VỀ HAI CÂU NÓI THỜI DANH CỦA HEGEL VÀ MARX
KHÔNG THỂ NÀO VÀ BAO GIỜ BỎ QUA ĐƯỢC
Hai câu
nói này tôi đã thấy từ lâu trong quá trình nghiên cứu triết học cách đây đã biết
bao thập niên, trong đó có học thuyết Hegel và Mác, rất lấy làm thú vị, là hai
câu nói có thật do chính từ miệng và tay hai người này xùy ra, nhưng đã lâu quá
không còn nhớ rõ xuất xứ cụ thể nó từ đâu, dù biết chắc như vậy nhưng hiện tại
chưa có thì giờ để lục tung lại. Hai câu này tôi đã trích dẫn vài lần ở số bài
viết đâu đó, nên cũng chẳng cần lục loại lại cho phí thời gian. Bởi chắc nhiều
người khác cũng đã biết đến nó, cả biết một cách rõ rệt và cụ thể nhất.
Câu nói
đầu tiên là câu nói của Hegel về các học trò của mình khi học thuyết của ông đầu
tiên đưa ra, cho rằng “trong số các môn đồ của ông chỉ có một người duy nhất hiểu
được triết học của ông, duy có điều là người đó lại hiểu sai”. Còn câu nói gần
cuối đời của Mác là thế này “Tôi không phải là người Mác xít”. Một câu nói vào
buổi đầu của một người, và câu nói về gần cuối đời của một người, mà hai người
này hoàn toàn gắn với nhau liền một dãy, quả nói điều gì hơn là điều nó muốn
nói, nên tôi cho là điều hết sức thú vị mà cũng hết sức quan trọng, là điều mà
bài viết này nhất thiết phải đề cập đến.
Thật vậy
ai cũng biết triết lý Hegel là điều khá khó hiểu đối với nhiều người, không những
vì lối văn khô khan, trừu tượng, tinh tế của ông, mà còn tư tưởng hết sức mông
lung, trừu tượng, vượt lên trên những sức hiểu biết thông thường của những người
bình thường. Đó là chưa nói đến các nội dung, chủ đề của ông, nhằm trình bày
thuần túy về thực thể tinh thần (der Geist, Esprit, Mind, Spirit) mà ông quan
niệm, cũng như mọi điều vi diệu khác nữa của nó. Trong khi đó Mác trình bày đồ
sộ hệ thống tác phẩm bao gồm hàng ngàn trang của mình, bao trùm chủ nghĩa duy vật
biện chứng, lịch sử, lẫn cả chính trị xã hội cụ thể, phức tạp đủ thứ, được gọi
là học thuyết Mác xít, để cuối cùng tự tác giả của nó, Mác, phủ nhận chính bản
thân lý thuyết của mình, cho “tôi không phải là người Mác xit”, thật là hết biết,
hay có trời mới biết đó là thế nào.
Trong
khi đó, nếu không có sự xuất hiện của Hegel cũng chưa chắc có Mác và học thuyết
Mác. Bởi vì cái xương sống cốt lõi của học thuyết Các Mác không gì khác hơn là
biện chứng luận (Dialektik, dialectics, dialectique) của Hegel. Chỉ duy điều
Mác cho biện chứng luận nơi Hegel là “biện chứng duy tâm”, còn biện chứng luận
nơi mình là “biện chứng duy vật”. Có nghĩa Mác tự cho mình “lật ngược Hegel lại”.
Hegel lấy đầu đi trên đất, phải cho Hegel đi trên đất lại bằng chân. Tức Mác chỉ
dùng lại cái “sường” của Hegel, là phương pháp biện chứng, còn thay đi cái ruột,
là thế vào “vật chất” cho “tinh thần”. Nhưng nói cách nôm na, nếu đem lật ngược
chai rượu lại, liệu chất rượu ở trong có biến ra thành nước hay thành đất được
không, đó là điều Mác hầu không đề cập tới. Nếu phương pháp “biện chứng” chỉ có
thể có trên cơ sở duy tâm, trong bản chất hay cốt lõi duy tâm, thế thì phủ nhận
nó đi, chỉ công nhận thuần túy có tồn tại duy vật, liệu ý nghĩa tồn tại hay
nguyên lý vận động, nguồn gốc biện chứng của vật chất đó là gì, cũng là điều mà
Mác không bao giờ nghĩ tới, hay nhằm kiểu ăn ốc nói mà, mà không bao giờ minh
chứng được sát sườn hay rốt ráo nào về khoa học khách quan được cả.
Khác
chi Hegel đã nói trong số học trò của ông, không ai hiểu rõ học thuyết của ông
cả, trừ duy có một người, chỉ tiếc là người đó lại đã hiểu sai. Mác là người Đức
(1818-1883), Hegel cũng người Đức (1770-1831), chắc chắn Hegel phải từng là người
thầy của Mác, hay Mác cũng từng là học trò của Hegel. Có điều chẳng biết Mác nằm
trong số có hiểu không và hiểu sai hay hiểu đúng vị thầy đó. Nhưng lại là điều trớ
trêu của lịch sử, bởi sau cùng Mác dường như lại phủ nhận chính mình, chẳng
khác gì kiểu luật biện chứng, mà Mác thừa nhận là chuỗi phủ định quy luật phủ định
thiên thu bất tận, cho rằng Mác có hiểu phủ nhận nhưng luôn còn giữ lại, thật
là điều còn mù mờ chưa có gì rõ rệt tuyệt đối cả.
Tức Tinh
thần là cái bao trùm trong hoàn hệ thống học thuyết của Hege, hẳn nhiên không
loại bỏ cả vật chất (matter) và tự nhiên (natur) gắn liền trong quá trình biện
chứng. Hegel quả thật giống như tấm vải, Mác lại cắt ra từ đó một đoan để may bộ
quần áo cho riêng mình, xong vứt cả toàn bộ tấm vải kia đi, lại may bộ quần áo
của mình chỉ củn cỡn, ngắn ngủn, để lòi cả cả giò cả cẳng khác nào hài hước, đến
nỗi sau cùng Mác lại cũng muốn liệng luôn chính nó, thật không thể nào làm sao
lại không cười được.
Cho nên
đó là hai câu nói hết sức thú vị và hết sức quan trọng dù có mang tính hài hước
mà tôi cho rằng những người nào nghiên cứu, tìm hiểu về Hegel và Mác trước hết
không thể nào bỏ qua được. Đây là hai câu nói mang tính thời thượng, nó luôn
luôn cứ còn mãi, khó thể nào bỏ qua hay bị quên lãng. Câu nói trước không phải
Hegel tự kiêu, ngạo mạn, trịch thường, bởi một người triết gia đúng nghĩa không
bao giờ mắc phải tật xấu đó. Nhưng câu nói hàm ý Hegel biết mình biết người, thấy
rõ cái hàm sức tư duy của mình mà không phải ai cũng có thể so sánh hay đạt tới
được. Như trong một bài trước tôi đã để cập đến nguyên tắc bao quát của tư duy
(volume of thought) mà không phải bất kỳ ai cũng cào bằng, so sánh hết được. Đó
không phải mặt hình học mà còn mặt chất lượng (quality). Bởi vậy nghiên cứu
Hegel không thể hời hợt, còn nghiên cứu Mác không thể cuồng tín, mê muội, căn cứ
trên chính câu mà Mác đã tự mình viết ra hay nói đến. Bởi ngày nay các tài liệu
về Hegel, Marx, Engels, Lênin chỗ nào cũng có thể tìm thấy, nhưng người tìm hiểu
có tát cạn được hết hay không, có thông hiểu được hết hay không, có đánh giá được
hết hay không, còn tùy vào tinh thần, trình độ, thái độ, ý thức, ý hướng, và
chính năng lực của mình.
Triết học
là khoa học, mà khoa học thì đều luôn phải khách quan, vô tư, xác đáng và chính
đáng. Trong khi đó chính trị thường có thể chỉ là đam mê cuồng dại, vụ lợi,
thiên lệch, tà mị, hậu ý, hoàn toàn trái mọi điều khoa học và triết học. Bởi
tinh thần khoa học và triết học luôn luôn là tinh thần vì sự thật, vì chân lý,
vì bản chất khách quan, hưỡng đến cái gì vô hạn, chắc chắn hay vĩnh cửu. Trong
khi đó chính trị chỉ dễ dàng dừng lại hay chấp nhận kiểu cảm tính, thị hiếu, nhất
thời, trục lợi riêng tư, cho dù mặt ngoài ngôn ngữ có thường nói đến nhân văn,
đến xã hội, đến nhân loại, đến sự thật hay chân lý thì bản chất cũng chỉ có thể
và khó hay không bao giờ có thể vượt lên hay thoát ra được chính bản chất đó.
Bởi vì
khoa học và triết học không chủ đích dừng lại nơi bất kỳ cá nhân nào, mà luôn
hướng đến cái phổ quát, vượt lên khỏi mọi không gian, thời đại hạn hẹp, để đi đến
cái phổ quát, phổ biến, tồn tại bao trùm và vĩnh hằng vượt xa tất cả. Cái mâu
thuẫn hay trái ngược giữa Hegel và Mác chính là ở khái niệm tâm (spiritual) và
vật (material). Cái nào bao gồm cái nào, cái nào có trước cái nào, đó là điều cốt
lõi hoàn toàn khác biệt giữa Hegel và Mác hay duy tâm (idealism) và duy vật
(materialism). Mác luôn đắm đuối về cái thực hữu (real), cái cụ thể (concrete).
Như hai khái niệm này được hiểu như thế nào, được hiểu tới đâu lại là chuyện
khác. Mác nhấn mạnh duy nhất và luôn luôn đến cái “praxis”, thực hành. Như câu
nói đã từng được coi là thời danh “Các nhà triết học từ xưa đến nay chỉ nhằm giải
thích thế giới, nhưng vấn đề thiết yếu là nhằm phải biến đổi thế giới”. Câu nói
này từng thu hút biết bao nhiêu người, tưởng rằng nó là chân lý tuyệt đối, giá
trị hay nguyên lý tuyệt đối. Thế nhưng họ không thể nào thấy được cái mông
lung, nông cạn, chủ quan, và hợm hĩnh của nó. Bởi vì biến đổi là biến đổi thế
nào, cách mạng là cách mạng thế nào, phải chăng là nhằm kiểu xóa bài làm lại,
có hoàn toàn hư ảo, cuồng loạn, hoang phí, nông cạn, nông nỗi và phiến diện, lố
bịch cả thảy hay không. Điều đó sẽ dễ dàng dẫn đến cuồng tín, mù quáng vô bổ,
vô ích mà ai cũng đã thấy ra được.
Như vậy,
giữa Hegel và Mác cái nào mới bao trùm cái nào, có thể đối với nhiều người vẫn
là điều khó nào. Bởi vì chưa chắc bên nào đã tuyệt đối đúng cả, mặc dầu rõ rang
Mác chỉ là điều trích xuất ra từ Hegel mà không gì khác. Điều này cũng có nghĩa
đẳng cấp trong thực tế, xã hội, và lịch sử vẫn là điều luôn luôn có. Đó là quy
luật dị biệt đa dạng của muôn vật. Mác lấy điều “giai cấp” và “đấu tranh giai cấp”
làm tiêu chí, làm mục đích và làm cốt lõi cho học thuyết của mình, trên nền
móng của biện chứng luận. Nhưng biện chứng luận có yếu tính, có bản thân, bản
chất từ trong quan điểm duy tâm của Hegel, làm sao chuyển qua được bản thân duy
vật theo Mác quan niệm. Bản chất của nước và bản chất của lửa là hoàn toàn khác
nhau, đâu thể nào lấy cái nọ xọ cái kia, biển đổi cái này thành cái kia, chuyển
nguyên lý vận động từ cái này qua cho cái kia mà được ? Vậy Mác phải chăng chỉ
là kẻ nông nỗi, nông cạn, ẩu tả và ngờ nghệch mà nhiều người khó nhận ra được.
Phải chăng chính điều này mà cuối cùng Mác tự nhận ra chính mình do các hệ lụy
đem lại mà Mác đã thấy để rồi tự bác khước chính mình.
Cho nên
hiểu muôn vật đã là khó, hiểu được người khác cũng là khó, cả hiểu được chính
mình có khi cũng có nhiều cái khó. Sông sâu còn có kẻ dò, có ai lấy thước mà đo
lòng người. Câu ca dao ngạn ngữ dân dã này nói lên nhiều điều mà nó muốn nói. Bởi
chân lý nào đó hay khía cạnh chân lý nào đó vẫn luôn luôn phát triển, biến đổi
theo nhận thức của con người thay đổi. Chẳng có chân lý nào bất biến, đó là ý
nghĩa chung luôn luôn bao hàm nhất. Thời Hegel, Mác đã từng nói hai câu đó,
nhưng thời nay cũng không hoàn toàn khác. Có người vẫn lớn giọng, học thuyết
Mác hay Hegel ngày nay ai cũng biết cả rồi, không cần phải nhắc đi lặp lại. Thật
sự chỉ là quan điểm trẻ con ấu trĩ, bởi vì “biết” thế nào mới là đúng hay là đủ,
quan điểm cái biết của đám đông, của mọi người, của quần chúng liệu đã hoàn
toàn cái biết về khoa học, về triết học chiều cao, sâu xa hay chuyên biệt được
không, đó là điều mà người trí thức chân chính không ai có thể phủ nhận. Bởi vậy
quan điểm “sứ mệnh lịch sử của vô sản” mà Mác huyền thoại hóa, thực chất chỉ là
khái niệm mê tín, huyễn hoặc, thần bí, mị dân, cả khái niệm ngu dân, ngu hóa xã
hội, ngu hóa lịch sử, về phương diện nhận thức và hành động, mà từ cổ chí kim,
lịch sử nói chung, nhân loại chưa hề từng có. Đến đây tưởng cũng đã khá đầy đủ
về hai câu nói đã được trưng dẫn, chúng hoàn toàn đơn giản nhưng lại chứa đựng
nhiều điều sâu sắc, có thể giúp ích cho nhiều người nghiên cứu khoa học và
nghiên cứu triết học, kể cả nghiên cứu, tìm hiểu về học thuyết duy vật Mác xít.
By VÕ
HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét