KHOA
HỌC VÀ TRIẾT HỌC LÀ GÌ, HAY
THẾ
NÀO LÀ KHOA HỌC VÀ TRIẾT HỌC ?
Chủ
đề này không phải mọi ai đều đã hiểu, hay đã hiểu một cách sâu xa và nền tảng
nhất, mặc dầu nó rất quan trọng, bởi vậy ở đây hôm nay nhất thiết phải được đề
cập tới.
Bởi
ai cũng biết con người là sinh vật hay tồn tại có trí thông minh, tức khả năng
nhận thức cao nhất trong đời sống hay trên mặt đất, nói khác đi là có năng lực
lý trí mà loài vật không có, đó cũng chính là nguyên nhân hay sự khởi nguồn của
khoa học và triết học.
Có
nghĩa khoa học và triết học đều có nguồn gốc và mục đích giống nhau, đó là khảo
sát, suy nghĩ, tìm kiếm, để thấy ra chân lý để nhằm đem áp dụng cho bản thân cá
nhân và cộng đồng chung trong xã hội. Thế nhưng hai lãnh vực hay phạm vi này
tuy dầu có cùng nguồn gốc, mục tiêu và bản chất, nhưng không phải hoàn toàn đồng
nhất trong mọi trường hợp, bởi nếu hoàn toàn đồng nhất thì chỉ cần một, không cần
tách hai một cách dư thừa hoặc không cần thiết.
Thật
vậy, con người đầu tiên trong phát triển tiến hóa xã hội của mình qua lịch sử,
họ đã biết đến kỹ thuật như một lợi ích hữu ích nhất. Ví dụ phương cách dùng lửa,
kỹ thuật đi săn bắn, hái lượm, kỹ thuật bện dệt các loại vỏ cây, kỹ thuật đào đất,
dẫn nước v.v…thật nhiều vô kể tùy nơi tùy lúc, nhưng luôn luôn hoàn toàn hữu
ích cho cuộc sống mỗi người trong họ.
Có
nghĩa kỹ thuật có thể trước hết chỉ do kinh nghiệm, tức sự học tập lặp đi lặp lại
càng càng càng tinh vi và hiệu quả hơn, nhưng hoàn toàn không thành một hệ thống
chắc chắn hay chính xác tuyệt đối nào khác. Điều đó hoàn toàn khác với khoa học,
mặc dầu như đã thấy, khoa học nhất thiết đã phải bắt nguồn từ kỹ thuật. Tức kỹ
thuật có thể phát sinh bất ngờ trong cuộc sống, nhưng khoa học nhất thiết phải
có bề dày nghiên cứu, đúc kết sâu sắc, và tạo thành các nguyên lý chung cùng
các kết quả luôn luôn chính xác nhất.
Nói
khác đi, khoa học không phải bắt nguồn từ số không, nhưng trên mọi nền tảng kỹ
thuật, hiểu biết đã có, được đúc kết lại, được mày mò nghiên cứu, thử nghiệm
sâu xa thêm, tìm ra các nguyên tắc, nguyên lý chính xác cố định, với sự giúp đỡ
của các công cụ trợ lực thích hợp, để càng ngày càng đi sâu vào mọi bản chất sự
vật cụ thể trước mắt. Ban đầu đó có thể chỉ là những công cụ thô sơ, như thước
đo, cân đếm, để tính toán về trọng lượng, về các dữ liệu bên ngoài cần thiết,
như trọng lượng, thể tích, số đo nào đó nhất thiết, để giúp cho chính xác trong
việc nhận thức, khảo sát. Dần dà các công cụ tự nó được khám phá, cơ cấu, thiết
chế hoàn chỉnh hơn, con người đi đến khai sáng ra kính hiển vi, kính thiên văn,
máy đo các loại khác nhau, máy kiểm nhận các loại khác nhau, kỹ thuật phát triển
từ cơ giới, sang máy móc dùng điện, điện từ, điện tử, hoặc mọi kết hợp tinh vi
khác, cho mọi lãnh vực từ sinh học đến không gian vũ trụ, giúp cho khoa học
càng ngày càng mở rộng, đi lên phát triển.
Nói
khác đi, kỹ thuật và khoa học là hai bộ phận anh em phải luôn có nhau, không thể
chỉ đứng một mình, mà ảnh hưởng, tương tác qua lại, cái này trợ lực cho cái
kia, làm phát triển cái kia, và ban đầu không thể nói cái nào mới là tiên quyết
cả. Nhưng càng về sau khoa học càng tách xa hơn với kỹ thuật, bởi tự mình hình
thành ra hệ thống lý thuyết, trong khi kỹ thuật vẫn quanh quẩn trong vào lặp đi
lặp lại và phải chờ những kết quả mới của khoa học để có thể phát triển đi lên.
Vậy
nói chung khoa học là hệ thống lý thuyết chính xác có chiều sâu thuộc về mỗi
lãnh vực riêng biệt, mặc dầu có thể tương quan với nhau trong những chừng mực
nào đó nhất định, nhưng đều đi đến những nguyên lý, những công thức, nhận nhận
thức trừu tượng về mặt lý thuyết bao quát dù nó không bao giờ nhìn thấy cụ thể
trong thực tế, trừ ra những kết quả hiện tượng cho ra trong thực tế mới mới có
thể nhìn thấy cụ thể được. Khoa học bởi vậy có thể là hệ thống lý thuyết chuyên
ngành, liên ngành, nhưng đều có đặc điểm là hệ thống chặt chẽ, liên quan, cụ thể
cũng như bao quát. Điều đó xảy ra trong các khoa học cơ sở hay cơ bản như toán
học (trong có hình học, số học, đại số học chia ra các loại), giải tích học,
các khía cạnh tổng hợp, liên quan giữa chúng với nhau. Và các ngành khoa học tự
nhiên hay khoa học thực nghiệm, như y học, sinh học, vật lý, hóa học, địa chất,
thiên văn học, điện tử học v.v…Ngoài ra còn có ngành khoa học vượt khỏi các
ngành tự nhiên mà hướng đến bản thân con người và xã hội, gọi là ngành khoa học
nhân văn xã hội, như nhân chủng học, tâm lý học, ngôn ngữ học, lịch sử học, xã
hội học, có khi trong đó kể cả triết học.
Như
thế khoa học nói chung có đối tượng nghiên cứu, khảo sát, tìm kiếm mọi đối tượng
trong thế giới tự nhiên, khách quan, thông qua con đường định lượng bởi các
công thức hay các nguyên lý cụ thể, dành cho các ngành tự nhiên và cơ bản.
Trong khi các ngành khoa học về nhân văn và con người thường chỉ định khung
trong các tính chất định tính, mô tả hay nhận định về các nguyên tắc biểu lộ hoặc tiềm ẩn. Điều đó có nghĩa ai
cũng có thể nghiên cứu khoa học được, nhưng trước hết cần phải có cơ sở đã được
đào tạo, cần có óc thông minh, sáng kiến, cần niềm đam mô, mục tiêu cao cả, cần
có đạo đức khoa học, như sự chính xác, khách quan, vô tư, không vụ lợi riêng,
không ma giáo, tà mị, mà chỉ vì mục tiêu chân lý, mục đích phục vụ xã hội và cộng
đồng.
Như
vậy còn phần triết học thì sao ? Triết học tuy thuộc tuy thuộc về phần khoa học
nhân văn, khoa học con người, nhưng thật ra bản chất, phương pháp, cũng như mục
tiêu hoàn toàn khác hẳn. Triết học là anh em chung, anh em đồng song của khoa học
nói chung ngay từ đầu, nhưng không phải an hem của từng bộ môn khoa học đặc biệt
nào cả từ xưa đến nay. Triết học và khoa học đã bắt nguồn ngay từ đầu trong thời
cổ đại Hy Lạp. Kể từ đó cho đến thời trung, cận đại ở Âu châu, nhiều nhà khoa học
đồng thời cũng nhà triết học hay ngược lại. Từ Aristote đến Descartes là hai
trường hợp tiêu biểu nhất, hay trong thời cận hiện đại kiểu như Russel, Whitehead, và bao nhiêu trường hợp khác nữa
nói không thể hết. Hay nói khác, triết học tuy là giống với khoa học về mặt bản
chất, nhưng lại khác về nguồn gốc, mục tiêu, cũng như kể cả phương pháp luận.
Triết học khác với mọi khoa học khác về đích điểm của chân lý, đó là điều nhất
thiết phải được làm rõ.
Nói
khác đi, chân lý triết học là chân lý tối hậu, chân lý bao quát nhất, đó cũng
có thể là chân lý duy nhất, trong khi chân lý mọi khoa học đều là từng chân lý
cụ thể riêng biệt, không nhầm lẫn nhập nhòa, không lẫn lộn nhau một cách một
cách nói chung. Khoa học luôn luôn đi tìm sự kiện cụ thể trong mọi hiện tượng tự
nhiên, nên kết quả tìm ra cũng chỉ có thể riêng, như các công thức định luật
hóa học, công thức định luật vật lý, công thức định luật thiên văn học, toán học,
sinh vật học, địa chất học, di truyền học v.v… chẳng hạn. Trong khi đó triết học
lại đi tìm nguyên nhân chung nhất, hay là chân lý cao nhất, tối thượng nhất, tột
cùng nhất, trừu tượng kể cả bao quát nhất, như sự tồn tại hiện hữu, như sự nhận
thức, như nguyên nhân khởi thỉ của vũ trụ không khác, mà tiêu biểu nhất của triết
học (Philosophy), vẫn không đi ra ngoài bộ môn siêu hình học (Metaphysics), mặc
dầu trong đó vẫn bao hàm tri thức luận và tồn tại luận hay hiện hữu luận mà ta
đã biết.
Cho
nên nếu phương pháp của khoa học trước hết là cân đo đong đếm một cách chính
xác để tìm ra mối quan hệ định lượng, định tính nơi các hiện tượng sự vật cụ thể,
nhằm tìm ra các công thức, các quy luật, các lý thuyết riêng biệt, thì triết học
trái lại vượt lên, vượt qua tất cả mọi cái đó. Bởi vậy nếu khoa học đều cần đến
những công cụ cụ thể, thì công cụ chung của triết học chỉ là toàn bộ mọi khoa học
mà không riêng điều gì khác. Nói khác đi, công cụ duy nhất của triết học chính
là tư tưởng, là tư duy, là lý trí, là sự cảm nhận chung nhất, không cần sự
riêng biệt, tủn mủn, riêng tư, cụ thể duy nhất nào đó của khoa học. Khoa học
luôn phải dùng đến lý trí, nhưng triết học thường chỉ dùng đến trực giác thuần
lý, tất nhiên cốt lõi vẫn là lý trí thông thường, cơ bản bên trong, nhưng không
phải chỉ riêng điều đó là đủ.
Bởi
nếu khoa học luôn cần đến sự quan sát, đo đếm, thử nghiệm, kết luận, thì triết
học ngoài sự quan sát, chiêm nghiệm, phải cần đến trực giác, tư duy, cần sự
nghiệm định và sự trực nhận căn cơ, sâu xa và hoàn chỉnh nhất. Do vậy ai cũng
có thể làm triết học được, tư duy triết học được, nhưng không phải ai cũng làm
được. Điều đó cũng giống như việc làm khoa học trên đây đã nói. Ngoài ra còn cần
có năng lực, năng khiếu, tài năng nào đó, cũng giống như trong tất cả mọi lãnh
vực nghiên cứu khác. Đầu óc phân tích, đầu óc tổng hợp, đầu óc liên kết, thậm
chí trong triết học còn phong phú, bao quát, tinh tế, sâu lắng hơn cả mọi ngành
khoa học. Đó cũng là tính cách khiến triết học bao quát hơn cả mọi ngành khoa học.
Nói khác đi, triết học không từ chối, không phủ nhận, không thể không có mọi
ngành khoa học, nhưng triết học không phải chỉ là khoa học. Bởi nếu như thế thì
có cần gì sự tồn tại của triết học. Khi hai bên đã hoàn toàn bằng đầu bằng đũa,
thì có cần chi vận dụng đến cả hai mà chỉ cần bỏ đi một cũng vẫn là vô hại.
Đây
cũng điều mà chính Mác đã hoàn toàn phủ nhận triết học. Mác cho triết học chỉ
thuộc bình diện thượng tầng kiến trúc, giống như mọi lãnh vực hoạt động tinh thần
khác của con người, đều là sự phản ảnh, sự phát sinh từ hạ tầng cơ sở là đời sống
vật chất, kinh tế, kể cả pháp luật, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật nói chung. Mác
coi điều đó chỉ là sản phẩm của xã hội tư sản, và khi hạ tầng cơ sở thay đổi
đi, tức khi tiến lên xã hội không giai cấp, xã hội cộng sản, mọi thượng tầng kiến
trúc cũ cũng bị xóa đi, triệt tiêu đi, trong đó có cả tôn giáo và triết học. Việc
này phải được dành ra cho một chủ đề khác. Ở đây chỉ cần nói quan điểm của Mác
là quan điểm hoàn toàn chủ quan và củn cỡn về mặt khoa học, kiểu chỉ cần nói một
chiều mà không cần biết nền tảng, bản chất, ý nghĩa cũng như giá trị của nó thế
nào. Mác nói câu thời danh “Từ trước đến nay mọi nhà triết học chỉ ngồi giải
thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, nhưng vấn đề thiết yếu là phải biến đổi
nó”.Tức ý Mác muốn nói chỉ cần nhắm mắt tham gia vào cuộc cách mạng cộng sản
trên toàn thế giới, chẳng việc gì mà phải làm triết học một cách vô ích hết. Điều
đó cũng cũng tương tự hay cùng ý nghĩa bởi câu nói phát sinh mà Mao Trạch Đông
đã từng đình đám bất chấp mọi ý nghĩa hay giá trị trí thức “Trí thức chẳng bằng
một cục phân”. Tức cục phân còn ích lợi cho nông trường cộng sản, còn trí thức
tư sản thì nào có lợi ích gì. Chỉ có điều vào cuối đời mình, chính Các Mác đã
phải thú nhận “Tôi chẳng phải là người Mác xít” (Je ne suis pas un maxist). Điều
đó cho thấy bản thân Mác chẳng hề nhất quán, nó chứa đầy mọi mâu thuẩn, nghịch
lý, như chính trong mọi tác phẩm của ông ta.
Điều
cuối cùng quan trọng nhân đây cần nói. Đó là tại sao Mác tự mình là lý thuyết
khoa học, hay là triết lý khoa học, tức “chủ nghĩa xã hội khoa học, hay chủ
nghĩa cộng sản khoa học” (scientifical socialism, scientifical communism) ? Cốt
lõi duy nhất chính vì Mác chỉ thừa nhận biện chứng luận (Dialectique, dialectics,
dialektik) trong triết học Hegel là chân lý triết học, hay chân lý khoa học duy
nhất đúng. Từ đó suy ra duy vật biện chứng (dialectical materialism) phải đúng,
rồi duy vật lịch sử (historical materialism) cũng đều nhất thiết phải đúng, tức
phải là chân lý duy nhất đúng. Tuy nhiên Mác không hề bao giờ chứng minh khoa học
tại sao Biện chứng luận Hegel là đung, cũng chẳng chứng minh triết học nó là
đúng. Mác chỉ đưa nó ra như một niềm tin tuyệt đối, một khẳng định kiểu một chiều
tuyệt đối, đây chính là một hình thức hoàn toàn áp đặt, vừa phản khoa học khách
quan thực tế mà cũng vừa phản cả khoa học. Bởi vì nền tảng, bản chất của nó là
duy tâm, là “tư sản” tại sao đem lồng vào trong bản chất “vô sản” kiểu râu ông
nọ cắm cằm bà kia, thật hoàn toàn trái khoáy, nghịch lý, trớ trêu mà Mác chẳng
hề thấy ra hay nghĩ tới. Vậy nên nếu động cơ là cái “biện chứng của Hegel” chỉ
hoàn toàn giả tạo, hoàn toàn hỏng hóc, hoàn toàn không có thật, hoàn toàn ảo tưởng,
giả tạo, thế thì toàn bộ học thuyết Mác từ duy vật biện chứng, tới duy vật lịch
sử, rồi xã hội chủ nghĩa khoa học, lẫn xã hội cộng sản khoa học mà Mác hô lên,
liệu có còn nghĩa lý hay kết quả gì không ? Đây là điều mà mọi người ngày nay buộc
cần phải biết, bởi lịch sử không thể cứ chơi mãi trò lấy thúng úp voi, cả vú lấp
miệng em, mà chính Mác đã bị quơ vào, đến nay suốt gần một thế kỷ, ở nhiều nơi
trên toàn thế giới.
Và đến đây, tưởng cũng đã phân tích xong, có
phần cặn kẽ cùng chính xác, khách quan, mọi điều nào có liên quan đến khái niệm
khoa học và khái niệm triết học đã nói. Đó cũng chính là điều mà nhà thơ danh
tiếng Tản Đà xưa kia, đã viết : “Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một
mà hai, năm nay mình mới ra đời, mà ta ra trước đã ngoài sáu mươi, cuộc nhân thế
câu cười tiếng khóc, nghề sinh nhai lối dọc đường ngang, đầu xanh ai điểm hơi
sương. Những khi cùng thẹn, những vương cùng sầu”. Bởi vì thật sự cũng khó biết
được chính xác khoa học ra đời trước, hay triết học ra đời trước, cho dầu vẫn
là anh em song sinh. Đúng ra, lại còn cần phải hỏi giữa tôn giáo và triết học,
ai ra đời trước thì mới có vẻ có lý hơn. Tại vì khoa học chỉ luôn đi tìm cái cụ
thể, trong khi tôn giáo và triết học mới đích thực là hai đàn anh, luôn đi tìm
cái trừu tượng, cái chân lý bao quát trừu tượng nhất, vốn như bản chất hướng
thượng, tò mò chính đáng, cao vời của con người, mà Mác chỉ xem như là sự phản ảnh
của “ý thức hệ tư sản”. Vả toàn bộ lý thuyết phản ảnh này (theory of
reflexion), kiểu phản xạ gương, của trường phái Mác xít, mà tôi nhất thiết cần phải
làm sáng tỏ, vì rất bổ ích, trong một ngày không xa lắm sắp tới.
By
VÕ HƯNG THANH
(05/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét