Thứ Tư, 25 tháng 8, 2021

NÓI VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

NÓI VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ

CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

(I)

 

Sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên địa cầu cách đây từ 3 tỷ rưởi đến 4 tỷ năm. Tất nhiên đó là sự sống sơ khai nhất, kiểu dạng sống đơn bào, rồi qua tiến hóa dần dưới nhiều dạng khác nhau, như thực và động vật phát triển thành các dạng sống đa bào. Đến cách đây khoảng 7 hoặc 8 triệu năm, tại những nơi nào đó trong vùng rừng rậm Châu Phi, đã xuất hiện ra một dạng sơ giả nhân (hominini) như kiểu một sự định hình sơ khai giữa giống người nguyên khởi ở ngay từ trong lòng chính loài khỉ vượn (the human and chimpanzee lineages) khi đó. Cũng từ đây, bắt đầu xuất hiện ra loài dã nhân khôn khéo (Homo habilis) cách đây khoảng 2,3 triệu năm. Tiếp đến, là loài dã nhân đứng thẳng (Homo erectus) cách đây ít nhất chừng 2 triệu năm. Rồi sau hết, mới đến loài người khôn ngoan (Homo sapiens). Theo tiếng La tinh, sapiens, có nghĩa là khôn ngoan (wise), hay thông minh (intelligent), ra đời cách đây chỉ mới chừng khoảng  300.000 năm thôi.

Đây là kết hợp giữa thuyết tiến hóa của Darwin và thuyết tiến hóa vũ trụ nói chung mà ngày nay các ngành khoa học như tiến hóa sinh học, cổ sinh vật học, thông qua các mẫu hóa thạch còn lại từ các thời kỳ tiền sử đều phải thừa nhận. Khoa học thực nghiệm luôn luôn là sự mô tả, trần thuật, tìm ra các lý giải thực tế còn không cần đi hay cũng không thể đi sâu xa hơn. Việc muốn hay cần đi sâu xa hơn, đó thuộc phạm vi triết học mà không còn là khoa học thuần túy nữa. Tất nhiên triết học cũng không thể đi ra ngoài khoa học, nhưng nó vẫn có lãnh vực riêng của mình mà khoa học không muốn, không thể, hay cũng không cần đụng tới. Sự giao tiếp giữa khoa học và triết học ở đây là vậy. Triết học không hề là sự trang trí cuối cùng cho khoa học, dù lãnh vực khoa học nào cũng vậy, nhưng triết học vẫn luôn là sự đóng góp ý nghĩa tối hậu nào đó cho chính bản thân hay nội dung khoa học. Bởi cấp độ khoa học luôn luôn chỉ là cấp độ mô tả cấu trúc, còn cấp độ triết học phải luôn luôn là cấp độ mô tả hay lý giải về ý nghĩa. Sự giao thoa hay hỗ trợ giữa hai bên chỉ có thể là như thế.

Thế thì đến đây điều cần nói chính là ý nghĩa của nhu cầu sự sống. Ý nghĩa đó tất nhiên không ngoài là thức ăn. Hay nói rộng ra, trong thế giới sống là chuỗi thức ăn liên tục  hay xoay vòng. Từ tế bào thấp nhất đến sinh vật cao nhất luôn luôn phải cần thức ăn. Không thức ăn tức không có việc trao đổi chất với bên ngoài, mọi sự sống sinh học đều không thể tồn tại và phát triển cần thiết. Lá cây cần ánh sáng mặt trời tạo ra chất diệp lục dưới bề mặt của lá. Thực vật thành thức ăn cho nhiều loài động vật. Nhiều loài động vật thành chuỗi thức ăn cho nhau. Chất mùn hay chất bã động thực vật lại thành thức ăn cho nhiều loài thực vật khác nhau thông qua việc hấp thụ vào bộ rễ của chúng, và sự quay vòng tổng quát nói chung đều không ngừng hoạt động.

Vậy thì thế giới con người cũng vậy. Nhu cầu thức ăn của xã hội con người đều luôn thiết yếu. Một ngày xã hội không có thức ăn sẽ liền bắt đầu khủng hoảng và lâu dài cũng không thể nào tồn tại tiếp tục được. Nhưng đối với loài vật, thức ăn luôn có trong tự nhiên, chúng chỉ đi tìm và tiếp nhận mà không bao giờ tạo ra hay có thể sản xuất ra. Cây cỏ sống nhờ mặt đất, nước, không khí, loài vật thì nhờ có cây cỏ hay thịt các loài vật khác, quy luật của tự nhiên khách quan là vậy. Nhưng con người ngoài thức ăn phải cần có vật dụng. Thức ăn chỉ duy trì sự sống nhưng chính vật dụng mới tạo ra các nhu cầu, ý nghĩa văn minh, văn hóa khác nhau. Thực phẩm, lương thực, vả vật dụng tiêu dùng đều luôn cần thiết, không thể thiếu cái nào trong các cái ấy. Đó chưa nói công cụ sản xuất còn tạo ra cả sự sản xuất thực phẩm mà từ ngàn xưa đã phải có, có khi cả loài vật cũng cần dùng đến. Con khỉ có thể dùng hòn đá đập bể hạt cứng, sò ốc để lấy ruột mà ăn. Loài người nguyên thủy cũng dùng đá được ghè ra để làm nhiều công cụ trong săn bắn, lao động, nghiền, cắt, xẻ thức ăn. Từ thời kỳ đồ đá đến đồ đồng và đồ sắt, công cụ dần dà phát triển theo nền văn minh và văn hóa cũng theo đó mà phát triển.

Có nghĩa sự sản xuất là nhu cầu thiết yếu và sự sản xuất nhất thiết phải gắn với công cụ sản xuất. Công cụ sản xuất càng phát triển thì nền sản xuất càng phát triển và đời sống mọi mặt cũng càng phát triển. Sự tiến hóa tự nhiên, kiểu cơ giới máy móc chỉ là giai đoạn ban đầu trong nhiên giới. Nhưng khi qua xã hội loài người, chính sự tính toán của óc não mới là điều quan trọng nhất. Nên Mác chỉ nhìn sự vận động hay sự phát triển xã hội chủ yếu kiểu vận động theo cách máy móc như thể hiện qua duy vật biện chứng, duy vật lịch sử mà Mác quan niệm thực chất còn rất sơ đẳng, ấu trĩ và có khunh hướng hoàn toàn giản lược. Mác coi kinh tế là căn cơ của đời sống thật ra cũng vẫn trong cốt lõi hiểu theo dạng này. Mác và Engels xem đầu óc tiết ra ý tưởng, quan niệm, tư duy mọi mặt chẳng qua giống như gan tiết ra mật. Đó là do quan điểm duy vật tuyệt đối hẳn nhiên đưa đến kiểu quan điểm như vậy. Họ đều phủ nhận tinh thần ý thức con người như như một năng lực hoạt động hoàn toàn riêng. Mà coi nó như sản phẩm phản ảnh của mọi điều kiện xã hội khách quan từ ngoài. Tính chất cực đoan trong tư duy suy nghĩ của Mác về nhiều mặt thật sự chỉ có như thế.

Chúng ta thấy sinh vật nhiều khi cũng biết kết hợp trong liên kết hoạt động của chúng, nhiều loài vi khuẩn hay các dạng san hô cũng vậy. Sư tử hổ báo có khi cũng biết đi săn theo đàn, kết hợp sự hành động chung lại với nhau nhằm tạo ra kết quả hữu hiệu nhất. Việc sống đàn bầy ở loài vật không thiếu, nhưng mọi sự kết hợp đàn bầy đỏ vẫn không bao giờ làm thay đổi được bản chất của chúng. Điều dễ hiểu là chúng không có hoạt động ý thức tinh thần theo kiểu tầm cao riêng. Như vậy bản chất ý thức quyết định tất cả trong thế giới loài người là điều vẫn hoàn toàn dễ hiểu. Trong khi đó Mác cho rằng quan hệ sản xuất quyết định cho chính lực lượng sản xuất. Sự làm ăn tập thể, sự xóa bỏ tư hữu để bước đầu chỉ tập trung quyền công hữu vào trong tay duy giai cấp vô sản sẽ làm cho lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc. Điều này trong thực tế cho thấy hoàn hoàn toàn trái ngược lại. Cha chung không ai khóc, đó là điều từ ngàn xưa người bình dân đã hoàn toàn hiểu được. Thành nên quan điểm kinh tế học của Mác hoàn toàn định kiến, lệch lạc, không xác đáng, khách quan mà chỉ theo thị hiếu, thành ra không tưởng và ảo tưởng.

Vậy đời sống kinh tế trong xã hội là gì. Đó là một hệ thống mang tính truyền thống và luôn luôn tiến hóa, phát triển, tùy theo mỗi tế bào đơn vị kinh tế phát triển. Tế bào đó không ngoài là những cá nhân con người, gồm có năng lực trí tuệ tinh thần, sức manh lao động thể chất, đôi khi lẫn cả kỹ năng vận dụng hay sự dụng công cụ. Tất cả những yếu tố này gắn liền với nhau, mất thiết với nhau, và cùng tiến hóa phát triển cùng nhau. Điều này đúng trong hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, cả trong phương diện lịch sử. Tại sao trong lịch sử tự nhiên loài người tiến hóa hướng lên cao mà loài vật phải thiết yếu bị dừng lại. Dầu khởi thủy sự sai khác chi là hominini, một sự sai khác vẫn còn tối thiểu, nhưng rồi các tiến trình tiếp sau homo habilis, homo erectus, cuối cùng đến homo sapiens mới bắt đầu hình thành nên tất cả.

Có nghĩa lịch sử tiến triển không hề gãy đứt mà luôn phải có sự liên tục từ trên nền tảng nào đó có trước. Con người thời mê muội chưa hề có ý thức chiếm hữu. Nhưng rồi khi dân cư (population) phát triển ra trong bộ lạc, nhu cầu tư hữu trở nên cần thiết để duy trì bảo đảm phát triển các nhu cầu thiết yếu của mình, vậy là tính chiếm hữu tất yếu phải ra đời, chỉ là sự phát triển khách quan tự nhiên không thể nào khác. Lúc đầu săn bắn theo bầy đàn, nhưng rồi săn bắn cá nhân vẫn có thể xuất hiện. Ngay cả hái lượm cũng vậy. Cái chung trở thành cái riêng, hoạt động chung trở thành hoạt động riêng, về nhiều mặt nào đó, đó không phải nhất thiết tiêu cực, mà có khi còn là dạng tích cực. Như ban đầu là quần hôn, nhưng rồi hôn nhân riêng lẻ lại phát triển, bởi nhu cầu tư hữu hóa truyền thụ riêng của mình nơi con người vẫn là nhu cầu riêng mang tính chung nhất trong mọi cá thể sống sinh vật. Sự phát huy dòng gien riêng và duy trí, bảo vệ, phát huy dòng gien đó, vẫn là nhu cầu chính đáng mà mọi sinh vật đều có huống chi là ý thức tâm lý mạnh mẽ cụ thể nơi loài người.

Vậy nên lịch sử phát triển xã hội không hoàn toàn ngẫu nhiên, tùy tiện, chỉ mang tính bề ngoài, mà thật ra đều xuất phát từ nhu cầu nội tại bên trong mà ra. Con người chế tát các công cụ ra từ đầu óc của mình thuộc mọi loại đó để nhằm phát triển chính bản thân mình và cho cộng đồng đây không phải chỉ thúc đẩy bởi khuynh hướng cá nhân mà cũng là ý nghĩa kinh tế hàm chứa cho toàn xã hội. Mỗi cá nhân sống tốt thì cộng đồng xã hội cũng sống tốt. Đó là nguyên tắc giao và hợp hay nguyên tắc phép cộng và phép tích áp dụng chung cho mọi trường số thuộc dạng nào đó mà ai cũng rõ.

Thế nhưng nói như vậy xã hội không hề là một tổ hợp máy móc mà có các quy luật diễn tiến riêng trong lòng nó. Bởi thiên nhiên vẫn xảy ra những bất ngờ đối với từng cá thể cũng như chung cho toàn thể. Những yếu tố về bệnh tật, thiên tai, hay sự cố mọi loại khách quan bên ngoài, làm sự đấu tranh sinh tồn của cá nhân và xã hội luôn luôn có. Con người không những đấu tranh sinh tồn giữa nhau trong xã hội mà còn đấu tranh sinh tồn với cả thiên nhiên. Bởi vì thật ra luôn có hai lực lượng hay hai lực đối kháng nhau ngay trong bản thân tồn tại. Lực đi lên hay tích cực, và lực kéo xuống hay tiêu cực. Có khi sự thăng bằng hay cân bằng giữa hai lực, có khi nó bị lệch đi, hoặc cái này thắng thế hay cái kia thắng thế, tạm thời trong khoảnh khắc, thời gian nào đó bởi vô số nguyên nhân mà khó hoàn toàn chỉ ra hay lượng định hết được. Đó dĩ nhiên là nguyên lý tôn tại, nguyên lý phát triển, và cả nguyên lý kéo lùi như quy luật khách quan tự nhiên mà không phải chỉ đơn thuần thiết yếu phải luôn theo chiều nào đó.

Ngay như lao động sinh tồn của cá nhân trong xã hội cũng vậy. Đã là thành tố trong xã hội rồi thì không bất kỳ ai có thể tách ra sống hoàn toàn theo kiểu Robinson trên hoang đảo được. Nguyên lý xã hội là nguyên lý khách quan tự nhiên, không cần ai phải rao giảng, nhấn mạnh hay tuyên truyền gì cả. Quan niệm “xã hội” của Mác hay quan niệm xã hội xã hội chủ nghĩa của những người tiếp theo Mác, chỉ là một bộ phận giáo đầu của quan niệm “cộng sản” về sau này mà Mác muốn thiết kế. Đó không phải quan điểm xã hội theo cách phổ thông, khách quan, tự nhiên hay lý tưởng mà nhiều người theo đuổi. Tức quan điểm xã hội theo kiểu lý tưởng, tinh thần, đặt xã hội như đích điểm cao cả mà cá nhân muốn hướng đến theo cách tự do hoặc tự chủ. Trái lại quan niệm xã hội mác xít chủ yếu hay thực chất phải là kiểu quần chúng, đàn bầy, không thể được quyền lựa chọn tự do nào khác.

Thành nên đúng ra trong mọi xã hội bình thường, quyền tư hữu và quyền lao động sinh tồn cũng như phát triển cá nhân đều là quyền khách quan tự nhiên không ai có thể ngăn cản hay cấm đoán cả. Tuy nhiên có điều tự bản thân nó không bao giờ có thể vượt giới hạn tối đa nào đó. Bởi vì không ai có thể tự mình có thể làm hết mọi sự. Nên việc phải nhờ cậy đến người khác, hợp tác với người khác dưới mọi hình thức cần thiết và chính đáng chỉ là điều hoàn toàn tự nhiên. Điều đó đưa đến một hệ cộng đồng là điều không thể không có. Như phải thuê mướn người khác để giúp cho mình làm việc, giúp cho mình quản lý về một hay nhiều phương diện nào đó, hợp tác với người khác hay đơn vị khác bằng nhiều hình thức nào đó, điều đó làm phát sinh ra những tổ hợp, công ty kinh tế mọi loại, cả mặt giao thương tài chánh, cả mặt phát triển sản xuất lẫn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nói chung. Dầu người ta giàu đến mấy cũng không ăn ăn quá một khẩu phần thông thường một ngày cho dù chất lượng của nó khác biệt ra sao. Nên nhu cầu làm việc, nhu cầu giàu có nhiều khi chỉ là sở thích, thú vi, lòng đam mê và cuối cùng hòa vào dòng chảy chung của xã hội tất cả. Chết cũng chẳng đem được hết theo, chỉ còn thú vui, mục đích di sản lại cho con cháu, người thân tình vậy thôi. Cho nên mục đích của Mác nhằm hủy bỏ tư sản, hủy bỏ thừa kế, làm xã hội hóa theo mục đích giai cấp tất cả, thật là khác thường và thật sự chẳng có gì hữu lý hay cần thiết khách quan cả.

Trong khi đó, thật ra trong môi trường kinh tế xã hội của cộng đồng hay của toàn xã hội, mỗi cá nhân, đơn vị đều chỉ như một nguyên tử, một phân tử đang cùng vận động nói chung. Nhưng toàn bộ máy đó diễn ra một cách khách quan, tự động, tùy theo quy luật vận động chung được cụ thể hóa riêng cho trường hợp mỗi người. Không có gì phải tuyệt đối máy móc, khiên cưỡng hay hoàn toàn áp đặt cả. Đó chính là nguyên lý tự do tối hậu trong sự vận động của cá nhân và xã hội. Nói khác đi đó là quy luật thị trường, sự kết hợp giữa ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng luôn đa chiều, đa dạng thật sự hữu lý và hiệu quả mà ai cũng biết. Bởi về nguyên tắc chính đáng luôn phải có, đó phải là hình ảnh mỗi cá nhân chính là một véc tơ tự do vận động trong những tổ hợp tự do, ngay chính trong xã hội cũng như một trường véc tơ tự do.

Thế thì pháp luật là gì ? Pháp luật là nguyên lý khách quan cần phải tuân thủ mà bắt buộc mọi người phải cần chấp nhận thế thôi. Thị trường tự nó tự do, và pháp luật làm cho sự tự do đó được bảo đảm điều hóa tốt đẹp, nhằm cho mọi người đều được công bằng và ích lợi. Rõ ràng đây là đây là quan niệm phi giai cấp hay quan niệm xã hội dân sự phổ biến rõ rệt. Nó được gắn với nền tự do dân chủ khách quan thật sự. Tức không rơi vào bất kỳ định kiến tiền chế nào mà chỉ tuân theo nguyên lý tự do theo nguyên tắc công bằng tự thân vốn có. Bởi nguyên tắc công bằng thật sự không hề là nguyên tắc công bằng toán học, đếm đầu chia xôi, chỉ kiểu trừu tượng và máy móc. Mà công bằng ở đây là công bằng trong tương quan xã hội, hay công bằng trong tương quan cá nhân với cá nhân giữa điều kiện cụ thể với nhau, cũng như tương quan giữa cá nhân và xã hội cũng theo cách đó. Tức công bằng theo kiểu cân đối đa dạng, không phải công bằng kiểu vô tâm, vô cảm hoặc máy móc. Tức công bằng thực tế khách quan đa dạng hoàn toàn khác với cộng bằng thoát ly hoàn cảnh và thoát lý yếu tố con người cụ thể. Pháp luật chân chính nhằm để bảo đảm sự công bằng và tự do chính đáng của tất cả mọi người, điều chỉnh những bất công phi lý, giúp đỡ lo toan sự phát triển của mọi người, không phải chỉ để cưỡng chế, bó buộc mỗi cá nhân hay toàn xã hội  phải đi theo những quy thức tiền chế phi lý nào cả.

Nên nói khác đi, Mác chỉ hiểu công bằng phải theo cách áp đặt. Bởi cho xã hội tự do đều chỉ là kiểu xã hội “tư sản”, đều chỉ nhìn thấy nó xấu xa, áp bức, bất công, bóc lột, bởi có nền tảng là tư hữu, thế làm gì còn có bất cứ loại công bằng nào ở đó nữa theo Mác. Bởi vậy Mác đặt tiền đề cho tư hữu là nguyên lý sai trái, là điều kiện làm phát sinh ra phân chia giai cấp, là đầu mối của đấu tranh giai cấp, xã hội tư sản chỉ là xã hội thống trị của giai cấp tư sản thống trị lên giai cấp vô sản, vậy còn đâu có đạo đức, có công bằng khách quan được nữa, mà xã hội đó chỉ toàn thối nát, bất công. Như thế, lý luận của Mác luôn luôn là lý luận một chiều, lý luận theo tiền đề đặt sẳn, lý luận kiểu áp đặt mà không cần nại đến bất kỳ nguyên lý khoa học khách quan đúng đắn nào. Chẳng qua Mác chỉ chăm chăm vào các định kiến mâu thuẫn, giai cấp, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp không phải chỉ tiền đề đặt trước mà còn là kết luận đặt trước, mục tiêu đặt trước, thế thôi. Vậy đâu còn là nền tảng, là yếu tố hay nguyên lý khách quan của lý luận, đâu còn khoa học trong lý luận, mà thật ra chỉ nhằm cực đoan ngụy biện, kiểu nhằm đặt con trâu sau cái cày thế thôi.

Thật ra nhà nước và pháp luật chỉ là kết quả tự nhiên của sự phát triển xã hội. Mỗi cá nhân bản chất không loại bỏ được bản năng nên giáo dục và pháp luật luôn cần. Nhưng pháp luật và giáo dục cũng chuyển biến, thay đổi, phát triển tùy theo kết quả xã hội đi lên. Không giáo dục, không pháp luật xã hội sẽ loạn, bởi không rào cản, kèm chế nào của bản năng, sẽ trở nên sẽ hổn loạn, hoang dã sẽ chiến thắng, hủy diệt mọi nhân tính, văn minh xã hội. Đó là nhu cầu thiết thân cho tất cả mọi người, của toàn xã hội, không riêng thành phần hay giai ấp nào cả. Nhà nước hay tổ chức đất nước là cái nền móng luôn luôn cơ bản nhất, tuy có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh, giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội nhưng không bao giờ mất đi hay bị tiêu diệt, nó chỉ có thể thay thế lẫn nhau tùy theo hoàn cảnh, điều kiện mà thôi. Hẳn nhiên cái gì cũng có mặt phải và cả mặt trái của nó, nó có thể bị một số cá nhân lũng đoạn, lợi dụng để trở nên xấu đi, nhưng không có nghĩa nó luôn là vật thể vô dụng hoặc hoàn toàn tiêu cực.à Mác lý luận nhà nước và cả pháp luật của nó chỉ là công cụ của giai cấp, một phương tiện đấu tranh giai cấp, là công cụ của giai cấp thống trị, thì chẳng cần mọi điều khách quan thực tế nào cả mà chỉ nói bừa nói bướng.

Thực chất khi thế giới hoang dã đi vào thế giới loài người, sự phát triển không phải chỉ do bởi những yếu tố bên ngoài mà còn chính là yếu tố bên trong, như tâm lý, hiểu biết phát triển lên, không phải thuần túy chỉ bản năng sự sống. Trong yếu tố này vẫn còn có yếu tố kia, không khi nào chỉ thuần túy là một như mọi loài vật hoang dã. Sự đấu tranh sinh tồn và khuynh hướng phát triển tiến bộ chung vẫn luôn luôn có. Sự đấu tranh giữa cái tiêu cực và cái tích cực, mặt phải và mặt trái của xã hội vẫn luôn luôn có. Sự đấu tranh đó bởi vậy không luôn luôn chỉ thuần yếu tố hay mục đích sinh tồn, kinh tế, mà còn là sự đấu tranh văn hóa và phát triển khi bản chất xã hội con người đã dần dần phát triển qua lịch sử. Nên cái nhìn của Mác luôn luôn chỉ là cái nhìn tầm thường, cái nhìn duy vật hóa, sinh vật hóa thuần túy con người và xã hội. Ở đâu cũng chỉ thấy có thuần là vật chất, chỉ thuần là tranh giành quyền lợi miếng ăn, lợi lộc qua đấu tranh giai cấp mà ngoài ra không còn gì khác. Mác nhìn con người và xã hội thực chất không có tính nhân bản, chỉ nhìn trừu tượng qua yếu tố đấu tranh biện chứng phi nhân, bị vật thể hóa kỳ cùng, mà không còn như con người hay xã hội cụ thể dầu tự tin hay tự tuyên bố mình là khuynh hướng xã hội cụ thể, thực tế nhất.

          

(II)

 

Thật vậy, khi xã hội loài người chuyển biến từ trạng thái bộ lạc, du mục sang dạng thức phong kiến, quân chủ, cuối cùng đi lên tư bản dân chủ, đó không phải chỉ là sự vận động thuần túy vật chất hay sinh vật mà còn là chính yếu tố tinh thần, ý thức nội tại phát triển trong đó. Bởi hòn đá chuyển động thì ngàn đời vẫn chỉ là hòn đá, cái cây và sinh vật phát triển hay vận động, ngàn đời cũng không thoát ly ra khỏi nó, nhưng yếu tố tồn tại con người từ hoang dã đến văn minh thì hoàn toàn khác. Sự phát triển khoa học kỹ thuật trong xã hội loài người không phải thuần túy là qua sự vận động vật chất trong óc não như Mác và Engels quan niệm mà thật ra phải có nguyên nhân nội tại tiềm ẩn nào đó, hay nguyên nhân nhân tính đã vốn chứa trong đó. Cho nên thuyết duy vật thuần túy và thuyết kinh tế chính trị chuyên chính vô sản tuyệt đối của Mác, thật ra chẳng khác nào một loại “dị thuyết”, một loại “giả” thuyết (false theory), một loại “tà thuyết”, tức hoàn toàn không đích thực hay đúng đắn khách quan, mà nhất thiết chỉ thật sự xa lạ, thật sự tách biệt với mọi truyền thống nhân bản đã vốn có từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, mà mọi học thuyết cổ xưa trong lịch sử nhân loại đã từng đều có. Mác đều quơ tất cả điều đó vào chung khái niệm “đạo đức tư sản, kiểu tư sản”, để từ đây muốn dùng “đạo đưc vô sản, kiểu ý hệ vô sản” để nhằm thay thế tất cả vào đó. Bởi vì ở đây mọi quyền tự do chính đáng của con người đều bị triệt tiêu, loại bỏ.

Điều đó là bởi vì Mác và Engels đã tự định hình cứng nhắc vào quan điểm duy vật tuyệt đối, cả dưới dạng duy vật biện chứng, rồi kế đến cả quan điểm duy vật lịch sử đã có ngay từ đầu. Trong khi đó, thật sự cả ba quan điểm này đều hoàn toàn vô nghĩa, hay nghịch lý, mâu thuẫn nhau tự trong chính bản thân chúng, hay cả trong mọi sự phát triển của lịch sử xã hội loài người. Sự diễn dịch từ cái này ra cái kia đó thực chất đều hoàn toàn giả tạo, phi lý, hời hợt, nông cạn, áp đặt, mà không hề chứng minh được cái lô-gích nào khả dĩ làm bằng chứng xác đáng, cụ thể cả. Đó chỉ là kiểu lý luận suông, trừu tượng, máy móc theo cách suy đoán toán học, chẳng có căn cơ gì cụ thể rõ ràng cả. Sự vận động của nguyên tử cho dầu cả tỷ năm cũng chỉ là sự vận động của nguyên tử, nhưng nguồn gốc sự sống đến nay khoa học loài người vẫn chưa có được chứng minh nào rõ rệt cả. Như thế mọi ý nghĩa vấn đề ở đây không phải chỉ đều đơn giản. Học thuyết của Mác chỉ kiểu là học thuyết theo lối quy giản, quy lược đầy cách áp đặt một chiều chưa hề có chút gì hiển nhiên, rốt ráo về mọi lý giải khoa học hoặc triết học gì hết. Nó chỉ dễ phỉnh gạt, lừa mị mọi đầu óc thiển cận, nông cạn hay kém hiểu biết mặt tri thức, nhận thức mà thôi.

Như nhu cầu cái ăn nơi loài vật thật ra chỉ là một chuỗi mắt xích hoàn toàn tự động theo bản năng và ngàn năm cũng không hề thay đổi. Nhưng kinh tế trong xã hội loài người cho thấy qua lịch sử đã biến chuyển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nông cạn đến chiều sâu, hoàn toàn khác hẳn với mọi giới sinh vật. Đành rằng yếu tố thay đổi đó được tạo ra nhờ bởi sử dụng công cụ, nhưng cũng bởi sự phát triển tự nhiên của não bộ con người. Não bộ thực chất không phải đơn thuần chỉ là một tổ hợp tế bào sinh học hoạt động cơ giới máy móc như kiểu vật lý (physical) bậc cao, nhưng đích thực đây lại là một hình thức chủ thể tính (subjectivity) là điều mà Mác-Engels chẳng bao giờ muốn thấy hay thấy được hết. Bởi ngay từ nền tảng ban đầu đều chỉ giản lược tuyệt đối tất cả chỉ là vật chất, chất thể (matter, material) vậy thôi. Giản lược và suy đoán kiểu thuần tư biện, đó là khuynh hướng cả hai người này vẫn thường có nhưng đều xem là đỉnh cao trí tuệ tuyệt đối nhất của mình.

Bởi đơn vị con người ban đầu thời nguyên thủy, cho dầu sản xuất, tạo ra vật chất nhằm tiêu dùng theo nhu cầu của mình, nhưng điều đó khó có thể làm hoài một mình mà vẫn có sự cạnh tranh và nhiều khi cần có sự hợp tác với các cá thể khác. Sự cạnh tranh và hợp tác bởi thế luôn là nguyên lý hay quy luật tự nhiên trong toàn xã hội, không thể chỉ tồn tại một trong hai và cái này có thể tiêu diệt được cái kia. Do vậy nguyên lý hay sự xuất hiện việc chiếm hữu ban đầu nào đó đối với các sự vật đều phải luôn có giới hạn bởi sự cạnh tranh và sự chia sẻ của nó. Tư hữu là thiết yếu nhưng không thể vượt ra ngoài các giới hạn là điều luôn luôn có trong xã hội. Bởi vậy không thể có chuyện lo bò trắng răng như Mác vẫn thường hay có. Hơn thế mọi công cụ kinh tế luôn luôn thay đổi phát triển qua dòng thời gian lịch sử, có khi đi đến từng mỗi thế hệ trong xã hội, bởi vậy không thể có sự đấu tranh giai cấp kiểu rạch ròi, bất định trong quảng thời gian dài cho tới khi lực lượng sản xuất làm thay đổi quan hệ sản xuất như kiểu Mác suy đoán.

Nên chi mọi diễn tiến định chế trong xã hội từ bộ lạc qua phong kiến rồi quân chủ và tư sản nói chung đó đều là diễn tiến khách quan của lịch sử, không cá nhân nào có thể làm thay đổi được, cũng không bất kỳ ai có thể phủ hận được. Nó kết hợp bởi nhiều yếu tố như sự phát triển xã hội, các tác động bên ngoài nào đó, kể cả các tham vọng riêng biệt của số cá nhân nhất định nào đó đã đi đến thắng lợi được. Thành nên yếu tố tất yếu và ngẫu nhiên trong lịch sử cũng khó quy giản cái nào vào cái nào, hay nói khác có nhiều tính lô-gích khác nhau trong tồn tại lịch sử và xã hội, không chỉ đơn thuần nhìn riêng kiểu giả tạo theo loại tư duy hay cảm tính nào đó. Đấu tranh giữa chủ thể lẫn nhau vẫn luôn có, theo chiều hướng này hoặc chiều hướng nọ, nhưng giai cấp chỉ là một phạm trù khái niệm trừu tượng kiểu phổ quát hóa theo dạng nào đó, nó đều không phải thứ chủ thể tính riêng biệt nào cả. Đó chẳng qua Mác chỉ thêu dệt tưởng tượng gượng ép phi lý, giả tạo, chẳng chút thực tiển, khoa học nào cả, mà còn gây những ảo tưởng, những hệ lụy xấu cho toàn xã hội.

Lòng tham vọng ích kỷ luôn luôn có ở con người, nên người tuyệt đối lương thiện, vị tha, cao cả không phải bao giờ cũng nhiều mà chỉ là thiểu số tinh hoa nào đó. Có nghĩa trí thức, tinh thần, đức tính mới luôn là động lực phát triển lịch sử xã hội mà không phải khái niệm giai cấp trừu tượng nào đó cả. Lực lượng quần chúng luôn luôn là lực lượng ô tạp trong chính trị. Lực lượng sản xuất và tiêu dùng luôn luôn là lực lượng thực tế trong phát triển xã hội. Giới tinh hoa chỉ là đầu tàu mà không gì khác. Bởi vậy không có quần chúng ô tạp cũng khó có quyền lực chính trị, không có lực lượng sản xuất tiêu dùng cũng khó có kinh tế. Đầu tàu có thể chỉ đều là lực lượng thuần túy nhưng chiều hướng vận động của nó như thế nào là chuyện khác. Con tàu có thể đi tới hay đi lui lại là do đầu tàu tất cả. Nên trong lịch sử có những vị minh quân mà cũng có những tên bạo chúa. Trong chính trị không phải không có những bậc vĩ nhân mà cũng thường có những thời cơ, gian hung, lưu manh có cỡ. Những điều này chỉ khi lịch sử trôi qua thì mới thấy rõ còn nói chung lực lượng quần chúng chỉ luôn mù mịt.

Vậy nên đời sống kinh tế của xã hội loài người là một nền tảng quan trọng nhưng không phải duy nhất. Lịch sử xã hội phát triển là nhờ qua các cơ chế và những định chế kinh tế nối tiếp khác nhau. Ví dụ định chế chiếm hữu riêng hay tư hữu là yếu tố xuất hiện cơ bản thiết yếu đầu tiên nhưng không phải quyết định duy nhất. Nó có thể tạo nên sự cạnh tranh chính đáng hay không chính đáng mọi nhưng đó chỉ là yếu tố khách quan. Nhu cầu cần thiết trao đổi giữa nhau trong kinh tế tạo nên định chế hàng hóa và tiền tệ là yếu tố về sau thêm vào không thể nào thiếu. Đây là yếu tố quyết định còn hơn cả quyền tư hữu lẫn trở lại chi phối cả quyền tư hữu. Bởi quyền tư hữu chỉ tập trung phục vụ lợi ích cá nhân, còn hàng hóa và tiền tệ chủ yếu còn tập trung vào cả lợi ích chung của xã hội. Cả hai đều là huyết mạch xã hội là như thế. Tiền qua tư bản đẻ ra hàng hóa cũng như ngược lại, đó là sự quay vòng hay tương tác với nhau tự nhiên không có gì phải là khám phá ghê gớm như Mác đã làm trong suốt cả bộ Tư bản luận của mình.

Có nên tiền tệ cũng là khám phá kỹ thuật quan trọng nếu không nói là khám phá kỹ thuật quan trọng đầu tiên nhất giữa các khám phá kỹ thuật khác nhau trong lịch sử xã hội loài người. Nó tạo nên mọi sự tiện lợi giao lưu thiết yếu nhất trong toàn xã hội. Bởi vì tiền tạo ra mặt kia của nó là hàng hóa, và cả tiền cũng trở thành chính là hàng hóa. Cả hai mặt này biến chuyển giữa nhau và tạo thành chung khả năng đáp ứng mọi nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội là như thế. Từ dạng thể đầu tiên như vỏ sò, vỏ ốc, qua ngân bản vị và kim bản vị, cuối cùng các loại tiền tín dụng ngày nay, đã làm định chế ngân hàng cũng chính là khám phá quan trọng trong nền kinh tế tài chánh của xã hội loài người qua các thời đại. Nên nhiều mặt tiền tệ và nhiều mặt tư bản khác nhau trong đời sống kinh tế đã trở thành những định chế quan trọng nhất trong lịch sử phát triển kinh tế nói chung của thế giới xã hội loài người. Nói khác đi nhu cầu đời sống và sự tiện lợi gần như là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển chung của xã con người. Dĩ nhiên nhu cầu này không chỉ là nhu cầu vật chất mà còn là nhu cầu tinh thần, trí tuệ, đó là điều mà ý nghĩa đời sống loài người hoàn toàn khác hẳn với ý nghĩa đời sống loài vật. Và dầu cho rằng loài người và loài vật vẫn cùng là giới sinh vật, thì điều phân công giới tính đực cái nam nữ vẫn là điều huyền vi của tạo hóa vượt ra ngoài cả đấu tranh giai cấp mà Mác chẳng bao giờ ngờ đến nữa.

Vả chăng mỗi cá nhân luôn là một chủ thể ý thức độc lập tự do về mặt bản chất trong mọi môi trường xã hội. Mỗi cá nhân không phải chỉ một nguyên tử mà còn là hình ảnh một véc tơ trong trường xã hội, một véc tơ có thể có phương hướng và mô đun nội lực khác nhau. Hơn thế, vật chất chỉ là điều kiện cần không phải là điều kiện đủ cho mọi tồn tại không mang tính thuần vật chất theo cách sơ đẳng. Do vậy nguyên lý tự do luôn luôn là nguyên lý tối ưu trong đời sống xã hội. Không có tự do sự sống sẽ quay về lại trạng thái trì lực, ù lỳ và tự diệt. Trong khi đó lịch sử phát triển luôn theo nguyên lý tuyến tính, tức phải luôn liên tục, không quay lại trạng thái cũ mà luôn mãi tiến lên. Chẳng hạn tư bản là một dạng sáng kiến mới về tài chánh trong kinh tế tư bản, cũng giống tiền tệ là một phát minh quan trọng và thiết yếu trong xã hội thời nguyên thủy cổ đại. Bởi vậy khi viết Bản thảo kinh tế chính trị rồi Tư bản luận, Mác nhằm phân tích kết án mọi định chế kinh tế tài chánh trong xã hội tư bản đang trong đà phát triển mới mẻ như hàng hóa, tiền tệ, tài chánh, lao động v,v… chẳng qua Mác đã làm một việc hoàn toàn ngược ngạo để nhằm phục vụ thị hiếu sở thích riêng tư lập dị, ảo tưởng của mình. Trong khi đó chưa nói ngay giữa lòng xã hội, chưa nói mỗi cá nhân lại vẫn có thể có phận mạng hay định mệnh riêng của mỗi người đâu ai giống ai.

Hơn thế nữa, khi kinh tế xã hội phát triển, dĩ nhiên những định chế chính trị, pháp luật, văn hóa cũng song hành phát triển tương ứng theo. Chế độ Cộng hòa dân chủ và nền kinh tế tư bản như vậy cũng phải tương ứng nhau, không thể có cái này nếu không có cái kia. Kinh doanh phát triển tự do về kinh tế buộc phải đi liền với cơ chế chính trị như lưỡng đảng hay đa đảng, tam quyền phân lập, tự do báo chí hay đệ tứ quyền, đó không phải chỉ màu mè bên ngoài mà đều là những ý nghĩa và vấn đề cốt lõi. Bởi tất cả những điều đó đều nhằm bảo đảm cho tự do cá nhân lẫn cả tự do xã hội vì vẫn chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề. Mác ngược lại nhằm lên án tất cả mọi điều đó, bởi chỉ quy vào đều tư sản, và dùng khái niệm giai cấp đấu tranh để quy chụp là độc quyền của giai cấp thống trị tư sản. Ý muốn dùng cuộc cách mạng vô sản, xây dựng kiểu độc tài vô sản để nhằm thay thế tất cả mọi điều đó. Thế nhưng tránh vỏ dưa chưa chắc đã không gặp vỏ dừa. Bởi bản chất của con người vẫn luôn luôn là một, cái sâu lắng bên trong vẫn luôn là bản năng ích kỳ thấp kém không bao giờ triệt tiêu được cả. Từ kết quả phát triển hướng tới tự do mọi mặt hơn, Mác muốn quay ngược lịch sử xã hội trở lại trạng thái thấp kém hơn, trì trệ hơn, khắc nghiệt hơn, để gọi là lý tưởng trong ảo tưởng, đó chẳng qua vì những định kiến tiền đề vốn đã sẳn từ trong mọi nhận thức và tư duy hay đầu óc của Mác.  

Từ đó Mác cũng không đủ thực tế sáng suốt để thấy rằng mọi con người sinh ra đời là chỉ nhằm để sống, nhằm để trải nghiệm đời sống, và nhằm để thể hiện bản thân nào đó vốn có của mình, không phải để cốt nhằm xây dựng cái gì đó giả tạo, ép buộc, do từ bên ngoài tới mà không phải mục đích chính yếu như là cứu cánh của chính bản thân họ. Có nghĩa mọi định chế xã hội phải do tự nó phát triển ra trong lịch sử theo yêu cầu đòi hỏi khách quan trong thực tế, không phải do ai muốn theo cách tùy tiện, giả tạo mà được, hay không ai quyết định hoặc áp đặt cho ai mà được. Kiểu chủ nghĩa xã hội và kiểu chủ nghĩa cộng sản, thực ra đều chỉ sự tưởng tượng huyền hoặc từ thị hiếu, cảm tính riêng của Mác, không phải cái thiết yếu gắn liền với xã hội hay bất kỳ cá nhân nào. Sống gởi thác về, đó là nhận thức khách quan từ ngàn xưa dân ta vốn có. Vấn đề làm sao đời sống phải phát triển theo văn minh và khoa học, thế thôi. Kinh tế gắn liền với đời sống đều phải do sức lao động gắn liền với khoa học kỹ thuật mang lại, không phải do thứ ý thức hệ lừa bịp, mờ mịt, phi lý, ngu xuẩn, mê tín, huyền hoặc nào mang lại cả. Trong khi Mác tự đặt sự huyễn hoặc của mình ra trước, rồi dùng những ngụy thuyết duy vật biện chứng lẫn duy vật lịch sử cố o ép, cưỡng chế vào, điều dó chỉ là những viễn tượng phỉnh gạt chẳng bao giờ hiện thực được hoặc cũng chỉ vô nghĩa trong thực tế.

Thành ra chủ thuyết của Mác cốt đấu tranh giai cấp để không còn giai cấp, thực hiện xã hội không giai cấp trong đó không còn hàng hóa, không còn thị trường, không còn tiền tệ, không còn tư hữu. chỉ còn lao động trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau, thật sự chỉ làm bế tắt xã hội, hư vô hóa xã hội, phi thực tế hóa con người và xã hội, chối bỏ lịch sử và hủy hoại lịch sử thực tế, thực chất chẳng bao giờ làm được trong đời sống thực tiển xã hội. Đã vậy Mác chỉ làm vong thân hóa con người và xã hội, đánh mất bản thân thực có để chạy theo bản thân hư ảo, hoàn toàn không thể có chút giá trị nhân bản nào cả lại được tự mệnh danh giải phóng giai cấp, giải phóng, con người, giải phóng xã hội, chẳng khác nào những cái đấm lung tung vào không khí để chờ tạo ra những kết quả hư ảo dù tự cho là lý tưởng tốt đẹp nhất cao nhất và cuối cùng nhất trong toàn cả lịch sử loài người.

Bởi nếu mọi tiền đề đặt ra không thật, mọi giả thiết đặt ra không thật cũng không bao giờ đi đến được những kết luận khả dĩ mang lại các kết quả hay giá trị xác đáng chân thực. Ý nghĩa về đời sống kinh tế của xã hội loài người cũng chính là những điều như thế. Nó phải dựa vào bản chất thực của chính nó, dựa vào tinh thần, ý thức nhân bản của con người phải có, dựa vào khoa học kỹ thuật khách quan nhằm đưa đến một xã hội càng gần với sự công bằng hợp lý mà không phải chỉ nhằm vào những sự phù du nào đó tự mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội”. Bởi ý nghĩa và giá trị của “chủ nghĩa xã hội chân chính” luôn nằm trong ý thức, tinh thần con người, nằm trong tình thương yêu, thông hiểu giữa nhau, mà không thể nằm trong sự chế ức, áp đặt, tuy gọi là chống bất công bóc lột, mà thật sự vẫn lại chỉ là một sự cướp đoạt bất công, phi lý khác, một sự chế áp tàn nhẫn do mọi tham vọng ích kỷ, thấp kém khác, nhằm để mạo nhận dưới những danh từ hào nhoáng, dối gạt, đao to búa lớn, chỉ có diêm dúa giả tạo bề ngoài mà thực chất chẳng có nội dung đích thực nào bên trong cả thảy, hay chỉ nhằm mang đến kiểu ý nghĩa đàn bầy. Vì thật ra ý nghĩa cốt yếu của nó là để nhằm cuối cùng đi đến loại dạng một “xã hội cộng sản” không tưởng chẳng nào khác. Nhưng chính tiền đề duy vật tuyệt đối và kết luận chuyên chính vô sản tuyệt dối chính nó đã triệt tiêu mọi giá trị hay ý nghĩa nhân bản nếu có trong toàn học thuyết của Mác mà không gì khác, mặc cho Mác có tự nhận mình khoa học, nhân bản, hay mang tính cách khách quan lý tưởng như thế nào. Bởi tất cả nó trở thành không tưởng là như thế. Khi tiền đề đặt ra không vững thì kết luận rút ra không vững hoặc chỉ có thể là giả tạo thế thôi.   

 

By VÕ HƯNG THANH

          (25/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét