Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

 

PHÊ PHÁN BỘ TƯ BẢN LUẬN

CỦA CÁC MÁC VÀ ĂNGHEN

 

Tác phẩm Tư bản Luận (Das Kapital) của Mác và Ănghen là tác phẩm rất đồ sộ, gồm tới ba Tập, mỗi Tập không dưới năm sáu trăm trang, nguyên bản tiếng Đức, và từ đó đến nay được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, phổ biến nhất là bản tiếng Anh và tiếng Pháp.

Thật ra Mác chỉ chủ yếu viết Tập I, còn các Tập II và III phần lớn do Ănghen dựa theo ý Mác mà bổ sung và hoàn chỉnh thêm. Bởi vậy Tập I có thể coi là Tập căn yếu nhất, do chính Mác viết ra. Và Tư bản luận, thực chất như tên gọi của nó là tác phẩm phê bình Kinh tế chính trị (A Critique of Political Economy) mà không thuần là tập sách dành riêng cho kinh tế học theo nghĩa cổ điển thông thường.

Nội dung Tập I Mác chủ yếu phân tích Tiến trình sản xuất tư bản (The Process of Production of Capital). Trong đó Mác chia ra 8 phần lớn như phân tích hàng hóa và tiền tệ (Commodities and Money), sự chuyển đổi tiền tệ thành tư bản (Transformation of Money into Capital), sự hình thành giá trị thặng dư tuyệt đối (The Production of Absolute Surplus-Value), sự hình thành giá trị thặng dư tương đối (Production of Relative Surplus-Value), sự hình thành giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối (Production of Absolute and Relative Surplus-Value), tiền lương hay công xá (Wages), sự tích lũy tư bản (The Accumulation of Capital), và cuối cùng là sự tích lũy nguyên thủy (Primitive Accumulation). Mỗi phần như vậy chia ra nhiều chương, đoạn để đi sâu vào các nội dung chi tiết cụ thể khác nhau.

Ngoài ra có phần đề tựa (Preface) cho kỳ xuất bản lần đầu bằng tiếng Đức (Mác, 1867), đề tựa cho kỳ xuất bản bằng tiếng Pháp (Mác, 1872), lời hậu tựa (Afterword) cho kỳ xuất bản bằng tiếng Đức lần 2 (1873), hậu tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Pháp (1875), đề tựa cho kỳ xuất bản tiếng Đức lần 3 (1883), lời tựa cho lần xuất bản tiếng Anh (Ănghen, 1886), lời tựa cho kỳ xuất bản bằng tiếng Đức lần thứ 4 (Ănghen, 1890). Trong kỳ xuất bản lần đầu bằng tiếng Đức, Mác có nêu rõ phương pháp khoa học của mình hoàn toàn khác hẳn hay trái ngược với phương pháp khoa học của Hegel như thế nào.

Tựu trung lại, trong Tập I của Tư bản luận, Mác chủ đích phân tích hàng hóa và tiền tệ, sự chuyển đổi tiền tệ thành tư bản, ý nghĩa bản chất của giá trị thặng dư, sự tích lũy tư bản và vấn đề tiền lương. Tức có nghĩa Mác không dùng bộ Tư bản luận như là công cụ phân tích nội dung khách quan nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đúng hơn Mác dùng nó để nhằm phê phán, đả kích, lên án chính nền kinh tế này. Mục đích Mác có ý đồ là phân tích các ý nghĩa tiêu cực, xấu xa của nền kinh tế đó để cốt nhằm triệt hạ nó, tiên liệu một cuộc cách mạng vô sản phải xảy ra trong tương lai để nhằm chôn vùi, lật đổ, tiêu diệt nó. Cái gì trong kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng đều bị Mác lên án, phê phán, đả kích cả, mà yếu tố trước tiên chính là hàng hóa, tiền tệ, sự bóc lột giá trị thặng dư qua công xá, lương trả cho công nhân, ý nghĩa của việc tích lũy tư bản như yếu tố tạo ra sự mâu thuẫn sâu sắc về giai cấp giữa người chủ tư bản và giai cấp vô sản, là duyên cớ đi đến đấu tranh giai cấp càng khốc liệt để cuối cùng kinh tế tư bản chủ nghĩa phải hoàn toàn tiêu diệt và giai cấp công nhân lao động vô sản phải hoàn toàn thắng thế.

   Bởi vậy mặc dầu tác phẩm rất đồ sộ, gồm ba tập trường giang đại hải như mọi người đều thấy, nhưng thật ra nói cho cùng, chữ nghĩa thì nhiều, phân tích bề bộn, nhưng đúng ra cũng chẳng có gì phức tạp nhiêu khê về mặt kinh tế học thuần túy cả. Những đối tượng Mác phân tích, các nhà kinh tế đều thấy rất đơn giản như hàng hóa, tiền tệ, giao thương, tích lũy tư bản, đầu tư sản xuất, giá cả v.v… Nhưng chủ yếu Mác lại lồng vào trong đó sự phê phán giai cấp là chính, việc đấu tranh giai cấp là chính, chủ yếu để kẻ vạch ra sự bóc lột giá trị thặng dư các loại, chủ yếu nhằm phê phán chính trị mà không phải chỉ nhằm phân tích sự kiện khách quan một cách đơn giản hoặc khoa học.

Khoa học ở đây, theo Mác cũng không phải khoa học kinh tế hay khoa học xã hội một cách thuần túy, mà Mác kết hợp vào cả khoa học tự nhiên theo ý nghĩa duy vật, đồng thời kết hợp cả phương pháp luận biện chứng của Hegel mà Mác dường như rất tâm đắc và tin chắc vào đó. Tuy vậy, có điều Mác nói : “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với Hegel nhưng còn trực tiếp phản ngược lại. Đối với Hegel, tiến trình đời sống của óc não con người, tức là tiến trình suy nghĩ, dưới tên gọi là “Ý tưởng”, nó ngay cả chuyển đổi vào trong một chủ thể độc lập, là cái bản thể của thế giới thực hữu, và thế giới thực hữu chỉ là dạng hiện tượng bề ngoài của cái “ý tưởng”. Còn với tôi ngược lại ý tưởng chẳng phải gì khác hơn là thế giới vật chất được phản ánh bởi đầu óc con người, và được chuyển đổi thành các dạng thức tư tưởng.

“Khía cạnh bí nhiệm của biện chứng Hegel tôi đã phrr phán gần ba mươi năm nay, khi nó còn đang thời thượng” (“My dialectic method is not only different from the Hegelian, but is its direct opposite. To Hegel, the life process of the human brain, i.e., the process of thinking, which, under the name of “the Idea,” he even transforms into an independent subject, is the demiurgos of the real world, and the real world is only the external, phenomenal form of “the Idea.” With me, on the contrary, the ideal is nothing else than the material world reflected by the human mind, and translated into forms of thought”. “The mystifying side of Hegelian dialectic I criticised nearly thirty years ago, at a time when it was still the fashion”.  (Các Mác, London, 24 tháng giêng, 1873).

“Dans son fondement, ma méthode dialectique n'est pas seulement différente de celle de Hegel, elle est son contraire direct. Pour Hegel, le procès de la pensée, dont il va j usqu'à faire sous le nom d ' Idée un sujet autonome, est le démiurge du réel, qui n 'en constitue que la manifestation extérieure. Chez moi, à l 'inverse, l 'idéel n'est rien d'autre que le matériel transposé et traduit dans la tête de l'homme.

J'ai critiqué le côté mysti ficateur de la dialectique hégélienne. Il y a près de 30 ans, à une époque où elle était encore à la mode”. “La mystification que la dialectique subit entre les mains de Hegel n'empêche aucunement qu'il ait été le premier à en exposer les formes générales de movement de façon globale et consciente. Chez lui elle est sur la tête. Il faut la retourner pour découvrir le noyau rationnel sous l 'enveloppe mystique”. Dans sa forme mystifiée, la dialectique devint une mode allemande, parce qu 'elle semblait glorifier l ' état de choses existant”.

Tức Mác cho rằng phương pháp biện chứng luận (dialectics, dialectique) của Hegel có cái hữu lý trong bản thân thuần lý hợp lý của nó. Nhưng nó trừu tượng và thần bí, bởi vậy phải đảo ngược nó lại, bởi nó như tuyên dương cái thực tại nơi thế giới sự vật. Bởi chúng ta biết Hegel từng nói “ái gì hữu lý thì tồn tại, cái gì tồn tại là hữu lý”. Điều này theo Mác chẳng khác gì Hegel thỏa hiệp với các tình trạng thế giới hiện có. Mác chống lại điều đó, bởi Mác muốn thảy đổi thế giới thực tại, muốn làm cách mạng.

 Cách bám víu của Mác trong trình bày nội dung Tư bản luận là xây dựng trên nền tảng biện chứng, Mác cho đây là khoa học tuyệt đối, nhưng điều này cho thấy là hoàn toàn không tương thích. Chủ yếu của biện chứng luận là dựa vào sự suy đoán từ bên trong (deduction), không phải là phương pháp thực nghiệm đi vào sự quy nạp dữ liệu từ bên ngoài (induction). Điều này hoàn toàn không thực tiển hay thậm chí ngược ngạo đối với khoa kinh tế chính trị học, nên khiến không khách quan và kết luận có thể bị dẫn dắt, ức chế, thổi phồng, không thể còn hoàn toàn khoa học được. Nói khác đi kiểu khoa học này của Mác là kiểu khoa học chủ quan, có ý đồ và có mục đích thiết kế trước. Sự chứng minh ở đây là sự chứng minh kiểu nhằm quy nạp, không phải cách chứng minh nhằm mục đích hoàn toàn phân tích (Analytical, Analytique).

Bởi vậy những trang những chữ như đã thấy tuy rất nhiều, rất đồ sộ và phức tạp tự trong lòng nó, nhưng các tính chất và kết quả đúc kết các quy luật khách quan thật sự thì thật ra chẳng có bao nhiêu. Nói khác đi, phần lớn ý thức của Mác là nhằm ngụy biện, nhằm lèo lái kết quả đúc kết hay kết luận rút ra là theo tiên kiến của mình, không phải phân tích và kết luận khoa học theo kiểu hoàn toàn khách quan vô tư. Mác đưa ra nhiều công thức chứng minh về lưu thông hàng hóa, tiền tệ, giá trị, giá trị thặng dư các loại, sự tích lúy tữ bản và lưu thông tư bản, nhưng tất cả đều nhằm gò vào, diễn ra theo các mục tiêu ý hướng cố định tiền chế như đã biết. Thậm chí có những công thức rất đơn giản về mặt kinh tế học hay thường nghiệm, thế nhưng Mác lại nhấn mạnh, đào sâu, tỏ vẽ như thập phần quan trọng quyết định có mục tiêu lý thuân của mình như tiền đẻ ra tiền, hàng hóa đẻ ra tiền và ngược lại v.v… Những điều này thật ra hoàn toàn giản dị, sơ lược, mà trong kinh tế học cũng như đời sống hằng ngày ai cũng có thể biết hay chứng mị ra được.

Thế nhưng Tư bản luận đã trở thành kiểu tài liệu kinh thánh, hoàn toàn cứng nhắc, những người chấp nhận chủ nghĩa Mác không bao giờ hay không dám đi ra ngoài, phải tuyệt đối tôn trọng mọi phần, từng câu, từng chữ, từng ý, không bao giờ du di chút nào hay không hề đám suy nghĩ, nhận xét khác đi. Nó đã trở thành như một thứ thánh thư, chỉ có tin vào một chiều, không hề đi đến một sự phân tích, nhận định, kết luận nào khác. Tinh thần cuồng tín, mê tín như vậy ở đây đã thể hiện rất rõ, đã gần suốt trăm năm nhưng chẳng ai dám phê phán theo một hướng nào khác. Nếu vậy liệu nó có còn là một khuynh hướng khoa học, một ý nghĩa giá trị khoa học của một tác phẩm khoa học được không thì ai cũng có thể hiểu ra được. Tức nó trở thành một đức tin, một niềm tin theo kiểu tôn giáo, kiểu chỉ nam chính trị mà không còn là tác phẩm khoa học sâu sắc, khách quan hay đầy đủ một chút nào hết.

Bởi vậy thật ra ngày nay không ai còn đủ kiên nhẫn hay hứng thú để đọc lại toàn bộ nó nữa, trừ những người làm công tác tuyên truyền chính trị. Tại vì đọc vào người ta dễ dàng thấy những nội dung nông cạn, nhàm chán, một chiều, những kết luận đi trước tiền đề thật sự chỉ nhằm mang tính không tưởng, không còn có gì thiết thực, cụ thể được nữa. Vả lại đối tượng Mác phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ rất còn sơ khai, vào đầu thế kỷ 19, đến bây giờ hoàn toàn không còn đơn giản, đầy đủ, trung thực như khi đó nữa. Từ đó đến nay có biết bao những định chế bổ sung về thị trường, nội bộ cũng như quốc tế, biết bao các cơ chế bổ sung vào về mọi loại như tiền tệ, hàng hóa, giá trị, phân công lao động, giao thương quốc tế v.v… Ngay cả tư bản máy móc công nghệ cũng hoàn toàn mới mẽ, có những dây chuyền sản xuất và vào thời đại của Mác nó hoàn toàn chưa có, chưa xuất hiện hay đưa vào vận dụng.

Điều đó chẳng khác gì Mác mô tả cái cây đang còn mới lớn, chưa trưởng thành, cứng cáp, chưa phát triển đầy đủ già giặn, để đưa ra các quy luật về sau hay hoàn toàn bất biến của nó. Như vậy cũng chẳng khác gì phản biện chứng trong phương pháp phân tích và kết luận, rất dễ dàng xa thực tế và thành lỏng, lac lòi khỏng nhiều mặt. Và lý do không thể trách khỏi ở đây về mặt đầy tính giáo điều đó là Mác vừa chủ trương cơ chế độc tài (dictatorship), vừa chủ trương tuyệt đối hóa giai cấp vô sản ban đầu khi đó mà không đếm xìa đến hay quên đi bản chất muôn thuở của con người nói chung trong toàn lịch sử xã hội. Chỉ hai việc đó thôi đã khiến đi tới nhiều sự kiện mù quáng, lạc hậu, chậm lụt và không còn thích ứng với xã hội luôn luôn phát triển và đi lên được nữa.

Tư bản luận do vậy thực tế không còn là tác phẩm kinh tế hay kinh tế xã hội kiểu khách quan (political economy) mà đã trở thành hoàn toàn là tác phẩm giáo điều hay tác phẩm kiểu ý thức hệ (ideological) không hơn không kém. Bởi khoa học đúng ra phải xây dựng trên mọi cái thực tiển có trước, như yếu tố con người khách quan, xã hội khách quan, lịch sử khách quan. Nhưng cái đó bao giờ cũng có, thời nào cũng có. Mác chỉ chăm chút duy nhất vào một điều hay nguyên lý đấu tranh giai cấp trong xã hội. Thành ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội kiểu Mác quan niệm hoàn toàn không có thực chất, không có thực tiển nào cả. Nó giống như một sự tưởng tượng không tưởng, không dựa trên cơ sở khoa học khách quan nào mà chỉ đầy cảm tính, thị hiếu, chủ quan thì làm sao không hão huyền và làm sao để kết quả thành công được. Kiểu như mọi cái mơ mộng cho dù có tốt bao nhiêu nhưng không thực tế hay được thổi phồng, cho là thực tế, thì thực chất cũng không bao giờ có kết quả hay dẫn được tới đâu cả.

Ngay đến cái cốt lõi là “phương pháp biện chứng” được đưa vào áp dụng phân tích, nhận định, kết luận của Mác thì thực ra thực chất của nó như thế nào ? Đúng là đây không hề là phương pháp khoa học hoàn toàn thực tế hay thật sự thực nghiệm.  Đó chỉ là sự suy đoán diễn dịch hoàn toàn trừu tượng, chỉ mang tính chất triết học tư biện mà hoàn toàn không phải phương pháp thực nghiệm cụ thể. Người ta chỉ có thể tư duy về nó mà không bao giờ chứng minh kiểu khoa học hay làm thực chứng khoa học. Vậy mà Mác tâm đắc, tuyệt đối hóa phương pháp này theo nghĩa khoa học thì thực chất là hoàn toàn phi khoa học, phản khoa học trong mọi ý nghĩa thực tiển và cụ thể. Nói khác đi Mác vẫn phần nào hay cơ bản không thoát ra khỏi sự cuồng tín mê muội đối với Hegel. Có điều trong tâm tâm sâu thẩm là như thế nhưng bề ngoài Mác ngụy biện hay tự hào nông cạn mình hoàn toàn đối ngược lại với người tiền bối hay chính ông thầy của mình. Đó chỉ là Hegel là nhà triết học duy tâm, cho tinh thần, ý thức là cái quyết định trước nhất, quyết định cả vật chất. Còn Mác trái lại là một người tư tưởng duy vật, hoàn toàn đối chọi lại về mặt quan niệm thế thôi. Bởi vậy Mác cho răng phương pháp biện chứng của Hegel là phương pháp biện chứng duy tâm, còn phương pháp biện chứng của Mác là phương pháp biện chứng duy vật.

Mác bảo không phải như Hegel cho rằng tinh thần, ý tưởng phát xuất từ não bộ con người, Mác ngược lại cho rằng tất cả chỉ là vật chất thuần túy, tuyệt đối tất cả. Não bộ con người chẳng qua cũng là vật chất, hay đúng hơn là bộ máy vật chất. Chính thực tại thế giới bên ngoài cụ thể thực tế phản ảnh vào trong óc nào mà tạo ra tư tưởng, ý tưởng chúng ta có mà không là gì khác.

Thật ra Mác chỉ nói một chiều mà không chứng minh được nguyên lý phản xạ, phản chiếu gương ở đây là gì. Nếu không có nội dung của tư duy ý thức, ý tưởng có trước, thì mọi phản xạ từ ngoài vào liệu có mang kết quả gì, đó vẫn là điều Mác lờ đi hay không cần đếm xỉa. Hay thử láy một tấm kiếng và cho phản chiếu mọi hình ảnh từ ngoài vào, có bao giờ tấm kiếng đó biết nhận thức về sự vật hay không ? Đó là điều mà Mác không hề ngờ tới. Cho nên phương pháp biện chứng luận duy vật của Mác thực chất chỉ hoàn toàn nông cạn, ấu trĩ, thiển cận nhưng Mác lại tự nhận là khoa học thì thật sự Mác chẳng quan tâm khoa học đích thực và sâu sắc là gì. Quan niệm của Mác chỉ là quan niệm cảm tính, nửa mùa, nửa chừng xuân mà không thật sự rốt ráo hay sâu sắc, đầy đủ gì về mặt khoa học và triết học chút nào cả. Rõ ràng Mác chỉ dùng định kiến mà sử sự, đặt cái cày trước con trâu mà không phải khách quan làm ngược lại. Nên tuy dầu Mác cho Hegel là huyền bí (mystification) trong phương pháp luận thuần túy duy tâm của mình, thật ra phương pháp biện chứng luận duy vật của Mác cũng huyền bí theo kiểu mặt khác không kém. Bởi kiểu chỉ đều thị hiếu, sở thích, ngỡ như vậy là đúng, nhưng khách quan chưa hẳn đã tuyệt đối đúng. Hay đó chỉ vẫn là duy cảm tính nhưng theo kiểu tự mãn, trá hình mà thôi.

Thành ra phương pháp biện chứng luận như Hegel đưa ra kiểu tiền đề, phản đề, kết luân, hay phủ định của phủ định liên tiếp nối đuôi nhau, dù duy tâm hay duy vật, cũng chẳng mang phương pháp luận khoa học gì rạch rồi, cụ thể, khách quan có thể chứng minh được đầy đủ nào cả. Đó chẳng qua chỉ là sự ức đoán, sự định kiến, sự tư biện theo kiểu hoàn toàn trừu tượng, chẳng có gì là phương pháp cụ thể khoa học cả. Vậy mà Mác lại hoàn toàn mê đắm và tin chắc vào điều đó. Đến nỗi Mác cho mọi lý thuyết cộng sản trước hay đồng thời với ông đều là các thuyết cộng sản không tưởng, không thể thực hiện được vì không hề đặt vững vàng trên nền tảng khách quan khoa học. Trong khi đó chính Mác tự cho học thuyết cộng sản của ông ta mới là học thuyết cộng sản khoa học bởi vì nó được xây dựng trên biện chứng luận duy vật tuyệt đối khách quan khoa học. Như vậy rõ ràng Mác luôn luôn có định kiến bất biến về tính khoa học chắc chắn của biện chứng luận, trong khi đó thực sự chính bản thân nó lại chỉ mơ hồ, chẳng có cơ sở cụ thể thiết yếu nào cả.

Thật ra tư bản do đâu mà có ? Tư bản là sản phẩm của toàn xã hội. Nó phát triển qua lịch sử tích lũy nhiều mặt và cuối cùng xuất hiện trong xã hội kỹ thuật phát triển. Các xã hội cổ xưa chưa có tư bản đúng nghĩa hay tư bản đã được định hình rõ rệt. Nó là tiến trình tích lũy kinh tế và khoa học kỹ thuật của xã hội xuất hiện ở giai đoạn cao hơn. Càng ngày nó càng được định hình vào nguồn tài chính và máy móc công nghiệp mà xã hội đang có. Nó trở thành công cụ đầu tư không thể thiếu để sản xuất kinh tế và lưu thông phân phối trao đổi thương mại trong toàn xã hội. Nền tảng hiệu quả cúa nó là nền tảng tư hữu, bởi vì nó phải đi liền với quản lý và phát triển kinh tế xã hội mọi mặt. Nó tiến triển và định hình phát triển qua mỗi thời đại. Nguồn gốc của nó là lao động và máy móc kỹ thuật. Lao động mọi loại, từ giản đơn đến trí tuệ và được cụ thể hóa ra trong tài chánh tiền tệ, song mục đích cuối cùng của nó vẫn là xã hội, tạo nên mọi đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cho toàn bộ xã hội nói chung.  Mọi sáng kiến tư nhân và mọi năng lực trí tuệ chính là cái cốt lõi của tư bản, và chính giai tầng tinh hoa của xã hội tham gia vào việc tạo ra và điều động tư bản trong mọi phương diện không nhất thiết phải là thành phần giai cấp vô sản mà Mác quan niệm. Tính cách mê tín huyễn hoặc của Mác về đấu tranh giai cấp và về ý nghĩa của giai cấp chính là ở đây.              

Bộ Tư bản luận của Mác nói chung chỉ nhằm cơ sở có thế. Nó chỉ lồng ghép vào phương pháp biện chứng luận và đấu tranh giai cấp mà Mác viết ra, mọi nguồn gốc và mục tiêu của nó chỉ được viện dẫn là vậy. Nó thực chất không nhằm vào việc phân tích khách quan các sự kiện đời sống cá nhân con người và xã hội thật đầy đủ về mọi khía cạnh kinh tế xã hội và lịch sử, mà thực ra cốt cố ý chỉ nhằm trích đoạn, làm sao cho phù hợp theo mục tiêu, thị hiếu đã có sẳn, đã được tiền chế của mình. Thế làm sao được bao quát, đầy đủ, bất biến theo thời gian, hay có thể áp dụng được mãi, mà không thành lạc hậu, lõi thời cho được. Ngay chính tựa đề của bộ sách đã nói rõ lên tất cả điều đó. Luận về tư bản, nhưng Mác không nhìn tư bản như công cụ khách quan hữu hiệu của hoạt động kinh tế xã hội. Mác chỉ nhìn đó như công cụ bóc lột phi lý, phi nhân, cần phải đẹp bỏ để nhằm đi đến xã hội vô sản, lao động sản xuất trực tiếp trao đổi sản phẩm làm ra với nhau trong xã hội con người, không thông qua tư bản, thị trường, tiền tệ, hàng hóa, mà Mác cho là cuộc cách mạng vô sản không tiền khoáng hậu của lịch sử nhân loại. Mục đích chung cuối cùng của Bộ Tư bản luận của Mác là vậy, nó trở thành thánh thư của đấu tranh giai cấp là vậy, nó trở thành mục tiêu tối hậu của giai cấp vô sản là vật. Trong nội dung toàn bộ suốt ba Tập của nó, và ngay cả tựa đề đều nói lên điều đó. Đây chẳng hề là một tác phẩm khoa học (scientific, scientifique ) cụ thể mà chỉ là một tác phẩm về ý thức hệ (ideological, idéologique) chính trị, cho dù niềm tin ngay trong bản thân Mác, hay là danh nghĩa nêu ra cho được thập phần hấp dẫn, Mác và Ănghen vẫn luôn tự nhận đây mới là tác phẩm tuyệt đối khoa học về lịch sử và xã hội cho mọi thời đại chính là như thế. Chỉ vì một giai cấp thất thế tạm thời mà làm huyễn tưởng cả một xã hội trong lâu dài phải bị thất thế về mọi mặt, vậy Mác có phải là người thực tế, lý tưởng, sáng suốt và khôn ngoan hay chỉ hoàn toàn vụng dại.

 

By VÕ HƯNG THANH

          (21/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét