Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2021

 

NÓI VỀ NGUYÊN LÝ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA VŨ TRỤ CŨNG NHƯ THẾ GIỚI THỰC HỮU

 

Thế giới chung quanh chúng ta và cả chính bản thân chúng ta đều là thế giới tồn tại khách quan và cụ thể. Thế giới đó là thế giới vật chất bên cạnh thế giới sự sống. Tức vật chất vô cơ, vật chất hữu cơ, sinh học và ý thức (consciousness) hay tinh thần nhận thức (spirit of knowledge). Tất nhiên thế giới này, thế giới chúng ta, mọi người đang sống trên hành tinh trái đất hay địa cầu này nằm trong lòng của toàn thể vũ trụ rộng lớn, bao la, bao quát (universe, Universum, univers). Tiếp đầu ngữ Uni- đã có nghĩa là một, thống nhất, nhất thể, bao gồm, bao chứa, bao quát tất cả trong đó. Đó cụ thể là thế giới thiên văn, thế giới thái dương hệ (hệ mặt trời), ngân hà, thiên hà, và toàn bộ vũ trụ (Cosmos) nói chung. Đến nay ngoài các dạng thể vật chất (matter) chỉ chiếm một phần rất nhỏ (dường như không quá 7%), còn phần lớn chỉ là thành phần vật chất đen (black matter) hầu như chiếm cứ phần lớn. Mọi vật thể thiên văn hay vật thể vũ trụ đều là những đơn vị cụ thể có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, bằng các công cụ quan sát, hay bằng cách nào đó về khoa học trong lòng vũ trụ, còn vật chất đen hay vật chất tối (dark matter) thì không thể “nhìn” trực tiếp thấy được, tức nó là dạng vật chất vô hình theo nghĩa thông thường. Còn riêng về sự sống sinh học hay dạng sống nào đó khác có tồn tại ở một nơi nào đó trong toàn vũ trụ hay không, điều đó đến nay loài người chưa tìm thấy hay chứng minh ra được.

Chỉ riêng trên mặt đất hay địa cầu dĩ nhiên ai cũng biết có tồn tại vật chất cụ thể và sự sống cụ thể, sự sống sinh học, như cơ thể các loài sinh vật, gồm cả thực vật, trong đó có chúng ta, là điều không thể phủ nhận được. Bởi tất nhiên sự sống sinh học phải được xây dựng trên nền tảng vật chất cụ thể, đó là điều hoàn toàn khách quan, tự nhiên, vì sinh học không thể hoàn toàn trừu tượng, vô hình mà nó phải tồn tại qua cơ chế các tế bào cũng như toàn bộ các cơ thể (organism) mọi loại được làm nên từ đó, tức từ thể sống đơn bào (các loại vi khuẩn nhỏ nhất) đến thể sống đa vào (các loài thực, động vật) cấp cao hơn. Nhưng con đường biến đổi thế nào từ vật chất vô cơ đến sự sống sinh học hữu cơ là điều đến nay chỉ mới có những giả thuyết thô, đơn giản, còn thực ra khoa học đều chưa chứng minh được hoàn toàn rõ ràng, cụ thể. Tức sự sống (life, vie, Leben) đều là một dạng trừu tượng hay vô hình được tiềm ẩn qua mọi cơ chế sinh học (biological) hữu hình.

Cái hữu hình cụ thể và cái vô hình trừu tượng ở đây như vậy hoàn toàn có sự giao thoa với nhau, sự tương ứng với nhau, nhưng khoa học quan sát (observation) vẫn chưa thể chứng minh tuyệt đối được. Đây có thể phải thuộc mặt triết học mà mãi mãi vẫn vượt thoát hay ra ngoài, nằm bên ngoài mọi ngành sinh học (biology) cụ thể như thường có. Tuy vậy nếu vượt lên bậc cao nữa là ý thức hay nhận thức hiểu biết, thì lại còn vượt trên cả sự sống sinh học, vì ở đây thuộc tâm lý học (psychology) triết học (philosophy) hoặc cả siêu hình học trong phạm vi triết học (metaphysics) thì quả thật phạm vi còn hoàn toàn đào sâu và mở rộng ra hơn nữa. Bởi các loài cây cối thảo mộc, thực vật nói chung, tất nhiên chúng có thể có khả năng cảm nhận, cảm thức nào đó, tuy mơ hồ, giản dị nhất (sensation) nhưng không thể chối bỏ, như cảm nhận ánh sáng, cảm nhận tiếng động, cảm nhận các vật thể khác, như quang động, âm động, kiểu các loại cây đều hướng ra ánh sáng, hay cây mắc cỡ sẽ sụp lá lại khi ta đụng tới nó.

Riêng phần các loại động vật cao cấp như loài vật hay loài người chúng ta, ngoài phần cảm giác ý thức tâm lý (sense), còn phần nhận thức (knowledge, connaissance, Wissen) là điều mà ai cũng rõ. Có nghĩa đối tượng căn cơ nhất của thế giới loài người vẫn là nhận thức luận (epistemology) và tồn tại luận (ontology) và điều đó cũng thành căn cơ cho triết học và cho khoa học là điều mà từ nhiều ngàn năm qua con người vẫn luôn theo đuổi. Hai điều này tuy cùng nền tảng nào đó nhưng không bao giờ trùng lắp nhau hay thay thế được cho nhau. Ngoài ra, tức ngoài mặt tri thức, nhận thức, con người còn có tình cảm, cảm xúc, bản năng là điều tự nhiên phải có. Bởi con người không phải đá, gỗ, nên đều có nhiều loại phạm trù về tinh thần, ý thức, động lực khác nhau. Đó chính là phần “hồn” của con người, không hoàn toàn chỉ thuần túy có phương diện thân xác, sinh học như muôn loài động vật khác.

Bởi vậy mặt xã hội của con người cũng hoàn toàn phong phú đa dạng. Sinh vật sống tập đoàn cũng có mặt xã hội riêng của nó, như san hô, ong, kiến, mối, khỉ vượn, khuẩn, tảo, vi rút v.v... nhưng không có trí thông minh cao, không có ý thức tinh thần, hiểu biết mở rộng như con người, nên thật sự chúng chỉ hoàn toàn hạn chế theo quy luật khách quan tự nhiên. Nhưng con người lại hoàn toàn khác, con người nhờ có ý thức tinh thần, nhờ có đầu óc thông minh cao hơn, nên tuy phải sống trong lòng các quy luật vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý, xã hội khách quan, tự nhiên, con người còn có tư duy lựa chọn và khám phá, đó là điều đặc biệt của loài người mới có. Mà trong tâm lý tự nhiên vốn có của con người trong cuộc sống, điều đáng nói nhất là tinh thần cộng đồng, tức tinh thần chia sẻ, giúp đỡ nhau, về vật chất, đời sống, cả về mặt tình cảm, nhận thức. Nhiều khi điều đó không phải chỉ là khuynh hướng khách quan lại còn là nghĩa vụ tự nhiên. Nó tạo thành niềm vui, sung sướng cho bản thân chủ thể cũng như cho đồng loại, tha nhân. Sự chia sẻ cả vật chất lẫn hiểu biết, tinh thần là điều nổi bật nhất. Chia sẽ nhận thức, hiểu biết, trí thức chính là nghĩa vụ và bổn phận cao cả mà luôn luôn trong thế giới con người đều có. Sự chạm râu của loài kiến chỉ là nhu cầu thúc đẩy nhằm mọi thông tin ích lợi. Nhưng sự trao đổi kiến thức, hiểu biết, nhận thức của con người không phải chỉ nhằm ích lợi mà nhiều khi hoàn toàn vô tư, vị tha, cao cả. Bởi nếu con người chỉ biết sống ích kỷ cho bản thân, hoàn toàn co lại, chỉ biết có chính mình, lối sống đó cũng có khác gì đời sống của cây cỏ, sinh vật, hay động vật khác nói chung. Ích kỷ cả mặt tinh thần và vật chất, quy lưng lại một cách thấp kém, vô lối với chính đồng loại của mình. Đó cũng chính là ý nghĩa cao cả của văn học nghệ thuật, của khoa học, và của cả triết học, hay tư duy tư tưởng nói chung trong xã hội loài người.          

Như vậy, hễ đã là sự tồn tại sinh học, nhân văn, thì phải có nhu cầu và mục đích của sự sống. Quyền tư hữu riêng tư chính là quyền căn bản, và nhu cầu xã hội cũng là quyền căn bản tự nhiên không thể thiếu. Nói cách khác con người sống trong thế giới vật chất, có bản thân vật chất là điều hoàn toàn khách quan tự nhiên, nhưng ý nghĩa căn cơ vẫn là ý thức, nhận thức tinh thần, đó mới là ý nghĩa hay cả nhu cầu sâu xa nhất. Nên văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, triết học, khoa học nói chung, đều là nhu cầu luôn luôn không thể không có trong thế giới loài người. Nhu cầu này là động lực, tiềm lực, đòi hỏi luôn luôn phát huy và diễn tiến không ngừng trong chính đời sống cá nhân và xã hội. Có nghĩa thế giới không thuần là vật chất, không toàn là vật chất, mà có nhiều điều gì đó sâu hơn, cao hơn, rộng lớn, bao quát hơn, tinh vi, tinh tế hơn, mà tinh thần mỗi cá nhân, tinh thần nhân loại, vẫn luôn là những điều không khi nào phủ nhận được.

Tư hữu và kinh tế, đó là nhu cầu thiết yếu nhất của mọi cá nhân và xã hội. Bởi chính nó duy trì tất cả và làm nên tất cả mọi cái khác phải phụ thuộc vào nó. Kinh tế luôn luôn trước hết phải dựa vào kỹ thuật, dựa vào nhu cầu tư hữu, vào nền tảng xã hội mà không thể nào khác. Đó chính là động lực, động cơ, cơ cấu cho mọi phát triển kinh tế, cả tiềm lực mọi sáng kiến qua hoàn cảnh, thời gian, cũng là điều đáng nói nhất. Bởi vậy chủ trương vô sản, chủ tương đấu tranh giai cấp, chủ trương độc đoán, chủ trương đơn thuần tập thể, chủ trương vật chất thuần túy, đó đều là sự nông cạn, sự vô lý, sự khờ khạo, sự hời hợt, sự tà mị, sự phi thực tế, phi thực chất, phi lý của chính quan điểm học thuyết Mác. Bởi mọi cá nhân con người, ngoài phân thân xác thể lý, quan trọng hơn còn phần tâm lý tinh thần, phận nhận thức hiểu biết, mới là điều quyết định và cũng là mục tiêu mục đích cứu cánh sâu xa nhất. Cho nên kinh tế không thể nhất thiết chỉ là kinh tế dựa vào động lực cơ bắp, mà chính kinh tế tri thức, kinh tế khoa học, mới là điều ý nghĩa, hiệu năng, và hoàn chỉnh hơn cả.  

Bởi vậy khi Mác nói thượng tầng kiến trúc phản ánh hạ tầng cơ sở, chỉ là cách nói mò trực giác suông mà không phân tích được điều gì cụ thể cả. Nói chỉ để nói mà không chứng minh xác đáng khoa học cũng chỉ là kiểu ăn ốc nói mò, thật chẳng nghĩa lý gì sâu xa hết. Hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc, câu nói làm nhiều người say mê, tâng bốc, nhưng thực sự nó chỉ nông cạn, mơ hồ, chẳng có gì sâu xa cả. Bởi kiểu nói có cái gì mà chẳng nằm trên mặt đất, có cái gì mà không có nguyên do, chẳng có cái gì mà không phát sinh ra hậu quả, hay kiểu trong toán học tổng số phải bằng hai hay nhiều số cộng lại, đều chỉ là những nhận định thừa bởi vì ai cũng biết. Vấn đề là cần chứng minh chính xác khoa học một cách cụ thể, chắc chắn và chi tiết, mới là điều mà khoa học cũng như mọi người luôn cần đòi hỏi. Cho nên thuyết duy vật của Mác là hoàn toàn mơ hồ, mặc dầu dựa trên nền tảng cụ thể khách quan nửa chừng, thuyết duy vật biện chứng càng mơ hồ hơn, bởi vì thêm vào đó một yếu tố còn mơ hồ nữa, đến thuyết duy vật lịch sử, lấy kinh tế phiến diện làm chỗ dựa, lồng vào trong quan điểm “biện chứng” chỉ có tính ức đoán, tưởng tượng, quy chụp, thì thật chẳng có gì mờ mịt và phi lý hơn, mà mục tiêu chỉ là mơ mộng hão huyền, gọt chân cho vừa giày, quả đó là điều phù du, huyễn tưởng nhất trong lịch sử nhân quần, xã hội.

Trong khi đó mọi nhận thức con người dù cao cả, thiết yếu tới đâu, cũng chỉ đều mang tính cách tương đối, tức luôn phát triển, tiến hóa theo dòng lịch sử, nơi cá nhân cũng như xã hội. Nhận thức của Mác là nhận thức trong thời đại, tùy thuộc vào năng lực cá nhân của mình, lại tự nhận là bao quát, bao trùm cả lịch sử phát triển của tồn tại và xã hội, thật không gì chủ quan, hạn hẹp, rỗng tuếch và huênh hoang cho bằng. Chủ nghĩa xã hội cộng sản khoa học thực chất chỉ là một kịch bản hoàn toan tưởng tượng, chỉ do Mác cao hứng, huyễn hoặc đưa ra mà thực chất không bao giờ xảy ra được trong thực tế, chỉ bởi vì nó đều do tính cách mơ mộng,  tưởng tượng của duy một cá nhân Mác, mà không hội đủ mọi cơ sở khoa học khách quan cụ thể, đầy đủ và cần thiết nào hết.

Bởi vậy triết học không bao giờ chỉ là sự trích đoạn cụ bộ, mà phải cần hệ thống toàn diện. Nó hoàn toàn không giống như mọi loại khoa học thực nghiệm cụ thể. Trong khi đó Mác chỉ dựa vào nền tảng lý thuyết Darwin, nền tảng lý thuyết tế bào học còn sơ đẳng khi đó, nền tảng của lý thuyết kinh tế chính trị học cổ điển kiểu Ricardo và Adam Smith, nền tảng của các thuyết xã hội, cộng sản không tưởng trong thời đại mình như Pháp, Anh, Mỹ, nhất là dựa vào quan điểm biện chứng luận duy tâm của Hegel, để xào nấu lại, nâng cấp lên, hòa trộn tùng phèo lại với nhau, gọi là học thuyết cách mạng cho muôn thuở, vô địch thống trị cho khoa học nhận thức về lịch sử, thực hành cho xã hội, thì quả không có chỗ hớ hênh, trịch thượng, độc đoán, cưỡng chế, úp chụp phi lý cho bằng. Cho nên hệ thống của Mác chỉ là một hệ thống trích đoạn tưởng tượng, nó hoàn toàn củn cởn, vớ vẩn, không đầu không đuôi, không gắn vào hệ thống chung toàn điện nào của vũ trụ tồn tại hết mà chỉ là quơ vào, ức đoán, ức chế, ảo tưởng, thành ra cũng chẳng có nghĩa lý thực tế gì về mặt chính trị, xã hội, kinh tế, hay mọi sự cụ thể nào hết.

Nhưng Mác vẫn luôn lấy ý nghĩa Praxix (thực tiển) ra để làm tiền đề, làm mục đích tối hậu, trong khi hiểu thực tiển chỉ là kiểu thực tiển mơ mộng, cảm tính, thị hiếu mà không gì khác. Đó cũng là điều tạo nên ý nghĩa cuồng dại, chủ quan, độc đoán vô lối của Mao Trạch Đông sau này, cho trí thức chẳng bằng một cục phân, từng thời đình đám nổi tiếng mà ai cũng biết. Trong khi đó Mác coi mọi quan điểm, hiểu biết, nhận thức nào không giống như Mác đều là “tư sản”, kể cả đạo đức truyền thống cũng bị coi như thế. Nên Mác với Mao chỉ đều một khuôn đúc, tức không công nhận nền tri thức khách quan của lịch sử nhân loại, coi thường trí thức nói chung, bị toàn quy chụp vào trí thức “tư sản”, mà chỉ quơ duy vào mục phục vụ cho “chuyên chính vô sản” mới coi là chính thống hay được thừa nhận. Thật đều quan điểm võ đoán, không còn cần biết muôn việc thế gian trong cuộc đời là gì nữa.

Vậy nên nguyên lý tồn tại và phát triển của vũ trụ nói chung và thế giới thực tại nói riêng, vẫn luôn là hệ thống mở, không bao giờ là hệ thống đóng. Bởi mở là triển khai, khai phóng, còn đóng luôn là bế tắt, thủy cựu, chủ quan, cục bộ. Chính hệ thống mở đó mà từ ngàn xưa khoa học và triết học đều luôn phát triển, kể cả các tôn giáo cũng dự phần vào đó. Đó cũng là hệ quả mà nền kinh tế, văn hóa, xã hội … nói chung đều cùng là hệ thống mở. Nó luôn thật sự đa dạng và triển khai mở rộng không ngừng. Nói khác tính “biện chứng” ở đây là tính tác động qua lại đều trong mọi mặt, không phải là kiểu biện chứng xơ cứng, bế tắt, công thức máy móc, vô lối, vô bổ kiểu tiền đề, phản đề, hợp đề, hay mâu thuẫn, phủ định, rồi phủ định phủ định, kiểu bất tận, theo cách tư biện thuần túy rỗng tuếch mà Mác cóp theo Hegel đã độc đoán đề ra.

Nói chung lại, đây là vấn đề rộng lớn, sâu xa, và bao trùm hết thảy, cần phải được đưa ra cho mọi người cùng thưởng lãm. Tôi không phải người Miền Bắc “giỏi lý luận”. Tôi chỉ là người Trung Nam Bộ, tức Miền Nam thôi, nên không theo kiểu “chính thống” Mác Lê, mà chỉ là loại tư tưởng tự do, đơn thương độc mã. Quan điểm đưa ra này không cần phải giống ai, không cần phải lấy lại của bất cứ ai. Bởi làm triết học là phải hoàn toàn độc lập, có thể trùng khớp phần nào đó của người khác nhưng không cần lấy lại của người khác. Triết học không phải là hệ trí nhớ mà là một hệ khai phá. Trí nhớ chỉ tạo ra người học triết mà không phải người làm triết học. Người triết gia và nhà triết học theo nghĩa nghiên cứu triết học đã có cũng khác nhau kiểu đó. Nhà thơ và người nghiên cứu thi ca các loại cũng khác nhau kiểu đó. Ở đây tôi muốn nói đến một học thuyết mới, một học thuyết tự khai phái, có thể không giống bất cứ ai, nhưng cũng không phải khác biệt ngược ngạo hay lập dị hơn bất cứ ai.   

Nói rõ rệt, ở đây tôi không cho vũ trụ cụ thể toàn diện chỉ hoàn toàn là “vật chất” như kiểu Mác, Engels, Lênin. Tôi không cho “biện chứng” là nguyên lý thiết yếu hay khách quan đúng đắn. Tôi cũng không cho sự tồn tại của bản thể vũ trụ chỉ kiểu chất thể nào như những nhà triết học cổ đại Hy lạp trước Socrate. Ngược lại tôi cũng không cho nguyên lý hay thực chất hiện hữu của vũ trụ chỉ duy là bản thể kiểu Spinoza, hay toàn toàn là chủ thể kiểu tuyệt đối trừu tượng như Hegel. Cũng không phải kiểu kết hợp ba phải giữa cả hai. Mà gần suốt cuộc đời nghiên cứu, tư duy, và chiêm nghiệm triết học, tôi nhận định rõ rệt cốt loại bản chất vũ trụ, vừa là một Bản thể (Substance) đồng thời vừa là Chủ thể (Subject) đồng nhất hay song hành trong một.

Bởi vì vật chất thuần túy không bao giờ có thể tự sáng tạo ra được sự tồn tại của chính nó. Phải có cái gì tuyệt đối cao hơn nó mới có thể tạo ra được nó. Vật chất bởi vậy luôn chỉ là một hiện tượng có thật, sự hiện hữu của nó chỉ là sự hiện hữu trên bình diện hiện tượng, nhưng là loại hiện tượng có thật không thể nào phủ nhận được. Sự tồn tại của nguyên tử và hạt nhân là sự tồn tại có thật, các loại hạt cơ bản cũng đều có thật, nhưng có thật chỉ trong mọi hiện tượng vật chất. Bởi vậy vật chất không thể nào là chủ thể, là tinh thần, là cái tuyệt đối năng lực. Chỉ tinh thần tối thượng, vô hạn, năng lực tuyệt đối mới có thể tạo ra, chuyển biến ra điều ấy. Cũng không thể có việc ex nihilo một cách hoàn toàn đơn giản, hay thế giới vũ trụ chỉ hoàn toàn là ảo ảnh, là hư vô tuyệt đối theo kiểu quan điểm của chủ thuyết hư vô (nihilism). Bởi hư vô tuyệt đối thì không thể tạo ra cái gì cả, và nếu toàn thể vũ trụ chỉ là hư vô thì thành điều hoàn toàn nghịch lý và cũng không còn điều gì phải đáng nói cả.

Nên không thể cho Vụ Nổ Lớn đầu tiên (Big Bang) là hiện tượng tự có, để từ đó có vật chất mọi loại, mà cơ bản là các nguyên tử, bao gồm cả điện tử, và hạt nhân của nó. Vũ trụ cũng không thể chỉ thuần túy năng lượng (energy) như công thức được Einstein tiêu biểu nổi tiếng : E = mc2. Bởi đây cũng mới chỉ là công thức vật thể, bản tính năng lượng, mà chưa là gì với “bản-chủ-thể” của vũ trụ cả. Mà chính đây mới là chìa, là khóa, là cốt lõi tối thượng để vũ trụ triễn khai, phát triển, tiến hóa, nhằm tạo thành hay làm nên mọi sự. Cho nên thuyết tiến hóa sinh vật Darwin, thuyết tiến hóa vũ trụ của P. de Chardin, cũng chỉ mới là sự mô tả trích đoạn, chưa phải tuyệt đối hoàn chỉnh, trọn vẹn.

Nhưng còn điều cuối cùng, bản chất của vũ trụ không phải bao giờ hoàn hảo mà còn những loại khuyết tật thì sao. Đó không phải chỉ là một kịch bản hoàn toàn tuyệt diệu, hay do, đẹp đẻ, chỉnh đốn và hoàn hảo, bởi vì còn những góc khuất, nhưng mặt trái của kịch bản thì sao ? Như là “cái ác”, cái xấu trong thiên nhiên, trong bản thân con người lẫn cả trong xã hội thì giải thích thế nào ? Kiểu đây chỉ như dòng sông chảy từ nguồn thanh khiết diệu vợi, như rồi về sau nảy sinh và phải cuốn theo cả bao rác rến chính là điều không thể tránh được. Cái xấu, cái tiêu cực, cái ác (evil) trong con người và xã hội do đâu mà có ? Bản năng thấp kém do tự đâu mà có, đó còn là vấn nạn, là vấn đề không hề phải nhỏ. Đó có phải sự vận động, sự mâu thuẩn, nghịch lý gọi là “biện chứng” giữa hai mặt tồn tại gọi là đối lập hay không ? Điều đó thật sự không phải hoàn toàn đơn giản. Điều này có thể cần phải mở rộng giải thích và chiêm nghiệm thêm. Vả điều đó cũng phải là một bộ phận lý giải khác bổ sung cho toàn bộ hệ thống mà nhất thiết không thể nào thiếu.

Tuy nhiên ở đây chỉ là vài tư tưởng giáo đầu, giới thiệu quan điểm lý thuyết của mình nên tôi chưa thể trình bày, triển khai hoàn toàn đầy đủ. Nên toàn bộ chủ đề này như từ đầu đã thấy, không phải chỉ trong một bài viết mà đúc kết được hết, nhưng chắc chắn cần phải được cân đối, hoàn chỉnh, triển khai ra sâu xa hơn trong một hệ thống tác phẩm mà tương lai hi vọng phải có. Niềm vui và sự cần thiết của triết học chính là như vậy. Từ cổ chí kim mọi người làm triết học, mọi triết gia đều cảm thấy gắn bó với điều hứng khởi và nhiệm vụ như như đang nói. Mọi nguồn lạch và trăm sông đều đổ ra biển cả, cũng giống như mọi tư duy thích đáng đều cùng đi đến chân lý. Đó là điều mọi người đều có thể làm được, nhưng cũng còn phải tùy vào các điều kiện, năng lực, khả năng chủ quan của tư duy, cùng sự đam mê, sự quyết chí, hay ngay cả đến sứ mệnh tự đặt ra, hay được đặt ra đâu đó, cho những con người, không phải nhất thiết ở bất kỳ đâu, mà chính là trên toàn thế giới, cũng như được xuyên suốt đến cả trong toàn bộ lịch sử của loài người.

 

By VÕ HƯNG THANH

          (07/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét