Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2021

VỀ HAI CÂU NÓI THỜI DANH CỦA HEGEL VÀ MARX

      KHÔNG THỂ NÀO VÀ BAO GIỜ BỎ QUA ĐƯỢC

 

Hai câu nói này tôi đã thấy từ lâu trong quá trình nghiên cứu triết học cách đây đã biết bao thập niên, trong đó có học thuyết Hegel và Mác, rất lấy làm thú vị, là hai câu nói có thật do chính từ miệng và tay hai người này xùy ra, nhưng đã lâu quá không còn nhớ rõ xuất xứ cụ thể nó từ đâu, dù biết chắc như vậy nhưng hiện tại chưa có thì giờ để lục tung lại. Hai câu này tôi đã trích dẫn vài lần ở số bài viết đâu đó, nên cũng chẳng cần lục loại lại cho phí thời gian. Bởi chắc nhiều người khác cũng đã biết đến nó, cả biết một cách rõ rệt và cụ thể nhất.

Câu nói đầu tiên là câu nói của Hegel về các học trò của mình khi học thuyết của ông đầu tiên đưa ra, cho rằng “trong số các môn đồ của ông chỉ có một người duy nhất hiểu được triết học của ông, duy có điều là người đó lại hiểu sai”. Còn câu nói gần cuối đời của Mác là thế này “Tôi không phải là người Mác xít”. Một câu nói vào buổi đầu của một người, và câu nói về gần cuối đời của một người, mà hai người này hoàn toàn gắn với nhau liền một dãy, quả nói điều gì hơn là điều nó muốn nói, nên tôi cho là điều hết sức thú vị mà cũng hết sức quan trọng, là điều mà bài viết này nhất thiết phải đề cập đến.

Thật vậy ai cũng biết triết lý Hegel là điều khá khó hiểu đối với nhiều người, không những vì lối văn khô khan, trừu tượng, tinh tế của ông, mà còn tư tưởng hết sức mông lung, trừu tượng, vượt lên trên những sức hiểu biết thông thường của những người bình thường. Đó là chưa nói đến các nội dung, chủ đề của ông, nhằm trình bày thuần túy về thực thể tinh thần (der Geist, Esprit, Mind, Spirit) mà ông quan niệm, cũng như mọi điều vi diệu khác nữa của nó. Trong khi đó Mác trình bày đồ sộ hệ thống tác phẩm bao gồm hàng ngàn trang của mình, bao trùm chủ nghĩa duy vật biện chứng, lịch sử, lẫn cả chính trị xã hội cụ thể, phức tạp đủ thứ, được gọi là học thuyết Mác xít, để cuối cùng tự tác giả của nó, Mác, phủ nhận chính bản thân lý thuyết của mình, cho “tôi không phải là người Mác xit”, thật là hết biết, hay có trời mới biết đó là thế nào.

Trong khi đó, nếu không có sự xuất hiện của Hegel cũng chưa chắc có Mác và học thuyết Mác. Bởi vì cái xương sống cốt lõi của học thuyết Các Mác không gì khác hơn là biện chứng luận (Dialektik, dialectics, dialectique) của Hegel. Chỉ duy điều Mác cho biện chứng luận nơi Hegel là “biện chứng duy tâm”, còn biện chứng luận nơi mình là “biện chứng duy vật”. Có nghĩa Mác tự cho mình “lật ngược Hegel lại”. Hegel lấy đầu đi trên đất, phải cho Hegel đi trên đất lại bằng chân. Tức Mác chỉ dùng lại cái “sường” của Hegel, là phương pháp biện chứng, còn thay đi cái ruột, là thế vào “vật chất” cho “tinh thần”. Nhưng nói cách nôm na, nếu đem lật ngược chai rượu lại, liệu chất rượu ở trong có biến ra thành nước hay thành đất được không, đó là điều Mác hầu không đề cập tới. Nếu phương pháp “biện chứng” chỉ có thể có trên cơ sở duy tâm, trong bản chất hay cốt lõi duy tâm, thế thì phủ nhận nó đi, chỉ công nhận thuần túy có tồn tại duy vật, liệu ý nghĩa tồn tại hay nguyên lý vận động, nguồn gốc biện chứng của vật chất đó là gì, cũng là điều mà Mác không bao giờ nghĩ tới, hay nhằm kiểu ăn ốc nói mà, mà không bao giờ minh chứng được sát sườn hay rốt ráo nào về khoa học khách quan được cả.

Khác chi Hegel đã nói trong số học trò của ông, không ai hiểu rõ học thuyết của ông cả, trừ duy có một người, chỉ tiếc là người đó lại đã hiểu sai. Mác là người Đức (1818-1883), Hegel cũng người Đức (1770-1831), chắc chắn Hegel phải từng là người thầy của Mác, hay Mác cũng từng là học trò của Hegel. Có điều chẳng biết Mác nằm trong số có hiểu không và hiểu sai hay hiểu đúng vị thầy đó. Nhưng lại là điều trớ trêu của lịch sử, bởi sau cùng Mác dường như lại phủ nhận chính mình, chẳng khác gì kiểu luật biện chứng, mà Mác thừa nhận là chuỗi phủ định quy luật phủ định thiên thu bất tận, cho rằng Mác có hiểu phủ nhận nhưng luôn còn giữ lại, thật là điều còn mù mờ chưa có gì rõ rệt tuyệt đối cả.

Tức Tinh thần là cái bao trùm trong hoàn hệ thống học thuyết của Hege, hẳn nhiên không loại bỏ cả vật chất (matter) và tự nhiên (natur) gắn liền trong quá trình biện chứng. Hegel quả thật giống như tấm vải, Mác lại cắt ra từ đó một đoan để may bộ quần áo cho riêng mình, xong vứt cả toàn bộ tấm vải kia đi, lại may bộ quần áo của mình chỉ củn cỡn, ngắn ngủn, để lòi cả cả giò cả cẳng khác nào hài hước, đến nỗi sau cùng Mác lại cũng muốn liệng luôn chính nó, thật không thể nào làm sao lại không cười được.

Cho nên đó là hai câu nói hết sức thú vị và hết sức quan trọng dù có mang tính hài hước mà tôi cho rằng những người nào nghiên cứu, tìm hiểu về Hegel và Mác trước hết không thể nào bỏ qua được. Đây là hai câu nói mang tính thời thượng, nó luôn luôn cứ còn mãi, khó thể nào bỏ qua hay bị quên lãng. Câu nói trước không phải Hegel tự kiêu, ngạo mạn, trịch thường, bởi một người triết gia đúng nghĩa không bao giờ mắc phải tật xấu đó. Nhưng câu nói hàm ý Hegel biết mình biết người, thấy rõ cái hàm sức tư duy của mình mà không phải ai cũng có thể so sánh hay đạt tới được. Như trong một bài trước tôi đã để cập đến nguyên tắc bao quát của tư duy (volume of thought) mà không phải bất kỳ ai cũng cào bằng, so sánh hết được. Đó không phải mặt hình học mà còn mặt chất lượng (quality). Bởi vậy nghiên cứu Hegel không thể hời hợt, còn nghiên cứu Mác không thể cuồng tín, mê muội, căn cứ trên chính câu mà Mác đã tự mình viết ra hay nói đến. Bởi ngày nay các tài liệu về Hegel, Marx, Engels, Lênin chỗ nào cũng có thể tìm thấy, nhưng người tìm hiểu có tát cạn được hết hay không, có thông hiểu được hết hay không, có đánh giá được hết hay không, còn tùy vào tinh thần, trình độ, thái độ, ý thức, ý hướng, và chính năng lực của mình. 

Triết học là khoa học, mà khoa học thì đều luôn phải khách quan, vô tư, xác đáng và chính đáng. Trong khi đó chính trị thường có thể chỉ là đam mê cuồng dại, vụ lợi, thiên lệch, tà mị, hậu ý, hoàn toàn trái mọi điều khoa học và triết học. Bởi tinh thần khoa học và triết học luôn luôn là tinh thần vì sự thật, vì chân lý, vì bản chất khách quan, hưỡng đến cái gì vô hạn, chắc chắn hay vĩnh cửu. Trong khi đó chính trị chỉ dễ dàng dừng lại hay chấp nhận kiểu cảm tính, thị hiếu, nhất thời, trục lợi riêng tư, cho dù mặt ngoài ngôn ngữ có thường nói đến nhân văn, đến xã hội, đến nhân loại, đến sự thật hay chân lý thì bản chất cũng chỉ có thể và khó hay không bao giờ có thể vượt lên hay thoát ra được chính bản chất đó.

Bởi vì khoa học và triết học không chủ đích dừng lại nơi bất kỳ cá nhân nào, mà luôn hướng đến cái phổ quát, vượt lên khỏi mọi không gian, thời đại hạn hẹp, để đi đến cái phổ quát, phổ biến, tồn tại bao trùm và vĩnh hằng vượt xa tất cả. Cái mâu thuẫn hay trái ngược giữa Hegel và Mác chính là ở khái niệm tâm (spiritual) và vật (material). Cái nào bao gồm cái nào, cái nào có trước cái nào, đó là điều cốt lõi hoàn toàn khác biệt giữa Hegel và Mác hay duy tâm (idealism) và duy vật (materialism). Mác luôn đắm đuối về cái thực hữu (real), cái cụ thể (concrete). Như hai khái niệm này được hiểu như thế nào, được hiểu tới đâu lại là chuyện khác. Mác nhấn mạnh duy nhất và luôn luôn đến cái “praxis”, thực hành. Như câu nói đã từng được coi là thời danh “Các nhà triết học từ xưa đến nay chỉ nhằm giải thích thế giới, nhưng vấn đề thiết yếu là nhằm phải biến đổi thế giới”. Câu nói này từng thu hút biết bao nhiêu người, tưởng rằng nó là chân lý tuyệt đối, giá trị hay nguyên lý tuyệt đối. Thế nhưng họ không thể nào thấy được cái mông lung, nông cạn, chủ quan, và hợm hĩnh của nó. Bởi vì biến đổi là biến đổi thế nào, cách mạng là cách mạng thế nào, phải chăng là nhằm kiểu xóa bài làm lại, có hoàn toàn hư ảo, cuồng loạn, hoang phí, nông cạn, nông nỗi và phiến diện, lố bịch cả thảy hay không. Điều đó sẽ dễ dàng dẫn đến cuồng tín, mù quáng vô bổ, vô ích mà ai cũng đã thấy ra được. 

Như vậy, giữa Hegel và Mác cái nào mới bao trùm cái nào, có thể đối với nhiều người vẫn là điều khó nào. Bởi vì chưa chắc bên nào đã tuyệt đối đúng cả, mặc dầu rõ rang Mác chỉ là điều trích xuất ra từ Hegel mà không gì khác. Điều này cũng có nghĩa đẳng cấp trong thực tế, xã hội, và lịch sử vẫn là điều luôn luôn có. Đó là quy luật dị biệt đa dạng của muôn vật. Mác lấy điều “giai cấp” và “đấu tranh giai cấp” làm tiêu chí, làm mục đích và làm cốt lõi cho học thuyết của mình, trên nền móng của biện chứng luận. Nhưng biện chứng luận có yếu tính, có bản thân, bản chất từ trong quan điểm duy tâm của Hegel, làm sao chuyển qua được bản thân duy vật theo Mác quan niệm. Bản chất của nước và bản chất của lửa là hoàn toàn khác nhau, đâu thể nào lấy cái nọ xọ cái kia, biển đổi cái này thành cái kia, chuyển nguyên lý vận động từ cái này qua cho cái kia mà được ? Vậy Mác phải chăng chỉ là kẻ nông nỗi, nông cạn, ẩu tả và ngờ nghệch mà nhiều người khó nhận ra được. Phải chăng chính điều này mà cuối cùng Mác tự nhận ra chính mình do các hệ lụy đem lại mà Mác đã thấy để rồi tự bác khước chính mình.

Cho nên hiểu muôn vật đã là khó, hiểu được người khác cũng là khó, cả hiểu được chính mình có khi cũng có nhiều cái khó. Sông sâu còn có kẻ dò, có ai lấy thước mà đo lòng người. Câu ca dao ngạn ngữ dân dã này nói lên nhiều điều mà nó muốn nói. Bởi chân lý nào đó hay khía cạnh chân lý nào đó vẫn luôn luôn phát triển, biến đổi theo nhận thức của con người thay đổi. Chẳng có chân lý nào bất biến, đó là ý nghĩa chung luôn luôn bao hàm nhất. Thời Hegel, Mác đã từng nói hai câu đó, nhưng thời nay cũng không hoàn toàn khác. Có người vẫn lớn giọng, học thuyết Mác hay Hegel ngày nay ai cũng biết cả rồi, không cần phải nhắc đi lặp lại. Thật sự chỉ là quan điểm trẻ con ấu trĩ, bởi vì “biết” thế nào mới là đúng hay là đủ, quan điểm cái biết của đám đông, của mọi người, của quần chúng liệu đã hoàn toàn cái biết về khoa học, về triết học chiều cao, sâu xa hay chuyên biệt được không, đó là điều mà người trí thức chân chính không ai có thể phủ nhận. Bởi vậy quan điểm “sứ mệnh lịch sử của vô sản” mà Mác huyền thoại hóa, thực chất chỉ là khái niệm mê tín, huyễn hoặc, thần bí, mị dân, cả khái niệm ngu dân, ngu hóa xã hội, ngu hóa lịch sử, về phương diện nhận thức và hành động, mà từ cổ chí kim, lịch sử nói chung, nhân loại chưa hề từng có. Đến đây tưởng cũng đã khá đầy đủ về hai câu nói đã được trưng dẫn, chúng hoàn toàn đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều điều sâu sắc, có thể giúp ích cho nhiều người nghiên cứu khoa học và nghiên cứu triết học, kể cả nghiên cứu, tìm hiểu về học thuyết duy vật Mác xít.

 

By VÕ HƯNG THANH

          (09/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét