NÓI VỀ SỰ HIỂU BIẾT ĐỐI VỚI CHỦ THUYẾT MÁC LÊ
THEO “LỀ PHẢI” CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT TỪ LÂU NAY
Ở đây
căn bản nhất là tập trung vào chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử do Mác, Engels, Lenin đưa ra, và phản ánh qua đầu óc
hiểu biết theo lề phải mà nhiều người Việt hiện nay cho thấy. Điều này có nhan
nhãn trên mọi tài liệu giảng dạy nơi học đường và phổ biến chính thức, do các
nhà xuất bản của nhà nước trung ương từ Hà Nội phát hành, và người ta tìm thấy
ngay cả trên trang Wikipedia nổi tiếng phần bằng tiếng Việt chắc đưa lên bởi số
người Việt nào đó hẳn được trang bị chính thức mà bất kỳ ai truy cập vào trang
Wiki tiếng Việt này đều có thể tìm thấy.
Về chủ
nghĩa duy vật nói chung, được trình bày :
“Chủ nghĩa duy vật là một trường phái triết học, một thế giới quan, một hình
thức của chủ nghĩa triết học nhất nguyên cho rằng vật chất là chất cơ bản trong tự nhiên, và tất cả mọi thứ, bao gồm cả trạng thái tinh thần và ý thức, là kết quả của sự tương tác vật chất.
Theo chủ nghĩa duy vật triết học, tâm trí và ý thức là sản phẩm phụ của các quá trình vật chất (như sinh hóa của não người và hệ thần kinh), mà không có chúng thì tâm trí và ý thức không tồn tại”.
Về chủ nghĩa duy vật biện chứng được viết :
“Chủ nghĩa duy vật biện chứng, thông qua việc lấy phép biện chứng Hegel, tước bỏ các khía cạnh duy tâm của phép biện chứng này, và hợp nhất chúng với chủ nghĩa duy vật”.
“Là một bộ phận của học thuyết triết học do Karl Marx và Friedrich Engels đề xướng. Cốt lõi của chủ nghĩa
duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng”. “Marx đã kế thừa tư tưởng về phương pháp biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel và lý luận về chủ nghĩa duy vật của Ludwig Andreas von Feuerbach và phát triển nên phương pháp luận này”.
“Karl Marx và Friedrich Engels đã kế thừa những hạt nhân hợp lý
trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách
là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển. Hai ông cho rằng
phép biện chứng là quy luật vận động của thế giới khách quan, không phải chỉ là
sự vận động của tư tưởng”.
“Phép biện chứng là một phương pháp triết học, cụ thể hơn, là tư duy con người – phát triển
theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng: Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng,
hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó. Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập, nhằm phản đối lại
cái trước tiên. Hợp đề: giải
pháp đạt được ở bước thứ ba này. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể
lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá
trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu
thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ
lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả
như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra một phản đề mới. Do đó, ba đoạn
biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ
cao hơn khi một hợp đề khác xuất hiện”.
Về chủ nghĩa duy vật lịch sử thì nói :
“Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội. Cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội,
theo đó, trong các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất là
cơ sở hiện thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng
lên kiến trúc thượng tầng: chính
trị, pháp
luật và các hình thái ý
thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng. Mỗi
hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định phụ thuộc vào tính chất và
trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất”.
“Các lực lượng sản
xuất luôn luôn phát triển không ngừng, đến một giai đoạn nhất định, sẽ mâu
thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, và đòi hỏi phải thay đổi các
quan hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn. Trong xã hội
có giai cấp, sự thay đổi ấy được
thực hiện bằng cách
mạng xã hội”.
“Một khi cơ sở hạ tầng
đã thay đổi, thì toàn bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay đổi theo. Hình
thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới
tiến bộ hơn. Như vậy, lịch sử loài người là lịch sử thay thế của những hình
thái kinh tế - xã hội khác nhau”.
“Chủ nghĩa duy vật
lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật chung nhất của sự vận động phát triển
của lịch sử, là nguyên nhân dẫn đến sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội
thấp, đến trình độ cao hơn, vận động theo hình xoáy ốc, và đỉnh cao của nó là
xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.”
“Chủ nghĩa duy vật
lịch sử không nghiên cứu những mặt riêng biệt của sinh hoạt xã hội, mà nghiên
cứu toàn bộ xã hội như một thể thống nhất, với tất cả các mặt, các quan hệ xã hội, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động
lẫn nhau của xã hội. Khác với những khoa học xã hội cụ thể, chủ nghĩa duy vật
lịch sử không nghiên cứu những quy luật cục bộ, riêng biệt, chi phối sự phát
triển của các quá trình về kinh tế, chính trị hay tư tưởng, mà nghiên cứu những
quy luật chung nhất phổ biến nhất của sự phát triển xã hội”.
“Chủ nghĩa duy vật
lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất. để vạch ra
những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ
bản của sự chuyển biến, từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác, mối liên
hệ qua lại, và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời
sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng…”
“Chủ nghĩa duy vật
lịch sử vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển xã hội,
chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội
nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã
hội loài người.
“Marx và Engels tiếp thu một cách có phê phán phép biện chứng của Hegel, họ cho rằng biện chứng duy tâm của Hegel không áp dụng được để giải thích về bất công xã hội đang trở thành vấn đề ở các nước công nghiệp hóa vào thập niên 1840”
“Marx và Engels đã đặt phép biện chứng trên lập trường duy vật, tạo ra một lý thuyết mới, không chỉ nhằm giải thích về thế giới mà
còn hướng đến chỉ ra cách thay đổi nó”.
Trước hết, chúng ta thấy đây toàn là một cách trình bày một chiều,
trường tượng, mang tính ức đoán, khẳng quyết, mô tả bên ngoài nói chung, mà
không hề giải thích, lý giải các động lực nào cụ thể bên trong cả. Sự lý luận,
sự mô phỏng nói chung chỉ mang tính áp đặt, quy giản theo cách một chiều mà
không hề có sự phân tích, chứng minh khoa học nào đối với các sự khẳng định
mang đầy tính áp đặt, đầy kiểu tư biện chủ quan của chúng. Và chúng ta cần đi
vào các phản biện mang tính cụ thể, xác đáng sau đây :
1/ Phê phán chủ nghĩa duy
vật nói chung :
Chủ
nghĩa duy vật nói chung tựu trung chỉ thừa nhận vật chất là cái duy nhất tồn tại
trong hiện hữu, ngoài ra không có bất kỳ một cái gì khác. Các tồn tại hay hiện
tượng khác như tinh thần, ý thức, đều là kết quả của tương tác vật chất. Tâm
trí và ý thức đều là những sản phẩm phụ của các quá trình vật chất hoạt động
như bộ não và thần kinh, còn ngoài ra chúng không tồn tại độc lập.
Đây rõ
ràng là kiểu cách suy luận chủ quan, độc đoán, giản lược cực đoan. Chỉ khẳng định
vật chất tồn tại duy nhất rồi dừng lại. Không cần truy nguyên thêm nguồn gốc vật
chất do đâu mà có, bản chất tối hậu nhất của nó là gì, tại sao nó tự vận động để
tạo ra các sản phẩm phụ không mang bản chất của chính nó được. Sự khác nhau giữa
vật chất vô cơ và vật chất hữu cơ do đâu mà có. Sự khác nhau giữa vật chất thuần
túy và sự sống là tự đâu. Tại sao bản chất ý thức trừu tượng, vô hình như ý thức,
tinh thần lại xuất hiện. Trong khi đó bản chất vật chất chai ỳ và tinh thần, ý
thức là hoàn toàn khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược, đối lập nhau. Như vật
chất thuần thì mang mọi tính chất vật lý cụ thể khác nhau, trái lại tinh thần,
ý thức thì hoàn toàn vô hình, hoàn toàn không phải như thế. Vả chăng mọi vật
con người nhận thức bằng cảm nhận giác quan đều là vật chất, như trên trái đất,
trong hệ mặt trời. Đều chỉ là khoảnh khắc đời sống con người trong trăm năm.
Nhưng với toàn bộ vũ trụ vô hạn mà nhiều khi quảng cách trong nó đo bằng cả tỉ
tỉ năm ánh sáng, liệu mọi điều quy nạp cách giản dị có còn ý nghĩa gì không. Mặt
trời mỗi sáng vẫn mọc lên nhưng có gì bảo đảm vào thời điểm nào đó sự kiện đó sẽ
không còn xuất hiện nữa. Mọi con thiên nga đều màu trắng, nhưng ai dám chắc có
khi nào đó con thiên nga đen không xuất hiện. Quan điểm duy vật chỉ là quan điểm
cảm nhận thực tế, không phủ nhận được nó trong các giới hạn, phương diện nào
đó, nhưng có gì khẳng định nó là tuyệt đối duy nhất và toàn diện. Nên đó có thể
chỉ là quan điểm chủ quan, tương đối, phiến diện, mang chất độc đoán, nông cạn,
nếu người ta không thể chỉ khu khư nơi đó mà có thể có quan điểm sâu xa, bao
quát hơn. Vả, cả hệ thống thần kinh và óc não, đó không phải chỉ là hệ thống vật
chất theo kiểu vật lý, hoạt động cơ giới tầm thường, mà đó là hoạt động sinh học,
có sự sống, sự phát triển và sự chết đi, hơn thế, óc não, thần kinh dầu sao vẫn
là cơ quan sinh học cụ thể, trong khi đó ý thức, tinh thần là hoàn toàn vô hình
và trừu tượng, từ cái cụ thể vật chất qua cái trừu tượng như thế thật không
hoàn toàn đơn giản, không hoàn toàn giản lược cái này vào cái kia một cách nông
cạn, độc đoán, nếu không nói quan điểm duy vật ngây thơ chỉ là quan điểm hời hợt,
thiển cận, hạn chế, hoặc thậm chí ngu dốt,
2/ Phê
phán về phép biện chứng :
Nguyên
lý biện chứng cổ đại chỉ là nguyên lý biện chứng chủ quan, có trong sự tranh biện,
đối thoại, nhận thức của con người, trong ý thức con người. Trong khi đó biện
chứng luận (Dialektik) của Hegel là khái niệm biện chứng khách quan
(objective), tức nó là quy tắc nội dung của Tinh thần (Geist) hay Vũ trụ hiện
thực (Universum). Tức theo nguyên lý tự chối bỏ, phủ nhận liên tục (Negation
der Negation), Aufhebung, tự phủ định và tự giữ lại để tự thoát ra và vươn lên
(Entaeusserung). Thế nhưng đó vẫn chỉ là quan điểm triết học của Hegel, chưa có
gì bảo đảm nó là chân lý khoa học hoàn toàn khách quan, cụ thể, chắc chắn, phổ
biến cả. Nó có vẻ chỉ là quan điểm tư biện trừu tượng, chẳng có gì tuyệt đối cụ
thể cả. Tiền đề, phản đề, hợp đề, có thể áp dụng vào đâu cũng được, lúc nào
cũng được, vật nào cũng được, vậy chỉ là kiểu lý luận trừu tượng, chẳng có gì
sâu sắc hay đặc thù cả. Bởi vì cái cây chết đi, con vật chết đi, vẫn là quá
trình tự chối bỏ liên tục, hạt mầm mọc lên, tế bào phát triển ra, vẫn là quá
trình tự chối bỏ liên tục, nhưng chiều hướng lại hoàn toàn khác nhau, động cơ động
lực hoàn toàn khác nhau, nên cái gì là cốt lõi quyết định giữa hai chiều thướng
tiêu cực và tích cực trong “phép biện chứng” ở đây. Khiến khái niệm “biện chứng”
qua cửa miệng số người, thực chất chỉ là kiểu nói theo như vẹt mà chẳng hiểu biết
sâu xa ất giáp chỉ cả. Mà nếu dù có công nhận nguyên lý biện chứng kiểu đó là
đúng, có đâu bao giờ nó dừng lại, mà cứ tiếp tục hoài hoài như vậy, cuối cùng sẽ
đi tới đâu ? Đó trở thành chỉ một khái niệm hoàn toàn mơ hồ, rỗng tuếch, ảo tượng
và vô bổ. Ngoài ra, về mặt hai cực mâu thuẫn, đối lập. Như cực bắc nam của nam
châm, của địa cầu, của dòng điện, có bao giờ nó đi tới đâu, có bao giờ tự phủ
nhận nhau, mà hoàn toàn thống nhất để tồn tại thì sao ? Cho nên “biện chứng” nếu
không xét đến kỳ cùng, thật sự chỉ là quan niệm giả tạo, cương đại, rỗng tuếch,
hời hợt, nông cạn, bế tắt mà chẳng ra làm sao cả.
3/ Phê
phán về chủ nghĩa duy vật biện chứng :
Như vậy
nếu khái niệm biện chứng là khái niệm mơ hồ, quan điểm duy vật cũng là quan điểm
hạn hẹp, không tuyệt đối, vậy ghép hai cái đó vào nhau, duy vật biện chứng, thật
ra có mang ý nghĩa gì. Đâu có nghĩa hai ý niệm tiêu cực ghép lại với nhau là nhất
thiết đi tới được một khái niệm tích cực. Vật chất tự nó không có thuộc tính
nào khác hơn chỉ là bản thân chất thể của nó. Vậy thì cái gì có thể làm cho nó
tự “biện chứng” được, tự thay đổi chính bản thân của mình được, theo cách xuất
hiện ra cách khác lạ lẫm hơn mình, vượt lên và vượt được ra ngoài chính mình để
nhằm phát triển ra cái gì đó khác hơn, như tinh thần, ý thức chẳng hạn. Bởi một
tảng đá vô thức thì dẫu triệu năm nó vẫn chai ỳ, vô thức, làm sao phát triển ra
được sự sống hữu cơ hay ý thức xuất hiện ra từ chính tảng đá đó. Nên quan điểm
duy vật biện chứng chỉ là quan điểm gán ghép hạn hẹp, phi lý, vô lối, mang đầy
tính cách tưởng tượng, áp đặt, rỗng không và quái dị.
4/ Phê
phán về chủ nghĩa duy vật lịch sử :
“Chủ nghĩa duy vật lịch
sử khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội”.
Nói điều này thì thật ra có ý nghĩa gì. Lý do gì mà “khẳng định”, và tại sao tồn
tại xã hội lại “quyết định” ý thức xã hội. Toàn là lối nói phong cấp một chiều,
lấy cái chủ quan mình mà xác lập, còn chẳng cần chứng minh khách quan, khoa học
gì cả. Ý thức cá nhân thì ai cũng biết, còn ý thức xã hội là gì, có phải là một
bài toán cộng, tổng số các ý thức cá nhân hay không, một ý thức “gộp” lại hay
không ? Ý thức cá nhân thì rõ ràng phát xuất từ sọ não của cá nhân, nhưng ý thức
xã hội thì định khu, cư ngụ ở đâu, đó là điều chỉ nói bừa mà chẳng hề giải
thích cụ thể. Thế nên “các hình thái kinh tế - xã hội” là gì ?
Lại được
giải thích “các quan hệ sản xuất là cơ sở hiện
thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầng: chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác, với những thiết chế của chúng. Mỗi
hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định phụ thuộc vào tính chất và
trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất”.
Toàn bộ ý này chỉ nhằm để quy vào “quan hệ sản xuất”
là chính yếu. Nhưng không có chủ thể sản xuất thì lấy đâu quan hệ sản xuất. Nên
muốn nói đến cái sau phải phân tích kỹ lưỡng về cái trước, điều này không hề
làm mà chỉ nhằm “úp bộ” tùy tiện, khiên cưỡng, chẳng cần đến thứ lô-gích xác
đáng, cụ thể, hữu lý nào cả mà chỉ cần tin suông, phán suông. Bởi quan hệ sản
xuất thật sự chỉ là cái về sau, cái quan sát, nhận định về sau, nó không phải
cái căn cơ ban đầu chỉ là các cá nhân, các chủ thể sản xuất. Con người muốn tồn
tại, sống còn là sống còn qua cá nhân, thân ai tự phải lo trước nhất rồi mới
nói đến xã hội. Sản suất, làm ra vật phẩm thiết yếu cho đời sống và tiêu dùng,
đó là mục đích, nguyên do thúc đẩy cá nhân, nó là nhu cầu và hiện thực trước hết,
còn quan hệ sản xuất như tự mình làm, nhờ vả, thuê mướn thêm người khác, chỉ là
hoàn cảnh, điều kiện đến về sau, chẳng có gì là căn cơ hơn cái trước.
Vậy mà
nói “quan hệ sản xuất là cơ sở hiện
thực của mỗi xã hội nhất định, cấu trúc hạ tầng, trên đó xây dựng lên kiến trúc thượng tầng: chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác”. Tức nhằm khẳng
định cái chưa gọi là trước nhất này lại là “cơ sở hạ tầng” để từ đó xây nên mọi
“kiến trúc thượng tầng: chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội khác”. Chủ ý nhằm nói quan hệ sản xuất
đều quyết định hết các ý thức, tinh thần, mọi định chế tổ chức khác nhau trong
xã hội. Hay chúng chẳng có giá trị, ý nghĩa gì riêng tư cả, chúng chỉ là phụ
phẩm của quan hệ sản xuất giữa người và người trong xã hội, chẳng khác tinh
thần, ý thức, tình cảm, càm xúc, bản năng …nói chung chỉ là “phụ phẩm” của hoạt
động thần kinh óc não không hơn không kém. Thật là cả sự nhập nhằng, đồng hóa
mọi loại, chẳng có gì là ý nghĩa khách quan hay chứng minh, lý giải rạch ròi về
khoa học cụ thể cả. Tất cả đều chỉ là sự ức đoán, sự quy giản chẳng cần gì cơ
sở đúng đắn hay đầy đủ hết. Lại cho rằng toàn bộ mọi cái đó đều “phụ thuộc vào
tính chất và trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất”,
nên cuối cùng đây mới là cái quyết định hơn cả. Nhưng “lực lượng sản xuất” là
gì thì không định rõ. Đó phải chăng là máy móc, tư bản, năng lực hoạt động tạo
ra của cải, mà toàn bộ những cái đó đều hàm chứa, hay có cả tỉ trọng trí tuệ
con người hòa lẫn vào trong đó. Ở đây biểu hiện ra sự khác nhau giữa lao động
cơ bắp đơn thuần và lao động có kỹ thuật, có tư bản. Và cái nào quyết định cái
nào, cái nào có trước cái nào, có lẽ Mác không hề nghĩ đến hay không thấy nói đến.
Lại nói
tiếp “các lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển không ngừng, đến một
giai đoạn nhất định, sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, và
đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ sản xuất ấy bằng những quan hệ sản xuất mới,
tiến bộ hơn. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi ấy được thực hiện bằng cách mạng xã hội”. Rõ ràng ở
đây mới để lộ ra “sự mâu thuẫn về quan hệ sản xuất” xuyên qua thời gian, tiến trình phát triển xã hội, đặc
biệt xã hội có “giai cấp” và đi đến “cách mạng xã hội”. Tựu trung muốn nói sự
mâu thuẫn quan hệ giai cấp là nền tảng cốt lõi nhất, nó như động cơ, động lực
quyết định toàn tiến trình phát triển mỗi xã hội hay toàn lịch sử xã hội. Có điều
cái gì quyết định tất cả mọi cái đó, phải chăng sâu xa nhất hay tiên quyết nhất
vẫn là ý thức con người (như bất mãn, so sánh, đố kỵ, bản năng, tham vọng, ý
chí, thù ghét, tham lam … hay đều là ý thức thuần túy, có trước hết) là điều
Mác làm lơ hay không để ý. Nói khác đi, ở đây có sự nhập nhằng, lẫn lộn, chẳng
phân định rõ ở đâu là mức độ của ý thức và vật chất, mà đó đáng lẽ là điều phải
phân tích sâu xa, đầy đủ hơn, Mác không hề quan tâm hay đặt nặng tới. Mác chỉ
quan tâm việc “quan hệ sản xuất đã lỗi thời”, mà không lưu ý đến “công cụ kỹ
thuật đã lỗi thời” trong tiến trình phát triển của mọi xã hội bình thường. Nói
cách khác, Mác chỉ nhìn theo khía cạnh chủ quan, hạn hẹp, định kiến, thiên kiến,
cảm tính, thị hiếu của vấn đề mà không hề mong muốn nhìn rộng rãi, chiều sâu,
khách quan của vấn đề. Tức ở đây Mác chỉ muốn áp dụng quan điểm biện chứng duy
vật theo Mác hiểu để làm thành biện chứng duy vật lịch sử mà Mác mong muốn,
nhưng không cốt đào sâu, phân tích mỗi thành phần, yếu tố như vậy, thực chất
chiều sâu, bản chất những vấn đề như thế có phải thật sự như thế không, hay là
cái gì khác hơn, là cái Mác đều không hề lưu tâm tới.
Mác chỉ
nói một cách chung chung, trừu tượng, tư biện theo kiểu một chiều, quy định, áp
đặt, hay kiểu viễn mơ, tin suông như “Một khi cơ sở hạ tầng đã thay đổi, thì toàn
bộ cấu trúc thượng tầng sớm muộn cũng thay đổi theo; “hình thái kinh tế - xã
hội cũ được thay thế bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn”;
“lịch
sử loài người là lịch sử thay thế của những hình thái kinh tế - xã hội khác
nhau”.
Để cuối
cùng kết luận : “Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm phát hiện ra những quy luật
chung nhất của sự vận động phát triển của lịch sử, là nguyên nhân dẫn đến sự
thay thế các hình thái kinh tế - xã hội thấp, đến trình độ cao hơn, vận động
theo hình xoáy ốc, và đỉnh cao của nó là xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội
công bằng, tiến bộ, văn minh.”
Mà “quy luật chung nhất”
đó chỉ là quy luật của chính bản thân vật chất quyết định tất cả mà ngoài ra
không có gì hơn. Tất cả còn lại chỉ là mọi sản phẩm phụ của vật chất, trong đó
có óc não con người, ý thức, tinh thần, xã hội cùng các ý thức của nó, gộp
chung là thượng tầng kiến trúc. Hay nói cho tận kỳ cùng, cốt lõi của duy vật
lịch sử theo Mác quan niệm vẫn thuần túy là duy vật biện chứng. Tức là sự vận
động của vật chất theo cách tổng thể để tạo nên tất cả, từ tinh thần, ý thức cá
nhân con người đến lịch sử tổng quát chung của toàn xã hội. Rõ ràng thực chất
đây là quan điểm hoàn toàn hay hết sức tiêu cực, bởi cũng chẳng khác nào là phủ
nhận tất cả ngoài trừ ra vật chất, biến thành một thế giới hư vô, không tưởng
hoàn toàn, dù Mác xây dựng nó dưới bao nhiêu nhãn quan, danh từ, mơ mộng, hay nhiều
ý tưởng huyễn hoặc, mê hoặc rất khác nhau.
Lại viết
tiếp “Marx và Engels tiếp thu một cách có phê
phán phép biện chứng của Hegel, họ cho rằng biện chứng duy tâm của Hegel không áp dụng được để giải thích về bất công xã hội đang trở thành vấn đề ở các nước công nghiệp hóa vào thập niên 1840”. Nhưng thế nào là
“tiếp
thu một cách có phê phán
phép biện chứng của Hegel ? Trong khi bản chất
và mục đích tối hậu của triết học nhằm là tìm ra chân lý khách quan khoa học,
thế thì tiếp thu một cách có phê phán là nghĩa gì, chẳng khác gì một sự tiếp nhận
kinh nghiệm tầm phào, chẳng có gì là sự chọn lọc, khám phá của riêng chính mình
về mọi điều khách quan tự nhiên hay xã hội. Bởi thế cho nên mới nói “biện chứng duy tâm của Hegel không áp dụng được để giải thích về bất công xã hội. Nhưng biện chứng
duy vật có giải thích khoa học rốt ráo được các bất công xã hội con người xưa
nay không ? Đó thật là điều tự khẳng định chẳng có cơ sở nào cả, trừ phi là sự
ham muốn chủ quan kiểu thị hiếu. Bởi bất công xã hội chỉ thuộc vấn đề chính trị
kinh tế xã hội, vấn đề hoàn toàn thực tiển, tại sao lại huy động toàn bộ sự giải
thích hay sự thực hiện triết học được vào đây. Dùng tình cảnh thợ thuyền Anh
trong những thập niên 1840 để triết lý duy vật hóa toàn bộ lịch sử mọi mặt của
xã hội loài người, phải chăng là việc làm phi phương pháp, phản khoa học, phản
chân lý khách quan mà Mác đã chủ quan phạm phải.
Nên nói
chung lại, quan điểm quy luật biện chứng luận của Hegel là nội dung duy tâm, nó
được xây dựng trên động cơ và bản chất duy tâm. Điều như vậy có thể chuyển qua
được động cơ và bản chất duy vật hay không là điều hoàn toàn phải cần nói. Lấy
một động cơ gỗ cùng nguyên tắc chế tạo để thay thế cho một động cơ máy, đem lắp
vào một chiếc thuyền gỗ, điều đó có hoàn toàn hợp lý, đầy đủ và hoàn thiện hay
không, đó là điều cần nói. Thành nên Mác từng nói mình “lật ngược” Hegel lại.
Kiểu lật ngược một chai rượu, một bình rượu để tin tưởng nó sẽ biến thành nước,
hay thành một chất lỏng nào khác, đó là điều mà xưa nay chưa có ai làm chỉ trừ
ra chính Mác. Vậy mà nếu không có “phép biện chứng” thì cả duy vật lẫn duy vật
lịch sử đều hoàn toàn vô nghĩa, khác chi một chiếc xe, chiếc thuyền bị cạy mất
đi động cơ lắp trong nó. Thành ra tư duy của Mác nhìn chung chẳng khác gì một hệ
thống tư duy củn cỡn, chẳng ra đầu ra đuôi gì cả. Thế mà nó làm nên một hệ thống
lý thuyết cách mạng xã hội thì làm sao không thất bại, khiến phung phí bao tài
nguyên xã hội trong lịch sử, mà chắc mãi không dẫn tới đâu cả, bởi vì nó xây dựng
trên chỉ một nền tảng không tưởng, một mục đích không tưởng, đầy tính mơ hồ,
huyễn hoặc, nhưng lại tự cho là lý thuyết bao quát, lý tưởng nhất, cụ thể, đỉnh
cao nhất, từ trước đến nay xuyên suốt toàn bộ lịch sử xã hội của loài người.
By VÕ
HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét