thể nhất, không thể mơ hồ hay nhập nhằng vô lối. Năng
lực, tâm lý cá nhân luôn luôn vẫn là điều do tự cá nhân đó quyết định, xã hội
chỉ giúp ích mà không thể tuyệt đối quyết định. Tạo môi trường lành mạnh cho xã
hội, đó là ý nghĩa quyết định của chính trị, còn buộc xã hội phải độc đoán theo
ý mình, kiểu chính trị độc tài chưa hẳn tốt mà ngược lại còn khống chế, làm trì
chậm, có khi hủy hoại toàn cả xã hội từng mặt hay cả mọi mặt.
Như
vậy sáng kiến và tự do cá nhân trong khuôn khổ pháp luật, đạo lý của một thực
thể chính trị xã hội nào đó mang tính tự do, hoàn toàn khác hẳn với sự bất chấp
sáng kiến, bất chấp tự do cá nhân trong mọi trường hợp của một xã hội độc tài mọi
loại. Nhưng đây lại là nền tảng dị biệt của mọi hoạt động, đời sống kinh tế,
văn hóa, dân sự nói chung của toàn xã hội, và cũng kéo theo cả phương diện lịch
sử tiến hay lùi, hạnh phúc hay ngang trái của cả bản thân xã hội đó. Sai một ly
đi một dặm, sự nhầm lẫn giữa mục tiêu, cứu cánh con người, và mục tiêu, cứu
cánh xã hội có thể tạo ra những hậu quả hết sức tai hại mà không ai không biết.
Cũng
có nghĩa xã hội không bao giờ là một thực thể bất động, thụ động, mà trái lại
là một tồn tại hoạt động không ngừng, do mọi cá nhân làm ra, và cũng nhằm đến mọi
cá nhân khác của chính nó nói chung. Hay xã hội luôn có một bề dày lịch sử, tất
yếu là cả ngàn năm, đó là truyền thống mọi loại trong đời sống dân sự mà không
phải chỉ quyết định nhất thời do điều kiện, hoàn cảnh chính trị nào đó. Điều đó
cho thấy chính trị có thể làm tốt hơn hay làm xấu đi xã hội mà nó cai quản, qua
chính tính cách pháp luật của nó, đó là một tình huống luôn luôn xảy ra nhưng
không phải đều có tính bất biến hoặc vĩnh cửu. Nói khác đi sự tương quan giữa
cá nhân, tập thể, luật pháp, chính trị, văn hóa, và xã hội, là một sự tương
quan nội dung, bản thân, mà không phải chỉ hoàn toàn bề ngoài, hiện tượng, hay
hời hợt, bất chợt, hoặc chỉ mang chất ngắn hạn.
Hay
nói sâu và rộng hơn, bản thân từng người đều do thiên nhiên và xã hội mà đến.
Thiên nhiên mang đến cho thân xác con người những quy luật vật lý học, hóa học,
sinh học, bản năng sinh học. Con người qua thân xác phải bị bị chịu chi phối
chung bởi các quy luật đó. Trong khi đó, tâm lý của con người bị xã hội chi phối
như giáo dục, hiểu biết, tình cảm, cảm xúc, làm nên bản chất văn hóa, trình độ
văn hóa, nhận thức của mỗi cá nhân. Cả hai phương diện đều mang tính chất lịch
sử, tức tiến trình, phát triển theo thời gian, không phải đột nhiên mà có. Lịch
sử thiên nhiên theo luật tiến hóa (évolution) vũ trụ, tiến hóa sinh học, còn lịch
sử bản thân cá nhân vẫn chịu ảnh hưởng của sự phát triển bản thân, phát triển
xã hội từ cổ chí kim qua từng thời kỳ, thời đại. Engels thì khoái tỉ chuyện con
người tiến hóa từ loài khỉ, lấy đó như tiêu chí tư duy triết học của mình. Mác
thì khoái trá thế giới chỉ là vật chất, con người hay não bộ, tư tưởng con người
cũng chỉ là vật chất, nên mục đích triết học của mình chỉ nhằm đến xã hội “vô sản”
mà không là gì hết. Nhưng thật ra đó chỉ là thứ tư tưởng “trích đoạn”, chỉ lấy
toàn khúc giữa trong qui trình phát triển tiến hóa, trích đoạn từ các khảo sử cổ,
từ thuyết tiến hóa tổng quát, rồi ngắt đầu ngắt đuôi theo cảm tính, thị hiếu của
mình làm cho khoa học, triết học đều trở thành méo mó, vô lối, vô bổ, đâu Ngô
mình Sở, chẳng ra khoai ra cũ gì cả. Bởi sự sống đầu tiên phát sinh từ vật thể
đơn bào, rồi dần dần phát triển lên thành các vật thể đa bào, mà cây cối, loài
vật đều nội thuộc trong đó. Nhưng đó mới chỉ là sự mô tả sự kiện lịch sử bên
ngoài, chưa hề đi sâu vào cái bản tính sử tính bên trong của tất cả mọi điều đó
là thế nào. Thuyết Mác, Engels chỉ theo chiều hướng quy giản (reduction), rồi
suy đoán (deduction) ra từ một tiền đề (premise) độc đoán mà mình khoái tỉ nhằm
đi đến một kết luận cũng theo thị hiếu và ước mơ huyễn hoặc mà không cần một chứng
tích hay một nền tảng khoa học, triết học khách quan chắc chắn nào cả.
Như
vậy thì từng cá nhân con người mới là chủ yếu, không phải là giai cấp. Bởi từng
con người bằng xương bằng thịt mới là cụ thể, có thật, còn “giai cấp” chẳng qua
chỉ là sự nhóm hóa, sự trừu tượng hóa, phổ quát hóa theo một phạm vi nào đó,
không có gì cụ thể, mà chỉ do quan điểm áp đặt. Ví dụ nhóm cây so đũa nào đó,
nhóm cây đa cây đề nào đó, nhóm cỏ dại mọc hoang nào đó kể chung lại, đó chẳng
khác gì bảng phân loại hay khái niệm giai cấp của Mác. Thậm chí cây cối chặt
truội hết, chỉ còn lõi gỗ, rồi phân ra từng loại gỗ, có loại thân cây không phải
họ lõi gỗ, thì thật vớ vẩn, chẳng còn nguyên tắc khách quan, tự nhiên nào cả.
Cho nên học thuyết độc tài của Mác vốn nó đã phát xuất ngay từ khởi điểm trong
tư duy quan niệm của Mác, không phải chỉ về sau này khi luận về kinh tế chính
trị mới đưa ra áp dụng, mới có.
Thế
nên quản lý pháp luật và xã hội không phải chỉ theo cảm tính mà phải cần khách
quan, khoa học. Bởi chỉ khoa học mới thành tư duy hệ thống, khách quan và chặt
chẽ, tạo ra các kết quả, các luận hữu hiệu. Pháp luật là tư duy khoa học về điều
tiết, quản lý xã hội, không thể tùy tiện, chủ quan theo thị hiếu sở thích. Nên
khi Mác quy pháp luật vào chỉ là thượng tầng kiến trúc (superstructure), dựa
trên quan điểm phản ảnh (reflection), từ hạ tầng cơ sở, hay hạ tầng kinh tế (understructre,
substructure). Điều đó cũng có nghĩa Mác giản lược (réduire) tổng thể xã hội
vào chỉ trong yếu tố hoạt động kinh tế không hơn không kém. Kiểu có làm thì mới
có ăn, có yếu tố, lý do sinh tồn, thế thôi. Tức Mác coi cái miệng quan trọng
hơn cái đầu, cái miệng quyết định cái đầu mà không thể ngược lại. Nhưng Mác
quên rằng kinh tế không thể đứng một mình mà phải gắn vào văn hóa, vào lịch sử
phát triển. Yếu tố học vấn, yếu tố kỹ thuật, yếu tố khoa học làm nên kinh tế mà
không phải kinh tế “tự ên” kiểu Mác phóng đại. Đó cũng là khía cạnh thuyết “duy
vật” của Mác, từ duy vật biện chứng qua duy vật lịch sử, điều nổi bật nhất là
đây. Để từ đó Mác còn gắn chặt vấn đề kinh tế vào vấn đề giai cấp hay ý nghĩa
giai cấp. Trong Tuyên Ngôn Cộng Sản, Mác tuyên bố “lịch sử xã hội loài người từ
trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Bởi vì Mác suy diễn từ cái
côt lõi “biện chứng” mà ra. Tức trong lịch sử có mâu thuẫn, có đối lập, có tiêu
diệt, hay có phủ nhận và giữ lại thì có phát triển. Đây chỉ là ý niệm trừu tượng
theo bản thể duy tâm của Hegel, Mác dùng lại và phiên dịch sang duy vật, lấy yếu
tố vật thể, vật chất làm động lực, làm bản chất, làm mục tiêu duy nhất. Ở Hegel
nó là quan niệm thần bí, qua Mác nó trở nên “tư biện”, tức lý luận thuần trừu
tượng, kiểu như toán học, không cần đầu cần đuôi gì cả. Nhưng trong thực tế mọi
vật, đúng ra sự phân chia đẳng cấp, phân chia cấu trúc, hay phân chia tầng lớp
vẫn luôn luôn thường có, không thể nào làm khác đi được. Như cái cây luôn phải
có gốc, có ngọn, có cành nhánh đủ loại, không thể nào chỉ trơ trụi như kiểu cây
cột thu lôi hay cây cột điện. Quy luật của sự sống là phân lớp, là phát triển
chính là như thế. Nên mục tiêu của Mác là đi đến xã hội “không giai cấp”, không
cần pháp luật, không còn nhà nước, không còn thị trường, không còn tiền tệ, bị
loại bỏ hết, chỉ còn trao đổi vật phẩm tự do giữa duy nhất những người công
nhân làm lụng lao động sản xuất cùng nhau. Đó thật chẳng khác gì xã hội kiểu bầy
ong bầy kiến mà Mác khoái trá cho đó là lý tưởng cộng sản, xã hội “cộng sản”.
Điều có cũng có nghĩa học thuyết Mác chỉ là kiểu học thuyết hoàn toàn không tưởng,
tức không bao giờ thật sự có thật hay hoàn toàn thực hiện được.
Bởi
con người khác con vật là gì, đó chính là ý thức tinh thần (esprit). Nó thể hiện
qua sự nhận thức, văn hóa, hay bản chất tâm linh nào đó mà loài vật không thể đạt
tới được. “Linh ư vạn vật” chính là như thế. Con người cũng là sinh vật, nhưng
không thể, không hoàn toàn chỉ, hay vẫn còn thuần túy là sinh vật, chính là như
thế. Học thuyết Mác rõ ràng từ trước đến sau, từ tiền đề đến kết luận, từ kinh
tế chính trị, xã hội, văn hóa, tất thảy mọi thứ đều giản lược vào “vật chất”
chính là như thế. Đã là thuyết giản lược, đồng thời còn là thuyết độc tài, rõ
ràng cuối cùng học thuyết Mác bản chất nó chỉ là loại học thuyết vô chính phủ
(anarchism), một kiểu học thuyết hư vô chủ nghĩa (nihilism) mà không gì khác. Bởi
giản lược đến kỳ cùng thì sẽ trở thành chỉ còn là con số không to tương, chỉ là
điều không thể nào tránh khỏi.
Nên
quay lại với con người, con người có tinh thần, đầu óc, nhưng cũng lại có thân
xác. Phần thân xác là phần cái “con”, là phần sinh học thuần túy, như mọi loài
sinh vật khác. Còn phần tinh thần, ý thức, tư tưởng, đầu óc, đó mới chính là phần
“người”, lại là phần tinh túy, tinh hoa vượt lên trên mọi loài vật. Phải hiểu rằng
phần này phải được tiềm ẩn ngay từ đầu, nhưng phải qua lịch sử phát triển mới
hình thành, phải qua đào tạo giáo dục của xã hội hay từ xã hội mới định hình,
phát triển, phát huy rõ nét. Giống như cái hoa phải từ cái cây mà ra, không thể
chỉ từ tảng đá mà đến. Cái cây nếu mầm bị hủy diệt ngay từ đầu cũng chỉ thành đất
cát, thành hư, không bao giờ trở thành cái cây được nữa. Sự phủ nhận khởi điểm
của lịch sử, bản chất của lịch sử, mục tiêu của lịch sử, nhất là lịch sử con
người, lịch sử loài người, Mác trở thành một học thuyết hết sức tiêu cực, thật
sự tiêu cực, có điều chỉ tự mệnh danh là hoàn toàn tích cực, đi ngược lại việc
giải phóng nhân loại, lại tự cho là giải phóng nhân loại, đi ngược lại khoa học
lại tự cho là khoa học, gây ra hiện tượng bề ngoài thì thu hút nhiều người
nhưng thực tế bên trong lại làm đảo lộn xã hội, tiêu cực lịch sử.
Bởi
con người xuất phát từ thiên nhiên nên yếu tố bản năng vẫn còn hoài không thể
bao giờ loại bỏ. Có nhiều thứ bản năng trong bó bản năng cơ bản, hoàn toàn là
điều không thể phủ nhận được. Chính giáo dục nhân cách, đào tạo sự nhận thức,
hiểu biết, phát huy trí thông minh, trí tuệ, được đến từ xã hội là yếu tố chế
ngự, khống chế bản năng, điều tiết bản năng như một phương cách hoàn hảo nhất,
là điều luôn luôn cần thiết và không bao giờ có thể thiếu được. Bởi không ai
sinh ra mà hiểu biết ngay được, đó là điều mà chính Khổng tử ngay từ ngàn xưa
đã thấy. Vậy nhưng Mác lại nại ra giai cấp vô sản, vin vào giai cấp vô sản, coi
như là tiên phong, là đầu tàu của lịch sử, có trong bản thân “sứ mạng lịch sử”
của chính mình, đó quả thật là điều mê tín, mơ hồ, thậm chí là “thần bính” chẳng
khác nào sự thần bí trong chính “phép biện chứng” của Hegel cả. Nên Mác nói “lật
ngược Hegel lại”, nhưng thật ra chỉ “vật chất hóa Hegel” (materialiser) còn
không là gì khác. Trong khi bản chất hai cái khác nhau, đối lập nhau hoàn toàn,
không thể nào cái nọ xọ ra cái kia, một việc làm hoàn toàn vớ vẫn như kiểu Mác,
như có bao giờ nước biến thành lửa hay ngược lại mà được.
Đã
vậy Mác còn phong cho vô sản sự độc tài (dictature du prolétariat, proleteriat
dictatur) thật là điều hoàn toàn mờ tối, nhảm nhí, vô nguyên tắc, phi lý, không
thực tế, phản khoa học, thì quả không ra gì và chắc chắn chẳng dẫn tới kết quả
nào cả. Bởi vì điều đó cũng có nghĩa phóng thích bản năng, khêu gợi bản năng,
phóng túng bản năng, tạo cơ hội để quay về chủ nghĩa ích kỷ (egoism), tiêu cực
xã hội, lại được mệnh danh chủ nghĩa xã hội (socialism). Có nghĩa danh từ chỉ
là sự phát biểu bề ngoài, chưa hẳn nó đi theo thực chất nào cả. Người mình nói
mười voi không được bát xáo chính là điều đó. Bởi vì vật chất, vật thể thì ít
khi có thể lừa dối nhận thức con người. Nhưng ý thức, ngôn ngữ con người lừa dối
con người, thì điều dó rất thường xảy ra và dễ xảy ra trong những trường hợp đặc
biệt nhất. Điều đó cũng trái lại sự bình đẳng giữa con người, vả cũng không có
cơ sở nào biện minh được cho sự độc tài nếu không là sự tuyên truyền dối gạt, mở
mịt, phi nguyên tắc, sự lừa mị, khống chế, cưỡng bức, ngu dân, mê tín, mà không
là gì khác. Lấy cái không có thật để làm cái có thật, lấy sự bất công xã hội,
vô lý và nghịch lý xã hội, tự cho là nhằm cứu vớt xã hội, quả thật Mác chỉ ngụy
tín, tức tự lừa đôi mình và lừa dối người khác, lừa dối chung cả xã hội. Một
nguyên tắc không đúng, không khoa học, chẳng bao giờ mang lại kết quả đúng, mà
chỉ sai hỏng, đó luôn là điều khách quan, tự nhiên nhất.
Kiểu
một bộ máy thiết kế sai nguyên lý sẽ không thể bao giờ hoạt động được. Nhưng nếu
một động cơ, một chiếc xe chạy được bình thường nhưng người lái, vận hành nó
kém hiểu biết, say xỉn, chắc chắn trước sau nó cũng chạy chệch đường hay sẽ bị
lật. Như chiếc xe giao cho người không biết lái cầm vô lăng, hay cả giao cho
con nít, cho người say, chắc chắn phải biết hậu quả là thế nào rồi. Nên vấn đề
không phải giai cấp mà là người hiểu biết điều khiển xã hội. Giai cấp nếu có chỉ
là sự tồn tại khách quan, chưa thể tạo ra con người đầy đủ. Thậm chí giai cấp
thất thế vì muôn vàn lý do nào đó trở thành những con người thiếu sót, tiêu cực,
bản năng, thậm chí gây hại. Bởi vì khi được giáo dục đầy đủ, sống trong điều kiện
môi trường tốt, có điều kiện bản thân tích cực, ai cũng có thể trở nên những
con người tốt, hiểu biêt, không cứ xuất thân từ giai cấp giai tầng xã hội nào. Rõ
ràng học thuyết giai cấp của Mác hay học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác chỉ
là học thuyết mê tín, huyễn hoặc, học thuyết phi khoa học, phản khoa học, học
thuyết đi ngược lại xã hội, học thuyết phản tiến hóa lịch sử, học thuyết phản động
mà chẳng là gì khác.
Dẫu
giai cấp thợ thuyền, cần lao, vô sản nước Anh, trong thời buổi ban đầu khi nền
kỹ nghệ châu Âu đột nhiên phát triển, phải chịu nhiều thiệt thòi, nghèo đối,
nhưng đó chỉ là hiện tượng nhất thời, cũng chỉ là thành phần số ít, có thể tìm
cách cải thiện được bằng nhiều biện pháp khác nhau trong tinh thần nhân văn, xã
hội tích cực. Đằng này Mác chỉ giống cách vì sâu mà chặt phá cây, vì cây bệnh
mà triệt hạ cả khu rừng, kiểu xóa bài làm lại, gọi là cách mạng, thật sự là phi
lý từ đầu, thật sự coi thường con người, coi thường lịch sử, coi thường xã hội
một cách vô lối, phi nhân bản, mà Mác tự mệnh danh là lý tưởng. Nên Mác thực chất
chỉ là anh theo chủ nghĩa cực đoan, hoan tưởng, phần lớn chỉ làm tiêu cực xã hội,
thụt lùi, phá hoại xã hội mà chẳng góp phần gì tích cực hay thiết thân nào cả.
Chỉ nhân danh cái cục bộ mà phản bội lại cái toàn bộ một cách phi nguyên lý,
trái nguyên tắc, thành Mác chỉ kiểu quan điểm phiến diện, ngông cuồng, không thực
chất, không thực tế, nên rốt cục cũng chăng thể nào mang lại kết quả, hay trước
sau cũng chỉ phá sản hay hoàn toàn thất bại, cho dầu khiến xã hội phải bỏ ra bao
nhiêu hi sinh oan uổng và vô ích.
Cho
nên chính trị hoàn toàn khác với xã hội chiều sâu là như thế. Bởi phần lớn
chính trị chỉ dựa theo một quan điểm, một lý thuyết, một ý hệ, một sự võ đoán
nào đó rồi mặc định lên xã hội. Đó là kiểu những nền chính trị độc tài, từ
phong kiến quân chủ đến các chế độ độc tài toàn trị ngày nay cũng thế. Trong
khi đó trong thời hiện đại, đáng lẽ ra chính trị phải là một khoa học, có
nghiên cứu khách quan thật sự, có nền tảng và mục tiêu văn hóa, xã hội, thật sự
bao quát, và sâu sắc, toàn diện nhất. Một học thuyết hay quan điểm chính trị
như vậy nhất thiết phải đúc kết lại từ giới tinh hoa khoa học khác nhau, nhất
là khoa học chính trị làm chủ yếu, trên cơ sở của nền dân chủ tự do xã hội,
không phải tùy tiện theo cá nhân, bè nhóm, hay cả một ý thức hệ chủ quan, sai
trái nào đó đã có. Bởi ý thức hệ kiểu đó thật ra cũng chỉ là tư tưởng, quan niệm,
quan điểm riêng tư nào đó của riêng một số cá nhân đưa ra rồi mệnh danh như của
toàn xã hội. Nên chính trị được phát sinh ra từ trong lòng xã hội mà không phải
nó đẻ ra xã hội. Xã hội luôn luôn là cái có trước, còn chính trị chỉ là cái đến
sau. Bởi vậy nếu chính trị không phát sinh ra từ nhu cầu xã hội khách quan, lại
phát ra từ cá nhân, thành phần cục bộ nào đó trong xã hội, chính trị đó có thể
phản lại xã hội, khống chế lại xã hội mà nó tồn tại trong đó.
Điều
đó cũng có nghĩa xã hội luôn luôn phát triển dù là chính trị thế nào. Bởi chính
trị không đẻ ra xã hội từ đầu mà chỉ thay đổi, làm ảnh hưởng, tác động đến xã hội
về sau. Tức chính trị có thể làm phát triển xã hội, nhưng cũng có thể làm ngưng
trệ, khống chế xã hội, thậm chí tiêu diệt cả xã hội nếu nó đi trái lại mọi nhu
cầu chính đáng, cần thiết của xã hội đó. Xã hội kiểu như cái cây mọc tự do
ngoài đất, nó luôn luôn phát triển mọi mặt dầu không cần ai quan tâm tới nó từ
bên ngoài. Nhưng cái cây trồng trong chậu vẫn lớn, nhưng lớn theo cách khác hay
chỉ lớn chậm, hoặc có khi bỏ quên không tưới nước, bỏ phân nó lại chết. Cái chậu
trồng cũng giống như chính trị là vậy. Nên trong mô thức chính trị toàn trị,
theo kiểu cách ý thức hệ độc tài độc đoán, xã hội thực chất bị biến thành cây
kiểng, trồng trong chậu kiểng, nhìn thấy nó cũng phát triển, nhưng thực chất chỉ
phát triển bề ngoài, giả tạo, rất dễ gây cho nhiều người thiếu hiểu biết bị lầm
lẫn. Anh trồng kiểng vẫn tự hào cái cây phát triển là nhờ sự chăm sóc, bảo kê của
anh ta, nhưng thật sự cái cây không hề muốn như vậy, chẳng qua vì bị ép buộc bất
khả kháng, và mục đích cũng chỉ để mua vui, làm cảnh, thỏa mãn thị hiếu, mong
muốn của người trồng kiển, tức bị gò theo mục đích của ông chủ mà không phải mục
đích tự thân của toàn xã hội.
Bởi
vậy sức hấp dẫn của học thuyết Mác đối với lớp người theo Mác làm “cộng sản” đầu
tiên, đó chính là việc tin vào khái niệm “khoa học” (scientifitical) mà Mác đưa
ra để làm nền móng cho học thuyết của mình; tự coi như phân biệt với mọi khuynh
hướng cộng sản khác, trước kia từng có, mà Mác gọi là cộng sản không tưởng
(utopic communism), nhưng chỉ do Mác tuyệt đối hóa một điều là “biện chứng luận”
(dialectics, dialectical) của Hegel mà Mác đưa vào nơi đó. Đây thật sự lại là
bé cái lầm, bời vỉ khái niệm “biện chứng” vốn chỉ là khái niệm mơ hồ, làm sao lấy
cơ sở nào để quyết chắc nó, kiểu như quy
luật toán học, quy luật vật lý, hóa học, sinh học, hay mọi ngành khoa học khách
quan, tự nhiên nào đó khác, cách chính xác khác ? Vả chăng, Mác còn quên một điều,
là nói “chuyên chính vô sản”, nhưng nếu quyền lực xã hội lại bất chợt lọt vào
tay một hay vài cá nhân mưu mô nào đó, họ có thể cấu kết với nhau, nhân danh
giai cấp vô sản, lập nên một hệ thống pháp luật, hay nền pháp luật nhất định
nào tùy theo phương thức của họ, đó để qua đó thao túng toàn xã hội, phục vụ
cho quyền lợi riêng tư, tham vọng ích kỷ của mình thì sao ? Đó quả chính những
giả thiết đặc biệt quan trọng mà Mác không hề bao giờ nghĩ tới. Làm khoa học nhưng
nếu không tiên liệu hoàn chỉnh, đầy đủ, còn để sót, hay không bao trọn hết mọi
giả thiết có thể có được, như vậy đó có thể gọi được là khoa học không, hay chỉ
là quan điểm còn đầy nông cạn, ngụy biện, ngây thơ ấu trí non nớt, mà Mác đã từng
vấp phải ?
Như
thế nói chung lại, sự khác nhau giữa trị chính trị và xã hội, là sự khác nhau về
khuôn khổ và tiêu chí. Xã hội phải có tiêu chí tự nó, đó là xã hội khách quan,
chính đáng. Mà tiêu chí đó, cốt yếu là những mục tiêu nhằm đến cho cá nhân con
người nhân văn, phát triển. Trong khi chính trị chỉ là công cụ tạo ra pháp luật
cần thiết cho xã hội, để nhằm quản lý xã hội theo chiều hướng nào đó. Công cụ
đó, mục đích đó của chính trị, chỉ chính đáng khi nào chúng phù hợp với chính bản
thân tiêu chí khách quan, tự nhiên của xã hội, còn nếu ngược lại, thì chính trị
đó chỉ là chính trị là phản ngược lại xã hội, là điều gì đó chống lại xã hội. Bởi
vì, xã hội vốn luôn tự nó khách quan, còn chính trị chỉ là bộ phận chủ quan, nhằm
mục đích phục vụ cho cái khách quan chính đáng đó của xã hội. Nên nếu cả hai
đàng cùng phù hợp, tương thích, đó cũng có nghĩa là thuận buồm xu gió, còn
không, lại trở thành loại chính trị phản động, chỉ làm phương hại đến toàn xã hội.
Cũng có nghĩa, trí tuệ xã hội, là trí tuệ tập thể của toàn xã hội, hay của tất
cả mọi người, mọi thành viên trong toàn xã hội. Nó không phải của riêng ai, của
cá nhân nào, đoàn nhóm nào, giai cấp nào, hay cả lý thuyết nào được cả. Bởi
khoa học thì luôn phát triển, theo đà xã hội mãi mãi phát triển. Mọi ý thức hệ
cố định đều làm thui chột xã hội, hoặc theo cách này hay cách khác. Nên mọi thể
chế độc tài, phản tự do dân chủ, đều làm què quặt, bệnh hoạn, triệt tiêu toàn xã
hội theo nhiều cách khác nhau. Chính bởi vậy mà mọi năng lực nhận thức con người
đều luôn gắn liền với truyền thống lịch sử, gắn liền với điều kiện hiện có, kể
cả gắn với “tiềm năng” chính nó càng ngày càng phát triển, phát huy ra, mà trước
đó chưa hề có. Trong khi đó mọi chế độ độc tài toàn trị, đều chỉ làm tiêu cực, làm
phản lại, làm thui chột, làm tiêu diệt tất cả những cái đó. Đó quả thật cũng
chính là sự tương quan, hay sự giống và khác nhau, giữa xã hội và chính trị, mà
bao giờ và mọi nơi cũng chỉ luôn theo cách kiểu đại loại như vậy.
By
VÕ HƯNG THANH
(06/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét