Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

    NÓI VỀ SỰ HIỂU BIẾT ĐỐI VỚI CHỦ THUYẾT MÁC LÊ

THEO “LỀ PHẢI” CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT TỪ LÂU NAY

 

Ở đây căn bản nhất là tập trung vào chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử do Mác, Engels, Lenin đưa ra, và phản ánh qua đầu óc hiểu biết theo lề phải mà nhiều người Việt hiện nay cho thấy. Điều này có nhan nhãn trên mọi tài liệu giảng dạy nơi học đường và phổ biến chính thức, do các nhà xuất bản của nhà nước trung ương từ Hà Nội phát hành, và người ta tìm thấy ngay cả trên trang Wikipedia nổi tiếng phần bằng tiếng Việt chắc đưa lên bởi số người Việt nào đó hẳn được trang bị chính thức mà bất kỳ ai truy cập vào trang Wiki tiếng Việt này đều có thể tìm thấy.

Về chủ nghĩa duy vật nói chung, được trình bày :

Chủ nghĩa duy vật là một trường phái triết học, một thế giới quan, một hình thức của chủ nghĩa triết học nhất nguyên cho rằng vật chất là chất cơ bản trong tự nhiên, và tất cả mọi thứ, bao gồm cả trạng thái tinh thần và ý thức, là kết quả của sự tương tác vật chất. Theo chủ nghĩa duy vật triết học, tâm trí và ý thức là sản phẩm ph của các quá trình vật chất (như sinh hóa của não người và hệ thần kinh), mà không có chúng thì tâm trí và ý thức không tồn tại”.

Về chủ nghĩa duy vật biện chứng được viết :

“Chủ nghĩa duy vật biện chứng, thông qua việc lấy phép biện chứng Hegel, tước bỏ các khía cạnh duy tâm của phép biện chứng này, và hợp nhất chúng với chủ nghĩa duy vật”.

“Là một bộ phận của học thuyết triết học do Karl Marx và Friedrich Engels đề xướng. Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng”. “Marx đã kế thừa tư tưởng về phương pháp biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel và lý luận về chủ nghĩa duy vật của Ludwig Andreas von Feuerbach và phát triển nên phương pháp luận này”.

Karl Marx và Friedrich Engels đã kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển. Hai ông cho rằng phép biện chứng là quy luật vận động của thế giới khách quan, không phải chỉ là sự vận động của tư tưởng”.

Phép biện chứng là một phương pháp triết học, cụ thể hơn, là tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng: Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó. Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập, nhằm phản đối lại cái trước tiên. Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ cao hơn khi một hợp đề khác xuất hiện”.

Về chủ nghĩa duy vật lịch sử thì nói :

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, theo đó, trong các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất là cơ sở hiện thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầngchính trịpháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng. Mỗi hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất.

“Các lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển không ngừng, đến một giai đoạn nhất định, sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, và đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi ấy được thực hiện bằng cách mạng xã hội.

“Một khi cơ sở hạ tầng đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay đổi theo. Hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn. Như vậy, lịch sử loài người là lịch sử thay thế của những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau”.

“Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật chung nhất của sự vận động phát triển của lịch sử, là nguyên nhân dẫn đến sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội thấp, đến trình độ cao hơn, vận động theo hình xoáy ốc, và đỉnh cao của nó là xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.

“Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất, với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau của xã hội. Khác với những khoa học xã hội cụ thể, chủ nghĩa duy vật lịch sử không nghiên cứu những quy luật cục bộ, riêng biệt, chi phối sự phát triển của các quá trình về kinh tế, chính trị hay tư tưởng, mà nghiên cứu những quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội.

“Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất. để vạch ra những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển biến, từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác, mối liên hệ qua lại, và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tếchính trịtư tưởng…”

“Chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người.

Marx và Engels tiếp thu một cách có phê phán phép biện chứng của Hegel, họ cho rằng biện chứng duy tâm của Hegel không áp dụng được để giải thích về bất công xã hội đang trở thành vấn đề ở các nước công nghiệp hóa vào thập niên 1840

Marx và Engels đã đặt phép biện chứng trên lập trường duy vật, tạo ra một lý thuyết mới, không chỉ nhằm giải thích về thế giới mà còn hướng đến chỉ ra cách thay đổi nó”.

Trước hết, chúng ta thấy đây toàn là một cách trình bày một chiều, trường tượng, mang tính ức đoán, khẳng quyết, mô tả bên ngoài nói chung, mà không hề giải thích, lý giải các động lực nào cụ thể bên trong cả. Sự lý luận, sự mô phỏng nói chung chỉ mang tính áp đặt, quy giản theo cách một chiều mà không hề có sự phân tích, chứng minh khoa học nào đối với các sự khẳng định mang đầy tính áp đặt, đầy kiểu tư biện chủ quan của chúng. Và chúng ta cần đi vào các phản biện mang tính cụ thể, xác đáng sau đây :

1/  Phê phán chủ nghĩa duy vật nói chung :

Chủ nghĩa duy vật nói chung tựu trung chỉ thừa nhận vật chất là cái duy nhất tồn tại trong hiện hữu, ngoài ra không có bất kỳ một cái gì khác. Các tồn tại hay hiện tượng khác như tinh thần, ý thức, đều là kết quả của tương tác vật chất. Tâm trí và ý thức đều là những sản phẩm phụ của các quá trình vật chất hoạt động như bộ não và thần kinh, còn ngoài ra chúng không tồn tại độc lập.

Đây rõ ràng là kiểu cách suy luận chủ quan, độc đoán, giản lược cực đoan. Chỉ khẳng định vật chất tồn tại duy nhất rồi dừng lại. Không cần truy nguyên thêm nguồn gốc vật chất do đâu mà có, bản chất tối hậu nhất của nó là gì, tại sao nó tự vận động để tạo ra các sản phẩm phụ không mang bản chất của chính nó được. Sự khác nhau giữa vật chất vô cơ và vật chất hữu cơ do đâu mà có. Sự khác nhau giữa vật chất thuần túy và sự sống là tự đâu. Tại sao bản chất ý thức trừu tượng, vô hình như ý thức, tinh thần lại xuất hiện. Trong khi đó bản chất vật chất chai ỳ và tinh thần, ý thức là hoàn toàn khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược, đối lập nhau. Như vật chất thuần thì mang mọi tính chất vật lý cụ thể khác nhau, trái lại tinh thần, ý thức thì hoàn toàn vô hình, hoàn toàn không phải như thế. Vả chăng mọi vật con người nhận thức bằng cảm nhận giác quan đều là vật chất, như trên trái đất, trong hệ mặt trời. Đều chỉ là khoảnh khắc đời sống con người trong trăm năm. Nhưng với toàn bộ vũ trụ vô hạn mà nhiều khi quảng cách trong nó đo bằng cả tỉ tỉ năm ánh sáng, liệu mọi điều quy nạp cách giản dị có còn ý nghĩa gì không. Mặt trời mỗi sáng vẫn mọc lên nhưng có gì bảo đảm vào thời điểm nào đó sự kiện đó sẽ không còn xuất hiện nữa. Mọi con thiên nga đều màu trắng, nhưng ai dám chắc có khi nào đó con thiên nga đen không xuất hiện. Quan điểm duy vật chỉ là quan điểm cảm nhận thực tế, không phủ nhận được nó trong các giới hạn, phương diện nào đó, nhưng có gì khẳng định nó là tuyệt đối duy nhất và toàn diện. Nên đó có thể chỉ là quan điểm chủ quan, tương đối, phiến diện, mang chất độc đoán, nông cạn, nếu người ta không thể chỉ khu khư nơi đó mà có thể có quan điểm sâu xa, bao quát hơn. Vả, cả hệ thống thần kinh và óc não, đó không phải chỉ là hệ thống vật chất theo kiểu vật lý, hoạt động cơ giới tầm thường, mà đó là hoạt động sinh học, có sự sống, sự phát triển và sự chết đi, hơn thế, óc não, thần kinh dầu sao vẫn là cơ quan sinh học cụ thể, trong khi đó ý thức, tinh thần là hoàn toàn vô hình và trừu tượng, từ cái cụ thể vật chất qua cái trừu tượng như thế thật không hoàn toàn đơn giản, không hoàn toàn giản lược cái này vào cái kia một cách nông cạn, độc đoán, nếu không nói quan điểm duy vật ngây thơ chỉ là quan điểm hời hợt, thiển cận, hạn chế, hoặc thậm chí ngu dốt,

2/ Phê phán về phép biện chứng :

Nguyên lý biện chứng cổ đại chỉ là nguyên lý biện chứng chủ quan, có trong sự tranh biện, đối thoại, nhận thức của con người, trong ý thức con người. Trong khi đó biện chứng luận (Dialektik) của Hegel là khái niệm biện chứng khách quan (objective), tức nó là quy tắc nội dung của Tinh thần (Geist) hay Vũ trụ hiện thực (Universum). Tức theo nguyên lý tự chối bỏ, phủ nhận liên tục (Negation der Negation), Aufhebung, tự phủ định và tự giữ lại để tự thoát ra và vươn lên (Entaeusserung). Thế nhưng đó vẫn chỉ là quan điểm triết học của Hegel, chưa có gì bảo đảm nó là chân lý khoa học hoàn toàn khách quan, cụ thể, chắc chắn, phổ biến cả. Nó có vẻ chỉ là quan điểm tư biện trừu tượng, chẳng có gì tuyệt đối cụ thể cả. Tiền đề, phản đề, hợp đề, có thể áp dụng vào đâu cũng được, lúc nào cũng được, vật nào cũng được, vậy chỉ là kiểu lý luận trừu tượng, chẳng có gì sâu sắc hay đặc thù cả. Bởi vì cái cây chết đi, con vật chết đi, vẫn là quá trình tự chối bỏ liên tục, hạt mầm mọc lên, tế bào phát triển ra, vẫn là quá trình tự chối bỏ liên tục, nhưng chiều hướng lại hoàn toàn khác nhau, động cơ động lực hoàn toàn khác nhau, nên cái gì là cốt lõi quyết định giữa hai chiều thướng tiêu cực và tích cực trong “phép biện chứng” ở đây. Khiến khái niệm “biện chứng” qua cửa miệng số người, thực chất chỉ là kiểu nói theo như vẹt mà chẳng hiểu biết sâu xa ất giáp chỉ cả. Mà nếu dù có công nhận nguyên lý biện chứng kiểu đó là đúng, có đâu bao giờ nó dừng lại, mà cứ tiếp tục hoài hoài như vậy, cuối cùng sẽ đi tới đâu ? Đó trở thành chỉ một khái niệm hoàn toàn mơ hồ, rỗng tuếch, ảo tượng và vô bổ. Ngoài ra, về mặt hai cực mâu thuẫn, đối lập. Như cực bắc nam của nam châm, của địa cầu, của dòng điện, có bao giờ nó đi tới đâu, có bao giờ tự phủ nhận nhau, mà hoàn toàn thống nhất để tồn tại thì sao ? Cho nên “biện chứng” nếu không xét đến kỳ cùng, thật sự chỉ là quan niệm giả tạo, cương đại, rỗng tuếch, hời hợt, nông cạn, bế tắt mà chẳng ra làm sao cả.

3/ Phê phán về chủ nghĩa duy vật biện chứng :

Như vậy nếu khái niệm biện chứng là khái niệm mơ hồ, quan điểm duy vật cũng là quan điểm hạn hẹp, không tuyệt đối, vậy ghép hai cái đó vào nhau, duy vật biện chứng, thật ra có mang ý nghĩa gì. Đâu có nghĩa hai ý niệm tiêu cực ghép lại với nhau là nhất thiết đi tới được một khái niệm tích cực. Vật chất tự nó không có thuộc tính nào khác hơn chỉ là bản thân chất thể của nó. Vậy thì cái gì có thể làm cho nó tự “biện chứng” được, tự thay đổi chính bản thân của mình được, theo cách xuất hiện ra cách khác lạ lẫm hơn mình, vượt lên và vượt được ra ngoài chính mình để nhằm phát triển ra cái gì đó khác hơn, như tinh thần, ý thức chẳng hạn. Bởi một tảng đá vô thức thì dẫu triệu năm nó vẫn chai ỳ, vô thức, làm sao phát triển ra được sự sống hữu cơ hay ý thức xuất hiện ra từ chính tảng đá đó. Nên quan điểm duy vật biện chứng chỉ là quan điểm gán ghép hạn hẹp, phi lý, vô lối, mang đầy tính cách tưởng tượng, áp đặt, rỗng không và quái dị.

4/ Phê phán về chủ nghĩa duy vật lịch sử :

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội”. Nói điều này thì thật ra có ý nghĩa gì. Lý do gì mà “khẳng định”, và tại sao tồn tại xã hội lại “quyết định” ý thức xã hội. Toàn là lối nói phong cấp một chiều, lấy cái chủ quan mình mà xác lập, còn chẳng cần chứng minh khách quan, khoa học gì cả. Ý thức cá nhân thì ai cũng biết, còn ý thức xã hội là gì, có phải là một bài toán cộng, tổng số các ý thức cá nhân hay không, một ý thức “gộp” lại hay không ? Ý thức cá nhân thì rõ ràng phát xuất từ sọ não của cá nhân, nhưng ý thức xã hội thì định khu, cư ngụ ở đâu, đó là điều chỉ nói bừa mà chẳng hề giải thích cụ thể. Thế nên “các hình thái kinh tế - xã hội” là gì ?

Lại được giải thích “các quan hệ sản xuất là cơ sở hiện thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầngchính trịpháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng. Mỗi hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất”. Toàn bộ ý này chỉ nhằm để quy vào “quan hệ sản xuất” là chính yếu. Nhưng không có chủ thể sản xuất thì lấy đâu quan hệ sản xuất. Nên muốn nói đến cái sau phải phân tích kỹ lưỡng về cái trước, điều này không hề làm mà chỉ nhằm “úp bộ” tùy tiện, khiên cưỡng, chẳng cần đến thứ lô-gích xác đáng, cụ thể, hữu lý nào cả mà chỉ cần tin suông, phán suông. Bởi quan hệ sản xuất thật sự chỉ là cái về sau, cái quan sát, nhận định về sau, nó không phải cái căn cơ ban đầu chỉ là các cá nhân, các chủ thể sản xuất. Con người muốn tồn tại, sống còn là sống còn qua cá nhân, thân ai tự phải lo trước nhất rồi mới nói đến xã hội. Sản suất, làm ra vật phẩm thiết yếu cho đời sống và tiêu dùng, đó là mục đích, nguyên do thúc đẩy cá nhân, nó là nhu cầu và hiện thực trước hết, còn quan hệ sản xuất như tự mình làm, nhờ vả, thuê mướn thêm người khác, chỉ là hoàn cảnh, điều kiện đến về sau, chẳng có gì là căn cơ hơn cái trước.

Vậy mà nói “quan hệ sản xuất là cơ sở hiện thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầngchính trịpháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác”. Tức nhằm khẳng định cái chưa gọi là trước nhất này lại là “cơ sở hạ tầng” để từ đó xây nên mọi “kiến trúc thượng tầngchính trịpháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác”. Chủ ý nhằm nói quan hệ sản xuất đều quyết định hết các ý thức, tinh thần, mọi định chế tổ chức khác nhau trong xã hội. Hay chúng chẳng có giá trị, ý nghĩa gì riêng tư cả, chúng chỉ là phụ phẩm của quan hệ sản xuất giữa người và người trong xã hội, chẳng khác tinh thần, ý thức, tình cảm, càm xúc, bản năng …nói chung chỉ là “phụ phẩm” của hoạt động thần kinh óc não không hơn không kém. Thật là cả sự nhập nhằng, đồng hóa mọi loại, chẳng có gì là ý nghĩa khách quan hay chứng minh, lý giải rạch ròi về khoa học cụ thể cả. Tất cả đều chỉ là sự ức đoán, sự quy giản chẳng cần gì cơ sở đúng đắn hay đầy đủ hết. Lại cho rằng toàn bộ mọi cái đó đều “phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất”, nên cuối cùng đây mới là cái quyết định hơn cả. Nhưng “lực lượng sản xuất” là gì thì không định rõ. Đó phải chăng là máy móc, tư bản, năng lực hoạt động tạo ra của cải, mà toàn bộ những cái đó đều hàm chứa, hay có cả tỉ trọng trí tuệ con người hòa lẫn vào trong đó. Ở đây biểu hiện ra sự khác nhau giữa lao động cơ bắp đơn thuần và lao động có kỹ thuật, có tư bản. Và cái nào quyết định cái nào, cái nào có trước cái nào, có lẽ Mác không hề nghĩ đến hay không thấy nói đến.

Lại nói tiếp “các lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển không ngừng, đến một giai đoạn nhất định, sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, và đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi ấy được thực hiện bằng cách mạng xã hội”. Rõ ràng ở đây mới để lộ ra “sự mâu thuẫn về quan hệ sản xuất” xuyên qua  thời gian, tiến trình phát triển xã hội, đặc biệt xã hội có “giai cấp” và đi đến “cách mạng xã hội”. Tựu trung muốn nói sự mâu thuẫn quan hệ giai cấp là nền tảng cốt lõi nhất, nó như động cơ, động lực quyết định toàn tiến trình phát triển mỗi xã hội hay toàn lịch sử xã hội. Có điều cái gì quyết định tất cả mọi cái đó, phải chăng sâu xa nhất hay tiên quyết nhất vẫn là ý thức con người (như bất mãn, so sánh, đố kỵ, bản năng, tham vọng, ý chí, thù ghét, tham lam … hay đều là ý thức thuần túy, có trước hết) là điều Mác làm lơ hay không để ý. Nói khác đi, ở đây có sự nhập nhằng, lẫn lộn, chẳng phân định rõ ở đâu là mức độ của ý thức và vật chất, mà đó đáng lẽ là điều phải phân tích sâu xa, đầy đủ hơn, Mác không hề quan tâm hay đặt nặng tới. Mác chỉ quan tâm việc “quan hệ sản xuất đã lỗi thời”, mà không lưu ý đến “công cụ kỹ thuật đã lỗi thời” trong tiến trình phát triển của mọi xã hội bình thường. Nói cách khác, Mác chỉ nhìn theo khía cạnh chủ quan, hạn hẹp, định kiến, thiên kiến, cảm tính, thị hiếu của vấn đề mà không hề mong muốn nhìn rộng rãi, chiều sâu, khách quan của vấn đề. Tức ở đây Mác chỉ muốn áp dụng quan điểm biện chứng duy vật theo Mác hiểu để làm thành biện chứng duy vật lịch sử mà Mác mong muốn, nhưng không cốt đào sâu, phân tích mỗi thành phần, yếu tố như vậy, thực chất chiều sâu, bản chất những vấn đề như thế có phải thật sự như thế không, hay là cái gì khác hơn, là cái Mác đều không hề lưu tâm tới.

Mác chỉ nói một cách chung chung, trừu tượng, tư biện theo kiểu một chiều, quy định, áp đặt, hay kiểu viễn mơ, tin suông như “Một khi cơ sở hạ tầng đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay đổi theo; “hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn”; “lịch sử loài người là lịch sử thay thế của những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau”.

Để cuối cùng kết luận : “Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật chung nhất của sự vận động phát triển của lịch sử, là nguyên nhân dẫn đến sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội thấp, đến trình độ cao hơn, vận động theo hình xoáy ốc, và đỉnh cao của nó là xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.

Mà “quy luật chung nhất” đó chỉ là quy luật của chính bản thân vật chất quyết định tất cả mà ngoài ra không có gì hơn. Tất cả còn lại chỉ là mọi sản phẩm phụ của vật chất, trong đó có óc não con người, ý thức, tinh thần, xã hội cùng các ý thức của nó, gộp chung là thượng tầng kiến trúc. Hay nói cho tận kỳ cùng, cốt lõi của duy vật lịch sử theo Mác quan niệm vẫn thuần túy là duy vật biện chứng. Tức là sự vận động của vật chất theo cách tổng thể để tạo nên tất cả, từ tinh thần, ý thức cá nhân con người đến lịch sử tổng quát chung của toàn xã hội. Rõ ràng thực chất đây là quan điểm hoàn toàn hay hết sức tiêu cực, bởi cũng chẳng khác nào là phủ nhận tất cả ngoài trừ ra vật chất, biến thành một thế giới hư vô, không tưởng hoàn toàn, dù Mác xây dựng nó dưới bao nhiêu nhãn quan, danh từ, mơ mộng, hay nhiều ý tưởng huyễn hoặc, mê hoặc rất khác nhau.      

Lại viết tiếp Marx và Engels tiếp thu một cách có phê phán phép biện chứng của Hegel, họ cho rằng biện chứng duy tâm của Hegel không áp dụng được để giải thích về bất công xã hội đang trở thành vấn đề ở các nước công nghiệp hóa vào thập niên 1840”. Nhưng thế nào là “tiếp thu một cách có phê phán phép biện chứng của Hegel ? Trong khi bản chất và mục đích tối hậu của triết học nhằm là tìm ra chân lý khách quan khoa học, thế thì tiếp thu một cách có phê phán là nghĩa gì, chẳng khác gì một sự tiếp nhận kinh nghiệm tầm phào, chẳng có gì là sự chọn lọc, khám phá của riêng chính mình về mọi điều khách quan tự nhiên hay xã hội. Bởi thế cho nên mới nói “biện chứng duy tâm của Hegel không áp dụng được để giải thích về bất công xã hội. Nhưng biện chứng duy vật có giải thích khoa học rốt ráo được các bất công xã hội con người xưa nay không ? Đó thật là điều tự khẳng định chẳng có cơ sở nào cả, trừ phi là sự ham muốn chủ quan kiểu thị hiếu. Bởi bất công xã hội chỉ thuộc vấn đề chính trị kinh tế xã hội, vấn đề hoàn toàn thực tiển, tại sao lại huy động toàn bộ sự giải thích hay sự thực hiện triết học được vào đây. Dùng tình cảnh thợ thuyền Anh trong những thập niên 1840 để triết lý duy vật hóa toàn bộ lịch sử mọi mặt của xã hội loài người, phải chăng là việc làm phi phương pháp, phản khoa học, phản chân lý khách quan mà Mác đã chủ quan phạm phải.     

Nên nói chung lại, quan điểm quy luật biện chứng luận của Hegel là nội dung duy tâm, nó được xây dựng trên động cơ và bản chất duy tâm. Điều như vậy có thể chuyển qua được động cơ và bản chất duy vật hay không là điều hoàn toàn phải cần nói. Lấy một động cơ gỗ cùng nguyên tắc chế tạo để thay thế cho một động cơ máy, đem lắp vào một chiếc thuyền gỗ, điều đó có hoàn toàn hợp lý, đầy đủ và hoàn thiện hay không, đó là điều cần nói. Thành nên Mác từng nói mình “lật ngược” Hegel lại. Kiểu lật ngược một chai rượu, một bình rượu để tin tưởng nó sẽ biến thành nước, hay thành một chất lỏng nào khác, đó là điều mà xưa nay chưa có ai làm chỉ trừ ra chính Mác. Vậy mà nếu không có “phép biện chứng” thì cả duy vật lẫn duy vật lịch sử đều hoàn toàn vô nghĩa, khác chi một chiếc xe, chiếc thuyền bị cạy mất đi động cơ lắp trong nó. Thành ra tư duy của Mác nhìn chung chẳng khác gì một hệ thống tư duy củn cỡn, chẳng ra đầu ra đuôi gì cả. Thế mà nó làm nên một hệ thống lý thuyết cách mạng xã hội thì làm sao không thất bại, khiến phung phí bao tài nguyên xã hội trong lịch sử, mà chắc mãi không dẫn tới đâu cả, bởi vì nó xây dựng trên chỉ một nền tảng không tưởng, một mục đích không tưởng, đầy tính mơ hồ, huyễn hoặc, nhưng lại tự cho là lý thuyết bao quát, lý tưởng nhất, cụ thể, đỉnh cao nhất, từ trước đến nay xuyên suốt toàn bộ lịch sử xã hội của loài người.    

 

By VÕ HƯNG THANH

               (11/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét