NÓI VỀ NGUYÊN LÝ TỒN TẠI VÀ PHÁT
TRIỂN
CỦA VŨ TRỤ CŨNG NHƯ THẾ GIỚI THỰC
HỮU
Thế
giới chung quanh chúng ta và cả chính bản thân chúng ta đều là thế giới tồn tại
khách quan và cụ thể. Thế giới đó là thế giới vật chất bên cạnh thế giới sự sống.
Tức vật chất vô cơ, vật chất hữu cơ, sinh học và ý thức (consciousness) hay
tinh thần nhận thức (spirit of knowledge). Tất nhiên thế giới này, thế giới
chúng ta, mọi người đang sống trên hành tinh trái đất hay địa cầu này nằm trong
lòng của toàn thể vũ trụ rộng lớn, bao la, bao quát (universe, Universum,
univers). Tiếp đầu ngữ Uni- đã có nghĩa là một, thống nhất, nhất thể, bao gồm,
bao chứa, bao quát tất cả trong đó. Đó cụ thể là thế giới thiên văn, thế giới
thái dương hệ (hệ mặt trời), ngân hà, thiên hà, và toàn bộ vũ trụ (Cosmos) nói
chung. Đến nay ngoài các dạng thể vật chất (matter) chỉ chiếm một phần rất nhỏ
(dường như không quá 7%), còn phần lớn chỉ là thành phần vật chất đen (black
matter) hầu như chiếm cứ phần lớn. Mọi vật thể thiên văn hay vật thể vũ trụ đều
là những đơn vị cụ thể có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, bằng các công cụ
quan sát, hay bằng cách nào đó về khoa học trong lòng vũ trụ, còn vật chất đen
hay vật chất tối (dark matter) thì không thể “nhìn” trực tiếp thấy được, tức nó
là dạng vật chất vô hình theo nghĩa thông thường. Còn riêng về sự sống sinh học
hay dạng sống nào đó khác có tồn tại ở một nơi nào đó trong toàn vũ trụ hay
không, điều đó đến nay loài người chưa tìm thấy hay chứng minh ra được.
Chỉ
riêng trên mặt đất hay địa cầu dĩ nhiên ai cũng biết có tồn tại vật chất cụ thể
và sự sống cụ thể, sự sống sinh học, như cơ thể các loài sinh vật, gồm cả thực
vật, trong đó có chúng ta, là điều không thể phủ nhận được. Bởi tất nhiên sự sống
sinh học phải được xây dựng trên nền tảng vật chất cụ thể, đó là điều hoàn toàn
khách quan, tự nhiên, vì sinh học không thể hoàn toàn trừu tượng, vô hình mà nó
phải tồn tại qua cơ chế các tế bào cũng như toàn bộ các cơ thể (organism) mọi
loại được làm nên từ đó, tức từ thể sống đơn bào (các loại vi khuẩn nhỏ nhất) đến
thể sống đa vào (các loài thực, động vật) cấp cao hơn. Nhưng con đường biến đổi
thế nào từ vật chất vô cơ đến sự sống sinh học hữu cơ là điều đến nay chỉ mới
có những giả thuyết thô, đơn giản, còn thực ra khoa học đều chưa chứng minh được
hoàn toàn rõ ràng, cụ thể. Tức sự sống (life, vie, Leben) đều là một dạng trừu
tượng hay vô hình được tiềm ẩn qua mọi cơ chế sinh học (biological) hữu hình.
Cái
hữu hình cụ thể và cái vô hình trừu tượng ở đây như vậy hoàn toàn có sự giao
thoa với nhau, sự tương ứng với nhau, nhưng khoa học quan sát (observation) vẫn
chưa thể chứng minh tuyệt đối được. Đây có thể phải thuộc mặt triết học mà mãi
mãi vẫn vượt thoát hay ra ngoài, nằm bên ngoài mọi ngành sinh học (biology) cụ
thể như thường có. Tuy vậy nếu vượt lên bậc cao nữa là ý thức hay nhận thức hiểu
biết, thì lại còn vượt trên cả sự sống sinh học, vì ở đây thuộc tâm lý học
(psychology) triết học (philosophy) hoặc cả siêu hình học trong phạm vi triết học
(metaphysics) thì quả thật phạm vi còn hoàn toàn đào sâu và mở rộng ra hơn nữa.
Bởi các loài cây cối thảo mộc, thực vật nói chung, tất nhiên chúng có thể có khả
năng cảm nhận, cảm thức nào đó, tuy mơ hồ, giản dị nhất (sensation) nhưng không
thể chối bỏ, như cảm nhận ánh sáng, cảm nhận tiếng động, cảm nhận các vật thể
khác, như quang động, âm động, kiểu các loại cây đều hướng ra ánh sáng, hay cây
mắc cỡ sẽ sụp lá lại khi ta đụng tới nó.
Riêng
phần các loại động vật cao cấp như loài vật hay loài người chúng ta, ngoài phần
cảm giác ý thức tâm lý (sense), còn phần nhận thức (knowledge, connaissance,
Wissen) là điều mà ai cũng rõ. Có nghĩa đối tượng căn cơ nhất của thế giới loài
người vẫn là nhận thức luận (epistemology) và tồn tại luận (ontology) và điều
đó cũng thành căn cơ cho triết học và cho khoa học là điều mà từ nhiều ngàn năm
qua con người vẫn luôn theo đuổi. Hai điều này tuy cùng nền tảng nào đó nhưng
không bao giờ trùng lắp nhau hay thay thế được cho nhau. Ngoài ra, tức ngoài mặt
tri thức, nhận thức, con người còn có tình cảm, cảm xúc, bản năng là điều tự
nhiên phải có. Bởi con người không phải đá, gỗ, nên đều có nhiều loại phạm trù
về tinh thần, ý thức, động lực khác nhau. Đó chính là phần “hồn” của con người,
không hoàn toàn chỉ thuần túy có phương diện thân xác, sinh học như muôn loài động
vật khác.
Bởi
vậy mặt xã hội của con người cũng hoàn toàn phong phú đa dạng. Sinh vật sống tập
đoàn cũng có mặt xã hội riêng của nó, như san hô, ong, kiến, mối, khỉ vượn, khuẩn,
tảo, vi rút v.v... nhưng không có trí thông minh cao, không có ý thức tinh thần,
hiểu biết mở rộng như con người, nên thật sự chúng chỉ hoàn toàn hạn chế theo
quy luật khách quan tự nhiên. Nhưng con người lại hoàn toàn khác, con người nhờ
có ý thức tinh thần, nhờ có đầu óc thông minh cao hơn, nên tuy phải sống trong
lòng các quy luật vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý, xã hội khách quan, tự
nhiên, con người còn có tư duy lựa chọn và khám phá, đó là điều đặc biệt của
loài người mới có. Mà trong tâm lý tự nhiên vốn có của con người trong cuộc sống,
điều đáng nói nhất là tinh thần cộng đồng, tức tinh thần chia sẻ, giúp đỡ nhau,
về vật chất, đời sống, cả về mặt tình cảm, nhận thức. Nhiều khi điều đó không
phải chỉ là khuynh hướng khách quan lại còn là nghĩa vụ tự nhiên. Nó tạo thành
niềm vui, sung sướng cho bản thân chủ thể cũng như cho đồng loại, tha nhân. Sự
chia sẻ cả vật chất lẫn hiểu biết, tinh thần là điều nổi bật nhất. Chia sẽ nhận
thức, hiểu biết, trí thức chính là nghĩa vụ và bổn phận cao cả mà luôn luôn
trong thế giới con người đều có. Sự chạm râu của loài kiến chỉ là nhu cầu thúc
đẩy nhằm mọi thông tin ích lợi. Nhưng sự trao đổi kiến thức, hiểu biết, nhận thức
của con người không phải chỉ nhằm ích lợi mà nhiều khi hoàn toàn vô tư, vị tha,
cao cả. Bởi nếu con người chỉ biết sống ích kỷ cho bản thân, hoàn toàn co lại,
chỉ biết có chính mình, lối sống đó cũng có khác gì đời sống của cây cỏ, sinh vật,
hay động vật khác nói chung. Ích kỷ cả mặt tinh thần và vật chất, quy lưng lại
một cách thấp kém, vô lối với chính đồng loại của mình. Đó cũng chính là ý
nghĩa cao cả của văn học nghệ thuật, của khoa học, và của cả triết học, hay tư
duy tư tưởng nói chung trong xã hội loài người.
Như vậy,
hễ đã là sự tồn tại sinh học, nhân văn, thì phải có nhu cầu và mục đích của sự
sống. Quyền tư hữu riêng tư chính là quyền căn bản, và nhu cầu xã hội cũng là
quyền căn bản tự nhiên không thể thiếu. Nói cách khác con người sống trong thế
giới vật chất, có bản thân vật chất là điều hoàn toàn khách quan tự nhiên,
nhưng ý nghĩa căn cơ vẫn là ý thức, nhận thức tinh thần, đó mới là ý nghĩa hay
cả nhu cầu sâu xa nhất. Nên văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, triết học, khoa học
nói chung, đều là nhu cầu luôn luôn không thể không có trong thế giới loài người.
Nhu cầu này là động lực, tiềm lực, đòi hỏi luôn luôn phát huy và diễn tiến
không ngừng trong chính đời sống cá nhân và xã hội. Có nghĩa thế giới không thuần
là vật chất, không toàn là vật chất, mà có nhiều điều gì đó sâu hơn, cao hơn, rộng
lớn, bao quát hơn, tinh vi, tinh tế hơn, mà tinh thần mỗi cá nhân, tinh thần
nhân loại, vẫn luôn là những điều không khi nào phủ nhận được.
Tư hữu
và kinh tế, đó là nhu cầu thiết yếu nhất của mọi cá nhân và xã hội. Bởi chính
nó duy trì tất cả và làm nên tất cả mọi cái khác phải phụ thuộc vào nó. Kinh tế
luôn luôn trước hết phải dựa vào kỹ thuật, dựa vào nhu cầu tư hữu, vào nền tảng
xã hội mà không thể nào khác. Đó chính là động lực, động cơ, cơ cấu cho mọi
phát triển kinh tế, cả tiềm lực mọi sáng kiến qua hoàn cảnh, thời gian, cũng là
điều đáng nói nhất. Bởi vậy chủ trương vô sản, chủ tương đấu tranh giai cấp, chủ
trương độc đoán, chủ trương đơn thuần tập thể, chủ trương vật chất thuần túy,
đó đều là sự nông cạn, sự vô lý, sự khờ khạo, sự hời hợt, sự tà mị, sự phi thực
tế, phi thực chất, phi lý của chính quan điểm học thuyết Mác. Bởi mọi cá nhân
con người, ngoài phân thân xác thể lý, quan trọng hơn còn phần tâm lý tinh thần,
phận nhận thức hiểu biết, mới là điều quyết định và cũng là mục tiêu mục đích cứu
cánh sâu xa nhất. Cho nên kinh tế không thể nhất thiết chỉ là kinh tế dựa vào động
lực cơ bắp, mà chính kinh tế tri thức, kinh tế khoa học, mới là điều ý nghĩa,
hiệu năng, và hoàn chỉnh hơn cả.
Bởi vậy
khi Mác nói thượng tầng kiến trúc phản ánh hạ tầng cơ sở, chỉ là cách nói mò trực
giác suông mà không phân tích được điều gì cụ thể cả. Nói chỉ để nói mà không
chứng minh xác đáng khoa học cũng chỉ là kiểu ăn ốc nói mò, thật chẳng nghĩa lý
gì sâu xa hết. Hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc, câu nói làm nhiều
người say mê, tâng bốc, nhưng thực sự nó chỉ nông cạn, mơ hồ, chẳng có gì sâu
xa cả. Bởi kiểu nói có cái gì mà chẳng nằm trên mặt đất, có cái gì mà không có
nguyên do, chẳng có cái gì mà không phát sinh ra hậu quả, hay kiểu trong toán học
tổng số phải bằng hai hay nhiều số cộng lại, đều chỉ là những nhận định thừa bởi
vì ai cũng biết. Vấn đề là cần chứng minh chính xác khoa học một cách cụ thể,
chắc chắn và chi tiết, mới là điều mà khoa học cũng như mọi người luôn cần đòi
hỏi. Cho nên thuyết duy vật của Mác là hoàn toàn mơ hồ, mặc dầu dựa trên nền tảng
cụ thể khách quan nửa chừng, thuyết duy vật biện chứng càng mơ hồ hơn, bởi vì
thêm vào đó một yếu tố còn mơ hồ nữa, đến thuyết duy vật lịch sử, lấy kinh tế
phiến diện làm chỗ dựa, lồng vào trong quan điểm “biện chứng” chỉ có tính ức
đoán, tưởng tượng, quy chụp, thì thật chẳng có gì mờ mịt và phi lý hơn, mà mục
tiêu chỉ là mơ mộng hão huyền, gọt chân cho vừa giày, quả đó là điều phù du,
huyễn tưởng nhất trong lịch sử nhân quần, xã hội.
Trong
khi đó mọi nhận thức con người dù cao cả, thiết yếu tới đâu, cũng chỉ đều mang
tính cách tương đối, tức luôn phát triển, tiến hóa theo dòng lịch sử, nơi cá nhân
cũng như xã hội. Nhận thức của Mác là nhận thức trong thời đại, tùy thuộc vào
năng lực cá nhân của mình, lại tự nhận là bao quát, bao trùm cả lịch sử phát
triển của tồn tại và xã hội, thật không gì chủ quan, hạn hẹp, rỗng tuếch và huênh
hoang cho bằng. Chủ nghĩa xã hội cộng sản khoa học thực chất chỉ là một kịch bản
hoàn toan tưởng tượng, chỉ do Mác cao hứng, huyễn hoặc đưa ra mà thực chất
không bao giờ xảy ra được trong thực tế, chỉ bởi vì nó đều do tính cách mơ mộng, tưởng tượng của duy một cá nhân Mác, mà không
hội đủ mọi cơ sở khoa học khách quan cụ thể, đầy đủ và cần thiết nào hết.
Bởi vậy
triết học không bao giờ chỉ là sự trích đoạn cụ bộ, mà phải cần hệ thống toàn
diện. Nó hoàn toàn không giống như mọi loại khoa học thực nghiệm cụ thể. Trong
khi đó Mác chỉ dựa vào nền tảng lý thuyết Darwin, nền tảng lý thuyết tế bào học
còn sơ đẳng khi đó, nền tảng của lý thuyết kinh tế chính trị học cổ điển kiểu
Ricardo và Adam Smith, nền tảng của các thuyết xã hội, cộng sản không tưởng
trong thời đại mình như Pháp, Anh, Mỹ, nhất là dựa vào quan điểm biện chứng luận
duy tâm của Hegel, để xào nấu lại, nâng cấp lên, hòa trộn tùng phèo lại với
nhau, gọi là học thuyết cách mạng cho muôn thuở, vô địch thống trị cho khoa học
nhận thức về lịch sử, thực hành cho xã hội, thì quả không có chỗ hớ hênh, trịch
thượng, độc đoán, cưỡng chế, úp chụp phi lý cho bằng. Cho nên hệ thống của Mác
chỉ là một hệ thống trích đoạn tưởng tượng, nó hoàn toàn củn cởn, vớ vẩn, không
đầu không đuôi, không gắn vào hệ thống chung toàn điện nào của vũ trụ tồn tại hết
mà chỉ là quơ vào, ức đoán, ức chế, ảo tưởng, thành ra cũng chẳng có nghĩa lý
thực tế gì về mặt chính trị, xã hội, kinh tế, hay mọi sự cụ thể nào hết.
Nhưng
Mác vẫn luôn lấy ý nghĩa Praxix (thực tiển) ra để làm tiền đề, làm mục đích tối
hậu, trong khi hiểu thực tiển chỉ là kiểu thực tiển mơ mộng, cảm tính, thị hiếu
mà không gì khác. Đó cũng là điều tạo nên ý nghĩa cuồng dại, chủ quan, độc đoán
vô lối của Mao Trạch Đông sau này, cho trí thức chẳng bằng một cục phân, từng
thời đình đám nổi tiếng mà ai cũng biết. Trong khi đó Mác coi mọi quan điểm, hiểu
biết, nhận thức nào không giống như Mác đều là “tư sản”, kể cả đạo đức truyền
thống cũng bị coi như thế. Nên Mác với Mao chỉ đều một khuôn đúc, tức không
công nhận nền tri thức khách quan của lịch sử nhân loại, coi thường trí thức
nói chung, bị toàn quy chụp vào trí thức “tư sản”, mà chỉ quơ duy vào mục phục
vụ cho “chuyên chính vô sản” mới coi là chính thống hay được thừa nhận. Thật đều
quan điểm võ đoán, không còn cần biết muôn việc thế gian trong cuộc đời là gì nữa.
Vậy nên
nguyên lý tồn tại và phát triển của vũ trụ nói chung và thế giới thực tại nói
riêng, vẫn luôn là hệ thống mở, không bao giờ là hệ thống đóng. Bởi mở là triển
khai, khai phóng, còn đóng luôn là bế tắt, thủy cựu, chủ quan, cục bộ. Chính hệ
thống mở đó mà từ ngàn xưa khoa học và triết học đều luôn phát triển, kể cả các
tôn giáo cũng dự phần vào đó. Đó cũng là hệ quả mà nền kinh tế, văn hóa, xã hội
… nói chung đều cùng là hệ thống mở. Nó luôn thật sự đa dạng và triển khai mở rộng
không ngừng. Nói khác tính “biện chứng” ở đây là tính tác động qua lại đều
trong mọi mặt, không phải là kiểu biện chứng xơ cứng, bế tắt, công thức máy
móc, vô lối, vô bổ kiểu tiền đề, phản đề, hợp đề, hay mâu thuẫn, phủ định, rồi
phủ định phủ định, kiểu bất tận, theo cách tư biện thuần túy rỗng tuếch mà Mác
cóp theo Hegel đã độc đoán đề ra.
Nói
chung lại, đây là vấn đề rộng lớn, sâu xa, và bao trùm hết thảy, cần phải được
đưa ra cho mọi người cùng thưởng lãm. Tôi không phải người Miền Bắc “giỏi lý luận”.
Tôi chỉ là người Trung Nam Bộ, tức Miền Nam thôi, nên không theo kiểu “chính thống”
Mác Lê, mà chỉ là loại tư tưởng tự do, đơn thương độc mã. Quan điểm đưa ra này
không cần phải giống ai, không cần phải lấy lại của bất cứ ai. Bởi làm triết học
là phải hoàn toàn độc lập, có thể trùng khớp phần nào đó của người khác nhưng
không cần lấy lại của người khác. Triết học không phải là hệ trí nhớ mà là một
hệ khai phá. Trí nhớ chỉ tạo ra người học triết mà không phải người làm triết học.
Người triết gia và nhà triết học theo nghĩa nghiên cứu triết học đã có cũng
khác nhau kiểu đó. Nhà thơ và người nghiên cứu thi ca các loại cũng khác nhau
kiểu đó. Ở đây tôi muốn nói đến một học thuyết mới, một học thuyết tự khai
phái, có thể không giống bất cứ ai, nhưng cũng không phải khác biệt ngược ngạo
hay lập dị hơn bất cứ ai.
Nói rõ
rệt, ở đây tôi không cho vũ trụ cụ thể toàn diện chỉ hoàn toàn là “vật chất”
như kiểu Mác, Engels, Lênin. Tôi không cho “biện chứng” là nguyên lý thiết yếu
hay khách quan đúng đắn. Tôi cũng không cho sự tồn tại của bản thể vũ trụ chỉ
kiểu chất thể nào như những nhà triết học cổ đại Hy lạp trước Socrate. Ngược lại
tôi cũng không cho nguyên lý hay thực chất hiện hữu của vũ trụ chỉ duy là bản
thể kiểu Spinoza, hay toàn toàn là chủ thể kiểu tuyệt đối trừu tượng như Hegel.
Cũng không phải kiểu kết hợp ba phải giữa cả hai. Mà gần suốt cuộc đời nghiên cứu,
tư duy, và chiêm nghiệm triết học, tôi nhận định rõ rệt cốt loại bản chất vũ trụ,
vừa là một Bản thể (Substance) đồng thời vừa là Chủ thể (Subject) đồng nhất hay
song hành trong một.
Bởi vì
vật chất thuần túy không bao giờ có thể tự sáng tạo ra được sự tồn tại của
chính nó. Phải có cái gì tuyệt đối cao hơn nó mới có thể tạo ra được nó. Vật chất
bởi vậy luôn chỉ là một hiện tượng có thật, sự hiện hữu của nó chỉ là sự hiện hữu
trên bình diện hiện tượng, nhưng là loại hiện tượng có thật không thể nào phủ
nhận được. Sự tồn tại của nguyên tử và hạt nhân là sự tồn tại có thật, các loại
hạt cơ bản cũng đều có thật, nhưng có thật chỉ trong mọi hiện tượng vật chất. Bởi
vậy vật chất không thể nào là chủ thể, là tinh thần, là cái tuyệt đối năng lực.
Chỉ tinh thần tối thượng, vô hạn, năng lực tuyệt đối mới có thể tạo ra, chuyển
biến ra điều ấy. Cũng không thể có việc ex
nihilo một cách hoàn toàn đơn giản, hay thế giới vũ trụ chỉ hoàn toàn là ảo
ảnh, là hư vô tuyệt đối theo kiểu quan điểm của chủ thuyết hư vô (nihilism). Bởi
hư vô tuyệt đối thì không thể tạo ra cái gì cả, và nếu toàn thể vũ trụ chỉ là
hư vô thì thành điều hoàn toàn nghịch lý và cũng không còn điều gì phải đáng
nói cả.
Nên
không thể cho Vụ Nổ Lớn đầu tiên (Big Bang) là hiện tượng tự có, để từ đó có vật
chất mọi loại, mà cơ bản là các nguyên tử, bao gồm cả điện tử, và hạt nhân của
nó. Vũ trụ cũng không thể chỉ thuần túy năng lượng (energy) như công thức được
Einstein tiêu biểu nổi tiếng : E = mc2. Bởi đây cũng mới chỉ là công thức vật
thể, bản tính năng lượng, mà chưa là gì với “bản-chủ-thể” của vũ trụ cả. Mà chính
đây mới là chìa, là khóa, là cốt lõi tối thượng để vũ trụ triễn khai, phát triển,
tiến hóa, nhằm tạo thành hay làm nên mọi sự. Cho nên thuyết tiến hóa sinh vật Darwin,
thuyết tiến hóa vũ trụ của P. de Chardin, cũng chỉ mới là sự mô tả trích đoạn,
chưa phải tuyệt đối hoàn chỉnh, trọn vẹn.
Nhưng
còn điều cuối cùng, bản chất của vũ trụ không phải bao giờ hoàn hảo mà còn những
loại khuyết tật thì sao. Đó không phải chỉ là một kịch bản hoàn toàn tuyệt diệu,
hay do, đẹp đẻ, chỉnh đốn và hoàn hảo, bởi vì còn những góc khuất, nhưng mặt
trái của kịch bản thì sao ? Như là “cái ác”, cái xấu trong thiên nhiên, trong bản
thân con người lẫn cả trong xã hội thì giải thích thế nào ? Kiểu đây chỉ như
dòng sông chảy từ nguồn thanh khiết diệu vợi, như rồi về sau nảy sinh và phải
cuốn theo cả bao rác rến chính là điều không thể tránh được. Cái xấu, cái tiêu
cực, cái ác (evil) trong con người và xã hội do đâu mà có ? Bản năng thấp kém
do tự đâu mà có, đó còn là vấn nạn, là vấn đề không hề phải nhỏ. Đó có phải sự
vận động, sự mâu thuẩn, nghịch lý gọi là “biện chứng” giữa hai mặt tồn tại gọi
là đối lập hay không ? Điều đó thật sự không phải hoàn toàn đơn giản. Điều này
có thể cần phải mở rộng giải thích và chiêm nghiệm thêm. Vả điều đó cũng phải
là một bộ phận lý giải khác bổ sung cho toàn bộ hệ thống mà nhất thiết không thể
nào thiếu.
Tuy
nhiên ở đây chỉ là vài tư tưởng giáo đầu, giới thiệu quan điểm lý thuyết của
mình nên tôi chưa thể trình bày, triển khai hoàn toàn đầy đủ. Nên toàn bộ chủ đề
này như từ đầu đã thấy, không phải chỉ trong một bài viết mà đúc kết được hết,
nhưng chắc chắn cần phải được cân đối, hoàn chỉnh, triển khai ra sâu xa hơn trong
một hệ thống tác phẩm mà tương lai hi vọng phải có. Niềm vui và sự cần thiết của
triết học chính là như vậy. Từ cổ chí kim mọi người làm triết học, mọi triết
gia đều cảm thấy gắn bó với điều hứng khởi và nhiệm vụ như như đang nói. Mọi
nguồn lạch và trăm sông đều đổ ra biển cả, cũng giống như mọi tư duy thích đáng
đều cùng đi đến chân lý. Đó là điều mọi người đều có thể làm được, nhưng cũng còn
phải tùy vào các điều kiện, năng lực, khả năng chủ quan của tư duy, cùng sự đam
mê, sự quyết chí, hay ngay cả đến sứ mệnh tự đặt ra, hay được đặt ra đâu đó,
cho những con người, không phải nhất thiết ở bất kỳ đâu, mà chính là trên toàn
thế giới, cũng như được xuyên suốt đến cả trong toàn bộ lịch sử của loài người.
By VÕ
HƯNG THANH
(07/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét