VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA TRI THỨC
TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CON NGƯỜI
Tri thức
là sự hiểu biết, năng lực nhận thức, khả năng nhận thức, tiềm lực nhận thức của
mỗi cá nhân con người, của toàn thể một xã hội nào đó. Chính cái đơn vị làm nên
cái tổng thể là như thế. Không có cái đơn vị cũng không thể nào có cái tổng thể,
và trong chừng mực nào đó, có khi cái tổng thể tác động, ảnh hưởng quyết định đến
cái đơn vị. Nhận thức là khả năng hoạt động của trí óc, của tinh thần con người,
không phải hoàn toàn của thân xác. Thân xác hay năm giác quan chỉ có thể mang lại
các cảm giác, các cảm nhận, nhận biết cụ thể nào đó, nhưng không thể hoạt động
giống như óc não. Dĩ nhiên bộ não là thành phần của thân xác, não bộ có được là
có trong thân xác, nhưng không phải cái này cũng như cái kia hoặc ngược lại.
Thân xác là công cụ để tồn tại não bộ, nhưng não bộ và hệ thần kinh nói chung lại
điều khiển cả toàn thân xác, thần kinh thực vật, thần kinh động vật, thần kinh
trung khu nơi não bộ, kể cả năng lực hoạt động của tủy sống, đều là toàn thể
công cụ điều khiển cả tổng thể thân xác. Có nghĩa không có não bộ cũng không có
mọi sự hoạt động của thân xác, bởi não bộ chính là bộ phận chỉ huy đầu não duy
nhất mà thân các có thể có được.
Tất
nhiên ngay cả não bộ cũng được chia ra hay được tổ chức bằng những khu, những
vùng đều có các chức năng cụ thể có liên quan đến thân thể. Chẳng hạn như vùng
trí nhớ, vùng suy luận, vùng trí thông minh, ngôn ngữ, lời nói, suy nghĩ v.v… đều
thật sự được phân công hay chia ra cụ thể. Điều này khoa y học, sinh học não bộ
đều hoàn toàn biết rõ. Có nghĩa cơ cấu tổ chức các mô, tế bào não hay tế bào
thân kinh trong não bộ, đều tổ hợp thành những bộ phận, những thành phần xác định,
cụ thể để làm nên sự hoạt động trừu tượng của năng lực nhận thức hết sức sinh động,
đó hoàn toàn là điều khách quan tự nhiên không thể nào không thể biết tới. Tuy
nhiên có điều não bộ tự nó không thể suy nghĩ nếu không đã diễn tiến qua một
quá trình lịch sử. Đầu tiên là những cảm giác sơ khởi mà các giác quan cung cấp,
sau nữa là kinh nghiệm bản thân, sự học tập, huấn luyện, đào tạo, giáo dục mà
chính toàn thể xã hội mang lại. Tri thức nhất thiết phải đến từ giáo dục, nơi từng
người và nơi toàn xã hội là như thế.
Con người
nếu không có sự hiểu biết qua con đường giáo dục, phần lớn chỉ có thể hành động
theo bản năng tự nhiên như mọi loài sinh vật khác, đó là điều hoàn toàn tự nhiên
không thể phủ nhận được. Có nghĩa bản năng gắn liền với nguyên tắc thân xác tự
nó vốn có, bị chi phối bởi nguyên lý thân xác, nguyên lý sinh học, trong khi nhận
thức, hiểu biết cao hơn lại thuộc về nguyên lý tinh thần, nguyên tắc tâm lý, hoạt
động thuần túy trừu tượng hoàn toàn vượt lên mọi thuộc tính khách quan cụ thể
mà thân xác luôn luôn hoạt động. Cái trừu tượng và cái cụ thể ở đây hoàn toàn
giao thoa, mà hệ thần kinh là yếu tố trung gian, nối kết lại giữa hai bên, và
tính lưỡng diện này của tồn tại sự sống, của tồn tại tinh thần hay hoạt động nhận
thức, chính là điều mà khoa học ngày nay vẫn chưa khám phá được đầy đủ trọn vẹn
hoặc sâu sắc nhất.
Có
nghĩa phần tinh thần hay phần năng lực nhận thức của con người có mang một tính
cách độc lập riêng nào đó tự nó, dầu nó phải được tồn tại trên nền tảng khách
quan của tồn tại thân xác. Chính thân xác nuôi sống não bộ, não bộ tạo ra hoạt
động tinh thần, nhưng bản thân của hai bên hoàn toàn khác biệt, khác biệt nhưng
không phải hay không thể tách biệt nơi hoạt động não bộ, đó là điều cần phải biết
và cần phải tiếp tục luôn luôn nghiên cứu tìm hiểu. Đây không thuần chỉ là hoạt
động thuần túy sinh học, thuần túy tâm lý học, nhưng còn là bản chất triết học
khiến mọi người nghiên cứu triết học, mọi triết gia phải thiết yếu trước tiên
quan tâm đến.
Khoảng
cách chưa thể kéo gần lại được, chưa thể bắc cầu được giữa hai bản chất tồn tại
khác nhau, đó chính là ý nghĩa và vấn đề nền tảng được mệnh danh là vấn để tinh
thần – thân xác (problem of Mind - Body) mà triết học và cả khoa học đã từ lâu
vẫn luôn quan tâm tới. Tất nhiên ngay cả vẫn đề này cũng không hoàn toàn ở thể
tĩnh (statical) mà còn là ở thể động (dynamical), và có cả tính chất lịch sử (historical)
của nó, như lịch sử xã hội, lịch sử tự nhiên, lịch sử văn minh, phát triển, lịch
sử tiến hóa. Sự tiến hóa não bộ các loài động vật qua lịch sử tự nhiên, sự tiến
hóa não bộ và tinh thần nhận thức hiểu biết của con người hay loài người qua lịch
sử phát triển của nhân loại, đó là điều hoàn toàn khách quan mà các khoa học cụ
thể và cả triết học nói chung đều hoàn toàn có thể nhận thức, có thể thấy ra được.
Tất
nhiên vấn đề thiết yếu Mind-Body Problem sẽ phải trình bày một dịp khác. Ở đây
chỉ tập trung nói về nhận thức hay bản thân và nguyên lý của tri thức một cách
căn bản và phổ dụng thôi. Rõ ràng trí thức phải được rèn luyện, đào tạo qua
giáo dục xã hội, và nó luôn luôn phải có một lịch sử, tiềm năng và phát triển.
Lịch sử có nghĩa nó phải bắt nguồn từ những thành tựu đã qua, của cá nhân cũng
như xã hội. Xã hội tạo nên cá nhân cũng như ngược lại. Cái phần bồi dưỡng đó trở
nên tiềm lực, được phát huy ra và mở rộng thêm qua tương lai. Tri thức, nhận thức
không thuần túy chỉ là ký ức, trí nhớ cái đã qua được khơi gợi lại, nhưng còn
là tiềm lực, khả năng. Nó chẳng khác gì cái cây có gốc có ngọn, có bản thân mà
không phần nào có thể thiếu được. Cái gốc tạo thành cái thân, cái thân mang lại
cái ngọn, qua năng lực tự có riêng của mỗi người và cả nền giáo dục rèn luyện
mang lại. Có kho tàng tri thức chung của nhân
loại từ đầu đến cuối, mà cũng có kho tàng trí thức riêng của mỗi người, mỗi đơn
vị cá nhân. Hai bên góp phần vào nhau và khai thác, phục vụ cho nhau.
Nên tri
thức nói chung như một cái cây, một dạng sống luôn luôn phát triển, không thể
bao giờ dừng, dừng lại là cái cây héo đi, hay cái cây phải chết. Tri thức như vậy
thiết yếu là một hệ thống hoàn chỉnh, liên lạc nhau mật thiết, không thể có sự
lệch pha hay mâu thuẫn. Chẳng hạn khoa học càng ngày càng đi đến thống nhất các
quy luật vật lý, các quy luật hóa học, các quy luật sinh học v… Cả triết học
cũng vậy, vẫn thống nhất từ cổ chí kim mà không phải chỉ rời rạc, khu biệt, mặc
dầu hệ thống mô tả, nhận thức có thể luôn đa dạng khác nhau. Nói cách khác, tri
thức hay nhận thức vẫn phải chịu những quy luật của không gian hình học, như
cái hiểu biết ít, nông cạn, chỉ có thể chứa đựng trong cái hiểu biết lớn hơn,
bao quát, sâu xa hơn mà không thể ngược lại. Đó gọi là trình độ hay năng lực hiểu
biết. Thế nên trình độ học sinh cấp một không thể bằng được trình độ học sinh cấp
hay, cấp hai không thể bằng được học sinh cấp ba, cấp ba không thể bằng được
người tốt nghiệp đại học, rồi nhà nghiên cứu từng lãnh vực nói chung v.v…Nhưng
tri thức không phải chỉ là bề rộng theo kiểu không gian mà nhất thiết còn cần
phải bề sâu chất lượng, đó là độ chính xác, linh hoạt, năng lực đào sâu cũng
như sáng tạo ra các hình thức mới.
Bởi vậy
người bình dân thì chỉ biết các nhận thức, các tri thức đơn giản, phổ biến,
theo cách thường nghiệm, thường dụng mà ai cũng có thể biết được. Nhưng các người
chuyên môn sâu, những nhà nghiên cứu, thì đó mới là những trí thức thật sự, họ
biết sâu nhiều điều riêng biệt mà người bình dân thông thường khó khi có thể đạt
đến. Trình độ trí thức theo độ đo không gian hình học và chất lượng chiều sâu
chính là như thế. Do vậy giai cấp vô sản ngay từ đầu đều có đầu óc hạn chế nhiều
mặt, đều có nhận thức hạn hẹp, đều có năng lực trí thông minh bình thường chẳng
có gì xuất sắc, trừ ra khi họ qua quá trình đào tạo đã trở thành những trí thức,
nhà người chuyên môn nào đó thật sự, chỉ là việc hoàn toàn tự nhiên. Bởi vậy
khi Mác và Engels quy tất cả chỉ vào “vật chất”, cả não bộ cũng chỉ là hoạt động
của vật chất, quy tất cả tối hậu vào đấu tranh giai cấp, cho vô sản là tiền
phong, có sứ mạng lịch sử, thật sự đều hoàn toàn nghịch lý, mâu thuân, phi khoa
học, phản khoa học, nông cạn, hời hợt, phản khách quan thực tế và đều gây những
tai hại đáng tiếc, tạo ra bao lỗi lầm lịch sử trong quá khứ không bao giờ có thể
xóa đi được.
Như thế,
tri thức thì gắn liền với người trí thức theo tùy trình độ chiều rộng, chiều
cao, và cả chiều sâu là điều không bao giờ có thể phủ nhận. Có nghĩa có nhiều
chiều kích trí thức khác nhau, phổ biến có, chuyên môn cả, năng lực ứng dụng và
sáng tạo đều có. Sự phân chia đẳng cấp, loại dạng đều là quy luật tự nhiên,
khách quan của muôn loài trong cuộc sống, không bao giờ có thể nông cạn cào bằng
đi tất cả. Có nghĩa thuyết Mác tuy mệnh danh là duy vật, là thực tiển, là cách
mạng, là thực tế, nhưng thực sự bản chất và công năng của nó đều mang nhiều màu
sắc, khuynh hướng mê tín, thần bí (mistyfier) mà tự bản thân Mác không thấy hay
không muốn thấy. Bởi vậy chính giới trí thức mới có sứ mạng lịch sử xã hội mà
không phải vô sản công nhân hay bần cố nông mới có điều đó. Đó chính là hệ lụy
của đấu tranh giai cấp mà qua hậu quả của Cải cách ruộng đất, của Nhân Văn Giai
Phẩm ở Miền Bắc Việt Nam trong đầu và giữa thập kỷ 1950 của thế kỷ trước người
ta đã hoàn toàn thấy rõ. Câu cửa miệng của Mao Trạch Đông “Trí thức không bằng
một cục phân”, chỉ cho thấy một sự hiểu biết hạn hẹp, thấp kém, một loại nhân
cách tầm thường, nhưng do quyền lực chính trị được đổi phồng lên như kiểu một vị
thánh. Đó chính đều lo lỗi lầm của Mác từng một thời đã phá hoại con người, phá
hoại lịch sử nhân loại, không còn chỗ nào để biện minh hay cải chính được.
Nên chi
trí thức không những là giá trị với chính bản thân mình, với người khác hay tha
nhân, với cộng đồng chung quanh, và cả với xã hội nói chung. Trí thức mang một
sứ mệnh lịch sử ở bất cứ nơi nào và bất cứ thời nào cũng vậy. Bởi vì mọi sự
nghiên cứu của họ nếu có, mọi sự hiểu biết của họ dù trong lãnh vực, địa hạt
nào, cũng đều có lợi cho bản thân họ cũng như cho hết thảy mọi người chung
quanh và của toàn xã hội. Nhưng đó phải là những trí thức đúng đắn, đích thực,
tức có ý nghĩa và giá trị thực. Còn kiểu trí thức tự phong, được phong, mà thực
chất không có nội dung, không có đạo đức hay sự liêm khiết trí thức, kiểu trí
thức khuynh tả ở Miền Nam vào thời kỳ trước 1975, thực chất phần lớn chỉ là loại
cơ hội chính trị, loại lũng đoạn xã hội, mà tiêu biểu như Lý Quý Chung, Ngô
Công Đức, Ngô Bá Thành, Nguyễn Ngọc Lan v.v… thực chất chẳng ra cái thớ, ra con
mẹ gì cả, chỉ đều là đồ mị dân, điếu đóm, chẳng mang chút ý nghĩa, công năng
hay giá trị gì cả, nó chỉ tai hại mà còn là chính vết nhơ để lại muôn đời.
Bởi vậy
trí thức không những là phải “cách vật trí tri”, “chính tâm, thành ý”, mà còn
phải biết mình, hiểu đời và hiểu người khác. Không tự hiểu mình là không phải
trí thức, không hiểu người khác, hiểu đời cũng không phải trí thức. Bởi trình độ
trí thức kiểu như cái thang leo, kiểu như thể tích không gian hình học về chiều
cao, chiếu rộng, chiều sâu, hay kể cả kích cỡ đa chiều, mà cái thấp hơn không
thể sánh được cái cao hơn, cái chất lượng hơn không thể ngang bằng với cái kém
chất lượng hơn, cái kém sâu xa hơn, kém đa dạng hơn, không thể bao trùm hay chứa
đựng được cái sâu sắc và phong phú hơn đều chính là như thế. Có nghĩa trình độ
trí thức cao hơn có thể đánh giá, hiểu được trình độ trí thưc, hiểu biết thấp
hơn nhưng không bao giờ ngược lại.
Nói
cách khác, năng lực trí thức không phải chỉ thuần túy ở ngoài vào, mà nhất là sự
triển khai ra từ bên trong, hay có nghĩa trí thông minh luôn quyết định hơn trí
nhớ hoặc nguồn đào tạo. Trí thức không phải cái bị chứa kiến thức, mà trí thức
chính là khả năng, năng lực có thể tạo ra những nguồn trí thức mới. Do đó học vấn
là gốc gác tạo ra trí thức, nhưng hoàn toàn không phải bằng cấp, học vị tạo ra
trí thức. Các loại trí thức giả, trí thức dỏm vẫn có thể hư danh, nhưng thật ra
chẳng ích lợi gì cho người khác hay cho xã hội. Cho nên, trí thức đích thực
chính là động lực phát triển xã hội trong mọi thời đại, mọi trường hợp. Bởi vì
chính sự hiểu biết, sự nhận thức làm ra giá trị cuộc đời, giá trị xã hội, giá
trị lịch sử, tức làm nên động lực phát triển lịch sử mà không gì khác. Đất đá
thì không bao giờ hiểu biết, cây cối cũng vậy, mọi loài vật cũng vậy, chỉ trừ
ra có con người và xã hội con người.
Bởi vì
vật chất không bao giờ là chủ thể tính (subjectivity), cây cỏ, loài vật chỉ là
chủ thể tính hoang sơ, thấp kém, nhưng chỉ con người, xã hội con người mới là
chủ thể tính tinh thần, ý thức, nhận thức, tri thức cao cả và tuyệt vời hơn hết.
Chính con người đi từ thời đại đồ đá, đồ sắt, đồ đồng, đến thế giới văn minh,
khoa học kỹ thuật và thời đại điện toán ngày nay là điều đáng kể hay đáng nói
nhất. Điều đó cũng có nghĩa các quan điểm duy vật thuần túy (duy vật máy móc,
cơ giới, duy vật biện chứng hay duy vật lịch sử kiểu Mác) đều là các quan điểm
củn cỡn, nông cạn, hạn hẹp, không đầu không đuổi, chỉ đều là những sự trích đoạn
theo cảm tính, theo thị hiếu, chẳng có gì sâu xa, bao quát cả. Bởi vì thiên nhiên
không hề là sự tồn tại thuần túy mà còn là sự tồn tại có tính toán, có mục
đích, có ý nghĩa. Như giới tính chẳng hạn, sự phân giới đực cái, nam nữ, không
thể là sự ngẫu nhiên (hasard) tình cờ ngay từ đầu, mà chính là một sự tính
toán, một ý hướng (intention) ban sơ, khách quan nào đó của nhiên giới, của thế
giới hiện thực.
Nên trí
thức mới chính là chất lượng con người. Nó tạo thành con người hiểu biết, có
trình độ, chất lượng, có đạo đức, lương tri lương tâm trí thức thật sự, tùy
theo trình độ được đào luyện kể cả nổ lực tự đào luyện. Thông thường trình độ đại
học là trình độ tối thiểu của trí thức đũng nghĩa. Càng cao trên đại học trình
độ đó lại càng đúng nghĩa hơn. Một nhà triết học, một nhà khoa học không bao giờ
chỉ là người trình độ thông thường, mà phải tối thiểu có cấp bằng tiến sĩ, được
đào tạo qua quy trình chính quy, phương pháp luận của bậc tiến sĩ. Tiến sĩ là
ngưỡng, là viên đá phải bước qua cho mọi quá trình chuyên môn cao mà không là
gì cả. Nên trí thông minh (intelligence) và tài năng (talent), có thể là điều
kiện cho mọi ngành kỹ thuật, nghệ thuật khác nhau của con người. Nhưng ngoài điều
đó ra, lãnh vực khoa học chuyên khoa và triết học nhất thiết phải được đào tạo
qua bậc tiến sĩ mà không thể nào khác. Bởi tri thức phải luôn luôn là ý nghĩa,
giá trị chính quý được đòi hỏi thật sự, và tri thức khoa học, tri thức triết học
còn chính là yêu cầu nắm bắt về chân lý khách quan, tối hâu, hay chân lý riêng
biệt, cục bộ nào đó khác, nên không thể không có nó.
Cuối
cùng lại, điều phải nói tri thức hay sự hiểu biết không bao giờ là một chỉ số
hoàn tất (complete indice), mà ngược lại nó luôn luôn tiến hóa, phát triển, bất
cứ lãnh vực, ngành nghề nào cũng vậy. Nó cũng như cái cây tự nuôi nó, tự triển
khai ra từ bên trong khi đã đủ điều kiện cũng như dữ liệu cần thiết đã được
mang lại từ bên ngoài, từ ngoài vào. Bởi tri thức cũng mang sự sống như mọi sự
sống khác, hay nó vẫn là bản thân của chính sự sống phổ quát nói chung. Sự triển
khai tự thân, đó là điều mang ý nghĩa căn cơ và phổ quát nhất nơi mọi sự vật.
Biện chứng không có nghĩa là sự qua lại, tác động, ảnh hưởng qua lại, biện chứng
cũng còn là sự vượt lên, vượt qua chính bản thân mình như là sự sống một cách tất
yếu, không phải chỉ là kiểu suy lý, công thức trừu tượng, tư biện thuần túy như
Engels và Mác quan niệm về vật chất một cách hoàn toàn trống rỗng và vô nghĩa
theo sự cóp lại hình thức từ biện chứng luận duy tâm của Hegel rồi từ đó phịa đặt
ra đủ thứ về sau một cách tuyệt đối hư ảo và vô nghĩa. Vấn đề này sẽ được dành
để nói riêng về chủ đề khác là “biện chứng luận” (Dialectics). Nói chung, tri
thức luôn luôn gắn với trí thức, gắn với tinh thần con người; tri, trí, nhân chính
là ba thành tố không bao giờ tách rồi cả. Có trí mới có thể có tri, có tri mới
có thể có trí, và sau rốt, chính chủ thể tính con người (subjectivity), tức
tinh thần (Mind, Esprit), ý thức con người mới là yếu tố, là cơ sở quyết định tối
hậu, không phải chỉ là thân xác (body) hay óc não (brain, cerveau) như mọi người
đều đã biết.
By VÕ
HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét