VỀ MỐI QUAN HỆ ĐỊNH LƯỢNG
VÀ ĐỊNH TÍNH NƠI CÁC SỰ VẬT
Hôm
nay, trước khi đi vào việc trình bày bản chất biện chứng luận (dialectics) một
cách tổng quát và chung nhất, tôi sẽ phân tích ở đây một khía cạnh từng được
đưa ra của nó, khía cạnh này có trong quan điểm học thuyết triết học duy tâm của
Hegel, và về sau còn được triết học duy vật biện chứng của Mác và Engels dùng lại,
xem như là điều cốt lõi nhất, cơ bản nhất cho mọi quan điểm lý thuyết khác của
mình. Đó gọi là quan điểm “biện chứng luận” (dialectical, dialectique), gồm
trong hai chiều hướng mà mọi người đã biết : khía cạnh lượng biến đổi thành chất,
và khía cạnh “Aufhebung”, tức sự tự phủ định liên tục, tự chối bỏ và giữ lại
(negation and conservation, nier et réserver) tạo nên bản thân hay bản chất
phát triển, tiến hóa của mình. Cả hai khía cạnh hay thành tố này đều có trong
Hegel và Mác, nhưng một bên theo duy tâm, còn bên kia theo duy vật.
Ví dụ
điển hình nhất của Hegel là ví dụ về rừng cây và đầu tóc. Một đầu tóc nếu loại
đi, tức nhổ đi dần dần từng sợi tóc một, mái tóc đầy đặn ban đầu sẽ dần dà trở
nên thưa thớt, thành hói đi và thành đầu trọc khi chẳng còn sợi tóc nào. Và chặt
đốn đi từng cây một, cả khu rừng già sẽ trở thành rừng thưa, rừng trọc và cuối
cùng thành vùng đất bạc, đất trống. Đó chính là lượng đã biến đổi thành chất.
Dù lượng là sự vật số đo, độ đo cụ thể, nhưng lại chuyển qua chất, là số đo, độ
đo hoàn toàn trừu tượng. Hai cái hoàn toàn đối lập này lại được chuyển đổi cho
nhau, theo chiều này hoặc chiều khác, như kiểu trồng nhiều cái cây, trồng nhiều
sợi tóc, đến lúc nào đó lượng và chất hoàn toàn biến đổi cho nhau.
Thật ra
điều này có hoàn toàn đúng như vậy không ? Đó lại là việc cần nên phân tích. Thật
thì đó chỉ là hiện tượng do chúng ta nhìn hoàn toàn từ bên ngoài, mới nghe qua
thì có lý, nhưng thật ra bản chất không phải tuyệt đối như thế. Vấn đề vẫn cứ
là số lượng tóc nhiều hay tóc ít, cây nhiều hay cây ít, điều này hoàn toàn
không thay đổi về bản chất, chỉ thay đổi về số đếm, độ đếm cụ thể vậy thôi. Chẳng
qua chỉ do cái “thấy” của chúng ta, sự cảm nhận của chúng ta về mặt ý thức tâm
lý chủ quan vậy thôi. Từ hiện tượng này (nhiều hay ít) tâm lý chúng ta hiểu ra
thành hiện tượng khác (dày, mỏng, nặng nhẹ …), độ đo đếm chuyển sang độ cảm nhận,
đánh giá theo cách tự nhiên.
Hay ví
dụ khác, nước đun dần dần lên đủ 1000 C thì nước trở thành sôi, bốc
hơi, biến từ thể lỏng sang thể khí là hơi nước, không là gì khác. Các màu sắc
nói chung cũng thế, do các sắc thái (nuance) chuyển biến, tức độ đậm nhạt, sáng
tối chuyển biến, tông màu cũng sẽ hoàn toàn chuyển biến, chẳng hề là “chất” gì ở
đây biến đổi cả. Như mặt trời mọc lên dần thì tới đỉnh chuyển thành buổi trưa,
rồi đi xuống dần, đến lúc nào đó chuyển thành chiều, hoàng hôn, và tối. Chuyện
về bình minh, chính ngọ, hay hoàng hôn, đêm tối, chẳng qua chỉ là cái nhìn hiện
tượng bề ngoài của tâm lý chúng ta, còn thực chất bên trong chỉ là quỷ đạo chuyển
biến của trái đất quanh mặt trời, đó mới điều căn cơ, nền tảng nhất.
Mọi
tính chất khác của mọi sự vật cũng vậy, đều là những yếu tố chuyển đổi, tồn tại
bên trong như sắc tố, tầng số dao động của phản chiếu ánh sáng, sự hấp thụ hoặc
tỏa nhiệt, các mối liên kết hóa học nào đó tự bản thân, đều vẫn là các định luật
về “lượng”, chẳng khi nào biến đổi thành “chất” như quan điểm cái nhìn hoàn
toàn hiện tượng của nhận thức bề ngoài của chúng ta. Sự vật vô cơ hay vật chất
vô cơ, sự vật hữu cơ hay vật chất hữu cơ, ngay cả sự sống hay bản chất sự sống
cũng hoàn toàn như thế. Cái nội dung là cái khách quan, tách biệt, cái nhìn
ngoài là cái hiện tượng được gắn vào, thường khi chúng chỉ mang tính hình thức
mà chẳng gắn bó gì hữu cơ hay quyết định nào nhân quả (causality, causalité) cả.
Như vậy
cái úp chụp gọi là “biện chứng” do từ ngoài vào thực chất chỉ là giả tạo, là hiện
tượng quy chụp, nó chẳng có nghĩa lý gì căn cơ cả. Ngay như sự sống cũng thế. Sự
sống sinh vật nói chung được quyết định bởi sự sống đơn vị các tế bào cấu thành
ra nó, theo các quy luật di truyền nhất định (genetical, génétique), tức quyết
định do chính bộ gene nội tại bên trong (genom) mà sự sống ấy chứa đựng về mặt
sinh học (biological, biologique), hoạt động theo khách quan của mình, chẳng có
gì gọi là “biện chứng” (dialectical, dialectique) theo cách hình thức giả tạo
bên ngoài, hay kiểu nhìn thuần túy tư biện (abstract, abstraction, abstrait)
theo kiểu tư duy toán học, mang tính giả thiết hoàn toàn được.
Ngay về
mặt xã hội và lịch sử trong thế giới loài người cũng vậy. Cái gọi là “duy vật lịch
sử” (historical materialism, matérialisme dialectique) của Mác và Engels thoát
thai từ duy vật biện chứng, lấy duy vật biện chứng (dialectical materialism,
materialisme dialectique) làm nền, cũng đều không thoát ra khỏi mọi tính chất
đó. Tức là cái nhìn về bình diện kinh tế xã hội học, khi “lực lượng sản xuất”,
phát triển, biến đổi đến một mức nào đó, sẽ tạo ra “mối quan hệ sản xuất” mới
trong đấu tranh giai cấp, như Mác tâm đắc, thật ra chỉ hoàn toàn mê hoặc, hư tưởng,
trên chính những cơ sở khách quan như chúng ta vừa nó. Tức kinh tế học hay hoạt
động kinh tế xã hội, không bao giờ thoát ra được các quy luật về chủ thể
(subjectivity), các quy tắc về vật thể (objectivity) mà chúng ta đã nhiều lần
nói đến. Tức tâm lý ý thức con người và nền tảng, vật dụng kỹ thuật, là điều
quyết định kinh tế, nhưng không phải thượng tầng kiến trúc, hạ tầng cơ sở, biện
chứng về đấu tranh giai cấp nào đó cả. Học thuyết Mác chẳng khác gì con ngáo ộp,
phiên diễn, thổi phồng ra những sự hư tưởng, không có bản chất hoặc giá trị thật
để mê hoặc nhiều luận điểm trong xã hội và lịch sử mà không ai là không thấy.
Nên ở
đây tôi muốn đưa ra một quan điểm lý thuyết, một quan niệm chủ thuyết, tức một
nội dung triết thuyết, một học thuyết triết học hoàn toàn mới, có nghĩa là chủ
thuyết về cái “Substance-Subject”, “Substance-Sujet ”, “Substanz-Subjekt”, “本体-主体 [本體-主體)]” Theory. Nó không chủ trương
duy bản chất nào trong hai bản chất, nhưng nói chung cả hai đồng nhất trong một.
Bởi vì nếu thiếu một trong hai thì hoàn toàn vô nghĩa. Chủ thể không thể tồn tại
một cách hoàn toàn trừu tượng, kiểu Tinh thần tuyệt đối (Absoluter Geist) như
Hegel quan niệm, bản thể cũng không thể là vật chất thuần túy toàn diện như Mác
và Engels chủ trương, bởi bản thể phổ quát kiểu như vậy cũng không còn gì để
nói, không bao giờ đi đến cái gì khác hơn là chính nó (matter), nên hoàn toàn vô
nghĩa, không bao giờ có bất kỳ chủ thể nào để nhận biết ra nó trong bất kỳ khía
cạnh nào nữa.
Nhưng quan điểm Bản thể - Chủ thể
cũng không phải cách nói gộp hàng hai, ba phải. Không phải là sự tổng hợp
(synthetise) một cách tầm thường, nhưng là một sự lý giải bao quát nhất. Bởi
triết học không bao giờ là việc làm thuần túy mô tả (description), mà nhiệm vụ
chính của triết học còn là đào sâu lý giải về tất cả mọi sự vật qua sự hiện hữu,
tồn tại của chúng. Khoa học có thể là sự mô tả và lý giải trên cơ sở mô tả đó một
cách cục bộ, đặc thù, cụ thể nào đó. Nhưng triết học thì không thể chỉ làm như
vậy. Bởi làm như vậy thì triết học cũng không còn phân biệt gì hơn với khoa học
thực nghiệm, và cũng không có ý nghĩa hay giá trị nào khác hơn như khoa học thực
nghiệm.
Bản thể
là bản thân tồn tại của cái gì đó không thể phủ nhận. Bản thể không phải chỉ tầm
thường hay thuần túy như “chất thể” mà còn là cái gì đó cao hơn. Tức là sự hiện
hữu có thật, hiện hữu như một bản thể nhưng liên quan mật thiết đến khía cạnh
chủ thể nào đó cũng hiện hữu trong bản thân chính nó. Điều này cũng có nghĩa giữa
các mặt tồn tại của dạng vật chất khác nhau có một sự liên thông tuyệt đối,
cũng như giữa vật chất và tinh thần (spirit, mind, esprit) cũng có cả sự liên hệ
bản thân như thế. Đây chỉ mới là sự khởi sự đưa ra hệ thống mới của mình, tất
nhiên tôi sẽ triển khai rộng rãi và bao quát khắp về sau. Điều đó thể hiện qua
những thành phần, bộ phận tư duy khác nhau, và cuối cùng làm thành một hệ thống
toàn diện, một hệ thống triết học có thể gọi là Thanism, Thanisme, Thanismus,
mà trong tương lai sẽ dần cụ thể, xác định. Điều này cũng có nghĩa nơi đây triết
học và khoa học nói chung đều sẽ được hòa trọn với nhau, hòa quyện với nhau,
không còn có sự phân chia, tách biệt hay cả sự nhập nhằng với nhau nữa. Bởi nếu
khoa học sẽ được quy vào những khu vực thống nhất, những quy luật thống nhất,
thì triết học cũng thế, cũng quy vào những tập hợp tư duy thống nhât, những mối
quan hệ triết học - khoa học thống nhất. Các ngành khoa học đều liên thông, các
ngành khoa học và triết học liên thông, tư duy nhận thức và tồn tại hiện hữu
liên thông, đó chính là hệ thống mở mà bất kỳ ai đều có thể tham dự được.
Hệ thống
này sẽ bắt đầu bằng việc phê phán các học thuyết triết học đã có từ xưa nay để
gắn chung chúng vào một trục lõi, một tâm điểm duy nhất, tức nó bao hàm nhưng
không trùng lắp với mọi hệ thống, quan điểm tư tưởng đã có, cả tư tưởng triết học
thuần túy cũng như tư tường triết học tôn giáo trong mọi tôn giáo xưa nay đã từng
có. Đây không phải chỉ là một đống củi khô gom lại, nhưng là một cây đời mới
tinh được mọc lên mới mẽ. Bởi tự nó đã được phát sinh và triển trong lòng tồn tại
là như thế. Có thể nó sẽ vượt lên Hegel và vượt qua được chính bản thân tư duy
của Mác, không phải là sự tổng hợp nào đó, mà là sự triển khai bao quát, vượt
thoát ra khỏi mọi cái đã qua.
Bởi vì
bất kỳ tập hợp, hệ thống lớn nào cũng bao gồm hay bao quát những tập hợp, những
hệ thống con trong lòng nó, thì đây cũng thế. Nhưng đây lại là hệ thống mở, nên
không phải tự bản thân nó triển khai ra, mà còn có sự tham gia của nhiều yếu tố
mới, nhiều người mới sẽ đóng góp cũng nhau trong nó. Chẳng những thế, nó còn phải
bao quát mọi hệ thống tư tưởng, triết học nào đã có trong quá khứ, đồng thời cả
mọi hệ thống dị biệt nào đó khác trong tương lai cũng không thể thoát ra ngoài
được nó, tức không ra ngoài được phạm vi và cả chiều sâu hay yếu chất của nó.
Chính tư duy là như vậy, và ý nghĩa của mọi khoa học và triết học nói chung
cũng sẽ đều như vậy. Đây thực chất chỉ là lời giáo đầu đầy ý nghĩa và trong
tương lai về sau hi vọng chắc chắn nó cũng không thể ra ngoài mọi điều đã nói.
By VÕ
HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét