Thứ Hai, 9 tháng 8, 2021

 VỀ MỐI QUAN HỆ ĐỊNH LƯỢNG

VÀ ĐỊNH TÍNH NƠI CÁC SỰ VẬT

 

Hôm nay, trước khi đi vào việc trình bày bản chất biện chứng luận (dialectics) một cách tổng quát và chung nhất, tôi sẽ phân tích ở đây một khía cạnh từng được đưa ra của nó, khía cạnh này có trong quan điểm học thuyết triết học duy tâm của Hegel, và về sau còn được triết học duy vật biện chứng của Mác và Engels dùng lại, xem như là điều cốt lõi nhất, cơ bản nhất cho mọi quan điểm lý thuyết khác của mình. Đó gọi là quan điểm “biện chứng luận” (dialectical, dialectique), gồm trong hai chiều hướng mà mọi người đã biết : khía cạnh lượng biến đổi thành chất, và khía cạnh “Aufhebung”, tức sự tự phủ định liên tục, tự chối bỏ và giữ lại (negation and conservation, nier et réserver) tạo nên bản thân hay bản chất phát triển, tiến hóa của mình. Cả hai khía cạnh hay thành tố này đều có trong Hegel và Mác, nhưng một bên theo duy tâm, còn bên kia theo duy vật.

Ví dụ điển hình nhất của Hegel là ví dụ về rừng cây và đầu tóc. Một đầu tóc nếu loại đi, tức nhổ đi dần dần từng sợi tóc một, mái tóc đầy đặn ban đầu sẽ dần dà trở nên thưa thớt, thành hói đi và thành đầu trọc khi chẳng còn sợi tóc nào. Và chặt đốn đi từng cây một, cả khu rừng già sẽ trở thành rừng thưa, rừng trọc và cuối cùng thành vùng đất bạc, đất trống. Đó chính là lượng đã biến đổi thành chất. Dù lượng là sự vật số đo, độ đo cụ thể, nhưng lại chuyển qua chất, là số đo, độ đo hoàn toàn trừu tượng. Hai cái hoàn toàn đối lập này lại được chuyển đổi cho nhau, theo chiều này hoặc chiều khác, như kiểu trồng nhiều cái cây, trồng nhiều sợi tóc, đến lúc nào đó lượng và chất hoàn toàn biến đổi cho nhau.

Thật ra điều này có hoàn toàn đúng như vậy không ? Đó lại là việc cần nên phân tích. Thật thì đó chỉ là hiện tượng do chúng ta nhìn hoàn toàn từ bên ngoài, mới nghe qua thì có lý, nhưng thật ra bản chất không phải tuyệt đối như thế. Vấn đề vẫn cứ là số lượng tóc nhiều hay tóc ít, cây nhiều hay cây ít, điều này hoàn toàn không thay đổi về bản chất, chỉ thay đổi về số đếm, độ đếm cụ thể vậy thôi. Chẳng qua chỉ do cái “thấy” của chúng ta, sự cảm nhận của chúng ta về mặt ý thức tâm lý chủ quan vậy thôi. Từ hiện tượng này (nhiều hay ít) tâm lý chúng ta hiểu ra thành hiện tượng khác (dày, mỏng, nặng nhẹ …), độ đo đếm chuyển sang độ cảm nhận, đánh giá theo cách tự nhiên.

Hay ví dụ khác, nước đun dần dần lên đủ 1000 C thì nước trở thành sôi, bốc hơi, biến từ thể lỏng sang thể khí là hơi nước, không là gì khác. Các màu sắc nói chung cũng thế, do các sắc thái (nuance) chuyển biến, tức độ đậm nhạt, sáng tối chuyển biến, tông màu cũng sẽ hoàn toàn chuyển biến, chẳng hề là “chất” gì ở đây biến đổi cả. Như mặt trời mọc lên dần thì tới đỉnh chuyển thành buổi trưa, rồi đi xuống dần, đến lúc nào đó chuyển thành chiều, hoàng hôn, và tối. Chuyện về bình minh, chính ngọ, hay hoàng hôn, đêm tối, chẳng qua chỉ là cái nhìn hiện tượng bề ngoài của tâm lý chúng ta, còn thực chất bên trong chỉ là quỷ đạo chuyển biến của trái đất quanh mặt trời, đó mới điều căn cơ, nền tảng nhất.

Mọi tính chất khác của mọi sự vật cũng vậy, đều là những yếu tố chuyển đổi, tồn tại bên trong như sắc tố, tầng số dao động của phản chiếu ánh sáng, sự hấp thụ hoặc tỏa nhiệt, các mối liên kết hóa học nào đó tự bản thân, đều vẫn là các định luật về “lượng”, chẳng khi nào biến đổi thành “chất” như quan điểm cái nhìn hoàn toàn hiện tượng của nhận thức bề ngoài của chúng ta. Sự vật vô cơ hay vật chất vô cơ, sự vật hữu cơ hay vật chất hữu cơ, ngay cả sự sống hay bản chất sự sống cũng hoàn toàn như thế. Cái nội dung là cái khách quan, tách biệt, cái nhìn ngoài là cái hiện tượng được gắn vào, thường khi chúng chỉ mang tính hình thức mà chẳng gắn bó gì hữu cơ hay quyết định nào nhân quả (causality, causalité) cả.

Như vậy cái úp chụp gọi là “biện chứng” do từ ngoài vào thực chất chỉ là giả tạo, là hiện tượng quy chụp, nó chẳng có nghĩa lý gì căn cơ cả. Ngay như sự sống cũng thế. Sự sống sinh vật nói chung được quyết định bởi sự sống đơn vị các tế bào cấu thành ra nó, theo các quy luật di truyền nhất định (genetical, génétique), tức quyết định do chính bộ gene nội tại bên trong (genom) mà sự sống ấy chứa đựng về mặt sinh học (biological, biologique), hoạt động theo khách quan của mình, chẳng có gì gọi là “biện chứng” (dialectical, dialectique) theo cách hình thức giả tạo bên ngoài, hay kiểu nhìn thuần túy tư biện (abstract, abstraction, abstrait) theo kiểu tư duy toán học, mang tính giả thiết hoàn toàn được.

Ngay về mặt xã hội và lịch sử trong thế giới loài người cũng vậy. Cái gọi là “duy vật lịch sử” (historical materialism, matérialisme dialectique) của Mác và Engels thoát thai từ duy vật biện chứng, lấy duy vật biện chứng (dialectical materialism, materialisme dialectique) làm nền, cũng đều không thoát ra khỏi mọi tính chất đó. Tức là cái nhìn về bình diện kinh tế xã hội học, khi “lực lượng sản xuất”, phát triển, biến đổi đến một mức nào đó, sẽ tạo ra “mối quan hệ sản xuất” mới trong đấu tranh giai cấp, như Mác tâm đắc, thật ra chỉ hoàn toàn mê hoặc, hư tưởng, trên chính những cơ sở khách quan như chúng ta vừa nó. Tức kinh tế học hay hoạt động kinh tế xã hội, không bao giờ thoát ra được các quy luật về chủ thể (subjectivity), các quy tắc về vật thể (objectivity) mà chúng ta đã nhiều lần nói đến. Tức tâm lý ý thức con người và nền tảng, vật dụng kỹ thuật, là điều quyết định kinh tế, nhưng không phải thượng tầng kiến trúc, hạ tầng cơ sở, biện chứng về đấu tranh giai cấp nào đó cả. Học thuyết Mác chẳng khác gì con ngáo ộp, phiên diễn, thổi phồng ra những sự hư tưởng, không có bản chất hoặc giá trị thật để mê hoặc nhiều luận điểm trong xã hội và lịch sử mà không ai là không thấy.

Nên ở đây tôi muốn đưa ra một quan điểm lý thuyết, một quan niệm chủ thuyết, tức một nội dung triết thuyết, một học thuyết triết học hoàn toàn mới, có nghĩa là chủ thuyết về cái “Substance-Subject”, “Substance-Sujet ”, “Substanz-Subjekt”, 本体- [本體-主體)]Theory. Nó không chủ trương duy bản chất nào trong hai bản chất, nhưng nói chung cả hai đồng nhất trong một. Bởi vì nếu thiếu một trong hai thì hoàn toàn vô nghĩa. Chủ thể không thể tồn tại một cách hoàn toàn trừu tượng, kiểu Tinh thần tuyệt đối (Absoluter Geist) như Hegel quan niệm, bản thể cũng không thể là vật chất thuần túy toàn diện như Mác và Engels chủ trương, bởi bản thể phổ quát kiểu như vậy cũng không còn gì để nói, không bao giờ đi đến cái gì khác hơn là chính nó (matter), nên hoàn toàn vô nghĩa, không bao giờ có bất kỳ chủ thể nào để nhận biết ra nó trong bất kỳ khía cạnh nào nữa.

Nhưng quan điểm Bản thể - Chủ thể cũng không phải cách nói gộp hàng hai, ba phải. Không phải là sự tổng hợp (synthetise) một cách tầm thường, nhưng là một sự lý giải bao quát nhất. Bởi triết học không bao giờ là việc làm thuần túy mô tả (description), mà nhiệm vụ chính của triết học còn là đào sâu lý giải về tất cả mọi sự vật qua sự hiện hữu, tồn tại của chúng. Khoa học có thể là sự mô tả và lý giải trên cơ sở mô tả đó một cách cục bộ, đặc thù, cụ thể nào đó. Nhưng triết học thì không thể chỉ làm như vậy. Bởi làm như vậy thì triết học cũng không còn phân biệt gì hơn với khoa học thực nghiệm, và cũng không có ý nghĩa hay giá trị nào khác hơn như khoa học thực nghiệm.    

Bản thể là bản thân tồn tại của cái gì đó không thể phủ nhận. Bản thể không phải chỉ tầm thường hay thuần túy như “chất thể” mà còn là cái gì đó cao hơn. Tức là sự hiện hữu có thật, hiện hữu như một bản thể nhưng liên quan mật thiết đến khía cạnh chủ thể nào đó cũng hiện hữu trong bản thân chính nó. Điều này cũng có nghĩa giữa các mặt tồn tại của dạng vật chất khác nhau có một sự liên thông tuyệt đối, cũng như giữa vật chất và tinh thần (spirit, mind, esprit) cũng có cả sự liên hệ bản thân như thế. Đây chỉ mới là sự khởi sự đưa ra hệ thống mới của mình, tất nhiên tôi sẽ triển khai rộng rãi và bao quát khắp về sau. Điều đó thể hiện qua những thành phần, bộ phận tư duy khác nhau, và cuối cùng làm thành một hệ thống toàn diện, một hệ thống triết học có thể gọi là Thanism, Thanisme, Thanismus, mà trong tương lai sẽ dần cụ thể, xác định. Điều này cũng có nghĩa nơi đây triết học và khoa học nói chung đều sẽ được hòa trọn với nhau, hòa quyện với nhau, không còn có sự phân chia, tách biệt hay cả sự nhập nhằng với nhau nữa. Bởi nếu khoa học sẽ được quy vào những khu vực thống nhất, những quy luật thống nhất, thì triết học cũng thế, cũng quy vào những tập hợp tư duy thống nhât, những mối quan hệ triết học - khoa học thống nhất. Các ngành khoa học đều liên thông, các ngành khoa học và triết học liên thông, tư duy nhận thức và tồn tại hiện hữu liên thông, đó chính là hệ thống mở mà bất kỳ ai đều có thể tham dự được.

Hệ thống này sẽ bắt đầu bằng việc phê phán các học thuyết triết học đã có từ xưa nay để gắn chung chúng vào một trục lõi, một tâm điểm duy nhất, tức nó bao hàm nhưng không trùng lắp với mọi hệ thống, quan điểm tư tưởng đã có, cả tư tưởng triết học thuần túy cũng như tư tường triết học tôn giáo trong mọi tôn giáo xưa nay đã từng có. Đây không phải chỉ là một đống củi khô gom lại, nhưng là một cây đời mới tinh được mọc lên mới mẽ. Bởi tự nó đã được phát sinh và triển trong lòng tồn tại là như thế. Có thể nó sẽ vượt lên Hegel và vượt qua được chính bản thân tư duy của Mác, không phải là sự tổng hợp nào đó, mà là sự triển khai bao quát, vượt thoát ra khỏi mọi cái đã qua.

Bởi vì bất kỳ tập hợp, hệ thống lớn nào cũng bao gồm hay bao quát những tập hợp, những hệ thống con trong lòng nó, thì đây cũng thế. Nhưng đây lại là hệ thống mở, nên không phải tự bản thân nó triển khai ra, mà còn có sự tham gia của nhiều yếu tố mới, nhiều người mới sẽ đóng góp cũng nhau trong nó. Chẳng những thế, nó còn phải bao quát mọi hệ thống tư tưởng, triết học nào đã có trong quá khứ, đồng thời cả mọi hệ thống dị biệt nào đó khác trong tương lai cũng không thể thoát ra ngoài được nó, tức không ra ngoài được phạm vi và cả chiều sâu hay yếu chất của nó. Chính tư duy là như vậy, và ý nghĩa của mọi khoa học và triết học nói chung cũng sẽ đều như vậy. Đây thực chất chỉ là lời giáo đầu đầy ý nghĩa và trong tương lai về sau hi vọng chắc chắn nó cũng không thể ra ngoài mọi điều đã nói.

 

By VÕ HƯNG THANH

            (10/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét