NÓI
VỀ NGUỒN GỐC VIỆC HÌNH THÀNH ĐẲNG CẤP
VÀ
GIAI CẤP TRONG LỊCH SỬ XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI
Trong
xã hội loài người luôn vẫn có sự khác biệt nào đó giữa các cá nhân, cả trong
gia đình lẫn ngoài xã hội. Đây là điều khách quan, tự nhiên không thể tránh được.
Điều đó do điều kiện thực tế sinh ra của mỗi người, thể xác cũng như tâm lý
tinh thần, lẫn cả về sau do các hệ quả xã hội bổ sung, trợ lực vào.
Sự
dị biệt đó tạo nên mọi đẳng cấp tự nhiên, cả như các giai tầng, hay giai cấp về
sau nếu có, nhưng đó vẫn đều những hiện tượng chỉ mang tính cách bề ngoài, bởi
chính tâm lý bên trong từng cá nhân con người mới là điều có ý nghĩa quyết định
quan trọng nhất. Những yếu tố bên trong đó như giáo dục, tình cảm, luân lý đạo
đức ràng buộc hoặc truyền thống xã hội lâu nay vốn có.
Điều
này đều đúng cho mọi xã hội, kể cả mọi giai đoạn của lịch sử xã hội loài người
nói chung. Bởi vì yếu tố nền tảng cấu thành mọi xã hội vẫn là cá nhân hay cá thể
người như là đơn vị con người, không thể có yếu tố hay đơn vị nào nhỏ hơn như
thê, và cũng không có yếu tố hay đơn vị nào ngoài như thế. Mỗi cá nhân gồm thể
lý và ý nghĩa hay nội dung tinh thần tạo thành nền tảng chung của xã hội, và
cũng điều này tạo ra thành đẳng cấp hay các tình trạng giai cấp về sau nếu có
trong toàn xã hội.
Đó
không hề là sự phân biệt cứng nhắc nào, cũng không phải là sự tổ chức hoặc định
dạng chặt chẽ nào, nó luôn có thể thay đổi, biến chuyển từng thời, từng lúc, từng
điều kiện hoàn cảnh khác nhau do chính bản thân cá nhân đó quyết định hay do cơ
chế hoặc thực tế bên ngoài xã hội quyết định. Đây là một thực tế thường phát
sinh, xảy ra hay thường có trong đời sống cụ thể thực tế, trừ những xã hội mà sự
phân biệt giai cấp, đẳng cấp đã trở thành đã trở thành cố định, bất biến ở một
số xã hội nào đó đã do quá khứ lịch sử nhất định để lại. Như ai cũng biết xã hội
Ấn Độ, được phân chia năm giai cấp rõ rệt mà đến nay vẫn không hề thay đổi.
Cụ
thể, giai cấp bà la môn giáo, hay giai cấp tăng lữ; giai cấp chiến binh và quý
tộc; giai cấp nông dân, thương nhân và nghệ nhân; giai cấp những người làm thuê
và nông dân nghèo; và giai cấp cuối cùng là giai cấp mạt hạng nhất, giai cấp không
ai muốn chạm tới. Sự phân biệt giai cấp như vậy ở đây rõ rang mang tính cách
như kiểu một định chế xã hội, không phải là sự phân biệt tiềm ẩn tự nhiên mang
tính cá nhân thuần túy như đầu tiên chúng ta đã nói. Thật ra sự phân biệt giai
cấp này chỉ là chủ quan xã hội, do điều kiện lịch sử xa xưa đưa lại, nó hoàn
toàn không nhân bản, chỉ mang kiểu định kiến xã hội có tính cách máy móc, không
có nền tảng chứng minh về bản chất thực tế nào cả.
Điều
này cũng có nghĩa đẳng cấp khách quan tự nhiên và giai cấp xã hội theo cách
phân chia giả tạo, định kiến hạn hẹp là hoàn toàn khác nhau. Điều đó cũng nói
lên việc phủ nhận đẳng cấp chưa chắc hợp lý và có giá trị, cũng như việc thừa
nhận giai cấp trong xã hội kiểu giả tạo là hoàn toàn phi lý và không có cơ sở
khách quan đúng nghĩa nào cả. Bởi vì đúng ra giai cấp thực tế là gì, chẳng qua
là sự phân chia, phân định nghề nghiệp xã hội, đều là hiện tượng kinh tế xã hội,
có thể luôn luôn biến chuyển mà không gì khác, hay không gì tuyệt đối cứng nhắc,
cố định cả. Bởi vì hoàn cảnh nào đó, cá nhân có thể chuyển từ nghề nghiệp này
sang nghề nghiệp khác, vị trí xã hội này sang vị trí xã hội khác trong ngắn hạn
hay trong dài ngày, như thế giai cấp đâu phải điều nhất thiết hay mãi mãi gắn
liền vào chính bản thân của họ.
Nói
khác đi, giai cấp xã hội không phải điều tự nhiên hay khách quan có mà là bởi
nguyên nhân chủ quan hay biến chuyển từ bên ngoài hoặc ho àn cảnh, điều kiện xã hội của cá nhân đó
mang lại. Có thể khi những cá nhân nào đó có hoàn cảnh điều kiện xã hội giống
nhau, thuộc đẳng cấp tâm lý và năng lực khả năng giống nhau, cùng thực hiện những
nghề nghiệp phân công xã hội giống nhau có thể trở thành hay được phân biệt
thành một loại phạm trù gọi là giai cấp nhất định nào đó chăng. Nhưng nói chung
giai cấp vẫn là sản phẩm tập hợp từ cá nhân và xã hội cũng như luôn có thể biến
chuyển, thay đổi mà không có gì tiên quyết hay bất biến cả.
Thế
nhưng giai cấp và sự phân biệt giai cấp cũng còn là hai điều hoàn toàn khác
nhau. Ví dụ do hoàn cảnh tình hình nào đó, sự hiện diện giai cấp là khách quan
hay tạm thời khách quan, điều đó cũng hoàn toàn khác với sự phân biệt giai cấp
như ý thức chủ quan. Bởi vì tâm lý ích kỷ và hợm hĩnh do bản năng tự nhiên của
con người là nguồn gốc ý thức phân biệt giai cấp, nhưng điều này cũng chẳng có
gì tuyệt đối giá trị hay đúng đắn cả. Bởi giai cấp sẽ được nhìn từ khía cạnh
nào, nội hàm nào, ý thức nào, đó mới là điều chủ yếu và thật sự có cơ sở khách
quan hay không. Biết người biết mình, đó là câu nói luôn đúng, nhưng hiểu theo
khía cạnh nào và liệu điều đó có sai hoặc chắc chắn đúng hay không. Nên khả
năng nhận thức hay sự giáo dục về ý thức đạo đức nó có thể làm cho tâm lý kỳ thị
giai cấp thay đổi hoặc ngay cả có thể được loại bỏ đi.
Ngay
cả trong gia đình, năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài vẫn là điều khách quan vốn
có. Đó là điều trời sinh tự nhiên như vậy không thể nào khác đi được. Bởi không
thể hai sự vật nào lại tồn tại hoàn toàn giống hệt nhau, có thể đồng hóa hoàn
toàn tuyệt đối với nhau. Vả chăng trong gia đình còn có tình cảm gia đình, mối
quan hệ huyết thống, mối dây liên kết tự nhiên, khó thể nào có sự phân biệt bất
kỳ khác do bên ngoài mang lại. Dầu gia đình là một xã hội thu hẹp, hay ngược lại
xã hội cũng là gia định mở rộng ra theo nghĩa nào đó thì quy luật năm ngón tay
có ngón ngăn ngón dài cũng luôn luôn tương ứng và hiện hữu. Thế nên sự phân biệt
nghề nghiệp xã hội hay sự phân công lao động xã hội của xã hội cổ Việt Nam :
Sĩ, Nông, Công, Thương không phải là điều hoàn toàn phi lý hoặc giả tạo mà phải
có yêu cầu ích lợi cần thiết nhất định nào đó.
Bởi
vậy dù nhất sĩ nhì nông, nhưng hết gạo chạy rông, lại vẫn nhất nông nhì sĩ. Điều
đó có nghĩa không hề có tâm lý ý thức kỳ thị giai cấp ở đây mà thật sự cả thực
tế giai cấp cũng không bất biến mà luôn có thể biến chuyển thay đổi. Ngay cả xã
hội phương Tây hiện đại cũng vậy. Vẫn luôn có những cá nhân, gia đình, giòng họ,
tầng lớp nào đó có thể nghèo đi hay phá sản, nhưng lại luôn có những cá nhân,
thành phần xã hội mới lại vươn lên, nhờ vào các biến chuyển xã hội không tiên
liệu hay thấy trước được. Có nghĩa giai cấp nếu có khách quan như là sự phân tầng
xã hội nào đó tạm thời do hoàn cảnh, thực chất cũng đều do nổ lực bản thân cá
nhân kết hợp với biến chuyển xã hội bên ngoài mang lại những thất bại hay thành
công tương ứng nào đó mà thôi. Bởi khi xã hội phát triển lên, luôn có những
ngành nghề mới ra đời, lại những ngành nghề cũ lụi tàn, mai một đi. Thời kỳ
phát triển công nghiệp của thế giới ngày nay ở mọi nơi đều cho thấy điều đó.
Bill Gates, Zuckerberg … ở đâu mà có nếu không phải là nhờ như thế.
Vậy
thì sự dị biệt của mọi điều, mọi loài trên thế giới là điều luôn luôn có và
không thể tránh khỏi. Giống như cây đều phải có ngọn, có thân và gốc, phải có
cành lá đa dạng, không thể chỉ một khúc gỗ đơn thuần. Muôn loài khác nhau cũng
vậy, mọi cơ cấu hay cấu trúc của từng sự vật cũng vậy, từ nguyên tử tới thiên
hà, từ tế bào đến sinh vật, sự sống đơn bào và sự sống đa bào, cấu tạo óc não
và tinh thần ý thức con người cũng hoàn toàn không thể đều y hệt nhau ở tất cả
mọi người. Sự phân gia đẳng cấp trong giá trị mỗi người cũng sự phân chia nghề
nghiệp hay giai tầng giai cấp trong toàn xã hội cũng không hề đơn thuần theo kiểu
nguyên lý như thế. Nhưng nếu cấu trúc vật chất dầu sao tương đối đơn giản, cấu
trúc sinh học lại vạn phần phức tạp hơn, từ cấu trúc gien đến cấu trúc tế bào,
thân thể, nhưng cấu trúc tinh thần, ý thức, tâm lý còn vô cùng phức tạp, trừu
tượng hơn nữa.
Nói
khác đi, cái lô-gích của tự nhiên, của xã hội, của lịch sử không phải chỉ đơn
giản giống nhau mà thực tế hoàn toàn khác nhau. Bởi vì chúng thuộc các loại dạng,
phạm trù, bản chất thực tế khác nhau. Mỗi thực tế đều có cái lô-gích đa trị
khác nhau trong chính mình mà không hề đơn gian, không phải chỉ có một loại
lô-gích đơn trị dùng chung có tất cả. Thế giới vật chất là thế giới cơ học thuần
túy, thế giới sự sống là thế giới phát triển từ bên trong vô cùng phức tạp, thế
giới xã hội nhân quần là thế giới tinh thần, ý thức tâm lý, không còn thuần là
hoạt động cơ giới máy móc, không thuần là hoạt động sinh học thuần túy, mà còn
là hoạt động của nhận thức, của suy lý, của lý tính lẫn tình cảm, đam mê, cảm
xúc, ý chí khác nhau.
Thế
nên đồng hóa tất cả vào vật chất, chỉ coi vật chất là thực tại duy nhất là thiếu
sót, chủ quan, thiển cận, nông cạn hay hoàn toàn không đúng. Cho dù Mác có nâng
cấp kiểu duy vật thô sơ đó lên thành duy vật biện chứng cũng lại thêm hoàn toàn
vô lý và không hề có cơ sở nào cả. Đó chỉ là một quan điểm thuần túy tưởng tượng,
o ép, bởi vì biện chứng đúng nghĩa phải luôn khởi phát tự bên trong, không thể
hoàn toàn từ bên ngoài mà vào. Vật chất tự nó không có nội hàm nào khác là tính
vật chất thuần túy của nó, thế thì nguồn gốc, nguyên nhân, động cơ nào để nó tự
biện chứng. Đó là quan điểm phi nguyên tắc mà Mác tự cho như một khám phá ghê gớm,
vĩ đại nhất của mình. Đó chẳng qua Mác chỉ gán ghép hai cái hoàn toàn ngoài
nhau vào với nhau dù chúng hoàn toàn xa lạ. Kiểu đem râu ông nọ cắm cằm bà kia,
lấy biện chứng luận duy tâm tinh thần của Hegel mang cắm vào vật chất đơn thuần
trần trụi của Mác. Chẳng những thế Mác và Engels còn nâng tiếp lên thành quan
điểm duy vật lịch sử thành lại càng gượng ép vô cùng.
Vì
ở đây, lịch sử xã hội đã hoàn toàn thoát ra khỏi tự nhiên, đã trở thành thực thể
độc lập tương đối của riêng mình, không thể mang quan điểm đấu tranh sinh tồn của
thuyết Darwin vào một cách hoàn toàn ngây thơ đơn giản hay ép uổng một chiều mà
được. Bởi tinh thần ý thức cá nhân con người đã không còn là sinh vật kiểu hoàn
toàn thuần túy nữa, tinh thần ý thức đã có các quy luật riêng tâm lý của nó, và
sự khác nhau giữa bản thân tinh thần với bản thân sinh học cũng đã hoàn toàn
khác hẳn không nói là còn hoàn toàn đi xa ra khỏi chuyển động cơ học vật chất
thuần túy mà Mác luôn luôn tâm đắc và gắn bó là sự vận động không ngừng của vật
chất. Đó là sự vận động chỉ hoàn toàn vô nghĩa trong chính tự bản thân của nó,
làm sao cơi lên thành hoạt động kiểu chủ thể ý thức của tính cách đặc biệt của
tinh thần.
Cuối
cùng thuyết duy vật của Mác không ngoài chỉ lấy kinh tế làm cơ sở. Mác cho rằng
chính sự vận động của hoàn cảnh điều kiện vật chất của thực tế xã hội phản chiếu
vào óc não con người tạo thành ra mọi nội dung ý nghĩa tinh thần khác nhau mà
không có gì khác. Nhưng một sự phản chiếu gương vẫn muôn đời là sự phản chiếu
gương có làm sao ra ngoài điều đó được. Giọt sương phản ảnh vạn vật chung quanh
thì nó cũng chỉ ngàn lần là giọt sương, có làm sao tự hiểu biết gì khác. Tấm kiếng
chiếu dọi, phản ảnh ánh sáng mặt trời thì triệu năm nó vẫn là tấm kính đâu thể
nào khác. Thành nên quan điểm của Mác là quan điểm biến thể, thồi phòng mọi thứ
nhưng lại chẳng có cơ sở khoa học khách quan cụ thể chắc chắn nào cả.
Mác
cho sự sản xuất vật chất hay là lực lượng sản xuất luôn luôn đưa đến hay làm
phát sinh quan hệ sản xuất, tức giai cấp sản xuất trong xã hội loài người. Sự
biến đổi lượng ra chất từ lực lượng sản xuất tạo thành quan hệ sản xuất cũng
làm quan hệ sản xuất biến chuyển và cuối cùng giai cấp xã hội biến chuyển. Khi
giai cấp vô sản đã trở thành số đông, đa số áp đảo, ý thức được vai trò lịch sử
của mình sẽ làm giai cấp tư sản tự chôn, đào thải xã hội tư bản có giai cấp
thành xã hội vô sản chỉ có một giai cấp và cuối cùng đi đến xã hội không còn
giai cấp tuyệt đối. Thật ra nguyên lý lượng biến thành chất chỉ là nhận thức
lô-gích chỉ mang tính hình thức như trong một bài trước tôi đã nói đến. Vả rõ
ràng Mác chỉ phát biểu nguyên lý lịch sử xã hội theo kiểu chủ quan, một chiều,
máy móc, thô thiển, tự động kiểu cơ giới mà không đếm xỉa đến ý thức chủ thể của
bản chất tinh thần con người là gì.
Đúng
ra lực lượng sản xuất tức là công cụ kỹ thuật hay tư bản nói chung do đâu mà
có. Nó là sự phát triển lịch sử của lao động con người nhất là đầu óc tìm tòi,
khám phá khoa học của con người. Nó không phải tự trời rơi xuống hay do đấu
tranh giai cấp hoặc bóc lọt trong lịch sử mà tạo thành. Tinh hoa khoa học ở đây
Mác hầu lờ đi không quan thiết đến. Chỉ nghĩ có tích lũy tư bản do bóc lột giai
cấp mà có và đấu tranh giai cấp mà ra. Thành ra như vậy chính tinh thần con người
hay trí tuệ con người là yếu tố hàng đầu phát triển lịch sử xã hội mà đâu phải
sức mạnh vật chất phát triển xã hội. Nhân loại đã ngàn đời ở trong chế độ nô lệ
rồi phong kiến, chuyển qua nông nghiệp, vẫn làm sao phát triển ngoạn mục như
khi khoa học kỹ thuật bắt đầu và đưa đến khoa học công nghệ ngày nay.
Mác
cho tư hữu là đầu mối hay nguyên nhân của bóc lột và hình thành phân chia giai
cấp và tiến tới đấu tranh giai cấp. Do vậy Mác cho rằng phải xóa bỏ tư hữu mới
có thể đi đến xã hội không còn giai cấp. Nhưng Mác quên rằng tư hữu là công cụ
tồn tại thiết yếu của con người phân biết với loài vật thuần túy, và đó cũng là
công cụ làm phát triển cá nhân và xã hội đi đến phát triển khoa học kỹ thuật, ý
thức tinh thần sau này của xã hội loài người. Có thực mới vực được đạo, đó là
câu nói chân lý của cổ nhân ta. Nhưng thực chỉ là điều kiện của đạo, thực không
hoàn toàn cũng chính là đạo. Vật chất chỉ là điều kiện cần không bao giờ là điều
kiện đủ của phát triển văn minh tinh thần trong thế giới loài người. Mác bởi vậy
chỉ nhìn gà hóa cuốc, cho vật chất là tất cả, cho lực lượng sản xuất vật chất
là tất cả, nhưng không đi xa hơn về nguồn gốc của nó là gì, công dụng thực chất
là gì. Thành ra quan điểm kinh tế xã hội học của Mác hoàn toàn chỉ là quan niệm
máy móc, nông cạn, thiển cận, chỉ kiểu trích đoạn phần lớn chỉ một chiều mà
không lý giải rốt ráo rành mạch tất cả mọi điều gì khác.
Nói
tóm lại bản thân con người, lịch sử xã hội vẫn luôn là một thực tại có chứa nhiều
bản thân, ý nghĩa hết sức phức tạp, không thể chỉ giản lược vào một vài quan điểm
cơ giới máy móc nào đó. Làm kiểu như vậy đều dễ trở thành nông cạn, giản đơn, củn
cỡn, rơi vào kiểu quan niệm chủ quan, độc đoán, phi khoa học và thậm chí còn phản
cả triết học. Quan niệm đấu tranh giai cấp, quan niệm xã hội hoàn toàn duy vật,
quan niệm vật chất quyết định ý thức, quan niệm thế giới tinh thần con người
cũng chỉ là bản thân vật chất và phản ảnh thế giới vật chất trong xã hội v.v… thực
chất đều là những quan điểm thiển cận, phiến diện, hời hợt, nông cạn, chủ quan,
độc đoán một chiều mà Mác đã từng mang đến biết bao hệ lụy cho cả lịch sử hơn
trăm năm qua của toàn lịch sử nhân loại. Quan hệ sản xuất là quan hệ tổ chức,
phân công xã hội qua nghề nghiệp chức năng sản xuất. Lực lượng sản xuất luôn kết
thành chủ yếu từ ý thức sang tạo và tài năng phát triển khoa học kỹ thật của
loài người. Đem gắn hai phạm vi hay phạm trù hoàn toàn khác nhau đó của Mác chẳng
qua cũng không ngoài ý đồ đấu tranh giai cấp, tiêu diệt giai cấp và đi đến xã hội
không giai cấp đầy tính phi thực tế và hoàn toàn không tưởng mà Mác luôn hoài
thích thú tưởng tượng trong suốt cuộc đời ham mê tư biện của bản thân mình cho
dù quan niệm đó mới là thực tế và đó mới là thực sự khách quan khoa học.
By VÕ HƯNG THANH
(23/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét