PHÊ
PHÁN BỘ TƯ BẢN LUẬN
CỦA
CÁC MÁC VÀ ĂNGHEN
Tác phẩm
Tư bản Luận (Das Kapital) của Mác và Ănghen là tác phẩm rất đồ sộ, gồm tới ba Tập,
mỗi Tập không dưới năm sáu trăm trang, nguyên bản tiếng Đức, và từ đó đến nay
được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, phổ biến nhất là bản tiếng Anh và tiếng
Pháp.
Thật ra Mác chỉ chủ yếu viết Tập
I, còn các Tập II và III phần lớn do Ănghen dựa theo ý Mác mà bổ sung và hoàn
chỉnh thêm. Bởi vậy Tập I có thể coi là Tập căn yếu nhất, do chính Mác viết ra.
Và Tư bản luận, thực chất như tên gọi của nó là tác phẩm phê bình Kinh tế chính
trị (A Critique of Political Economy) mà không thuần là tập sách dành
riêng cho kinh tế học theo nghĩa cổ điển thông thường.
Nội dung Tập I Mác chủ yếu phân
tích Tiến trình sản xuất tư bản (The
Process of Production of Capital). Trong đó Mác chia ra 8 phần lớn như phân
tích hàng hóa và tiền tệ (Commodities
and Money), sự chuyển đổi tiền tệ thành tư bản (Transformation of Money into Capital), sự hình thành giá trị thặng
dư tuyệt đối (The Production of
Absolute Surplus-Value), sự hình thành giá trị thặng dư tương đối (Production of Relative Surplus-Value),
sự hình thành giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối (Production of Absolute and Relative Surplus-Value), tiền lương hay
công xá (Wages), sự tích lũy tư
bản (The Accumulation of Capital),
và cuối cùng là sự tích lũy nguyên thủy (Primitive Accumulation). Mỗi phần như vậy chia ra nhiều chương, đoạn
để đi sâu vào các nội dung chi tiết cụ thể khác nhau.
Ngoài ra có phần đề tựa (Preface)
cho kỳ xuất bản lần đầu bằng tiếng Đức (Mác, 1867), đề tựa cho kỳ xuất bản bằng
tiếng Pháp (Mác, 1872), lời hậu tựa (Afterword) cho kỳ xuất bản bằng tiếng Đức lần
2 (1873), hậu tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Pháp (1875), đề tựa cho kỳ xuất bản
tiếng Đức lần 3 (1883), lời tựa cho lần xuất bản tiếng Anh (Ănghen, 1886), lời
tựa cho kỳ xuất bản bằng tiếng Đức lần thứ 4 (Ănghen, 1890). Trong kỳ xuất bản
lần đầu bằng tiếng Đức, Mác có nêu rõ phương pháp khoa học của mình hoàn toàn
khác hẳn hay trái ngược với phương pháp khoa học của Hegel như thế nào.
Tựu trung lại, trong Tập I của Tư
bản luận, Mác chủ đích phân tích hàng hóa và tiền tệ, sự chuyển đổi tiền tệ
thành tư bản, ý nghĩa bản chất của giá trị thặng dư, sự tích lũy tư bản và vấn
đề tiền lương. Tức có nghĩa Mác không dùng bộ Tư bản luận như là công cụ phân
tích nội dung khách quan nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đúng hơn Mác dùng nó để
nhằm phê phán, đả kích, lên án chính nền kinh tế này. Mục đích Mác có ý đồ là
phân tích các ý nghĩa tiêu cực, xấu xa của nền kinh tế đó để cốt nhằm triệt hạ
nó, tiên liệu một cuộc cách mạng vô sản phải xảy ra trong tương lai để nhằm
chôn vùi, lật đổ, tiêu diệt nó. Cái gì trong kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng đều
bị Mác lên án, phê phán, đả kích cả, mà yếu tố trước tiên chính là hàng hóa, tiền
tệ, sự bóc lột giá trị thặng dư qua công xá, lương trả cho công nhân, ý nghĩa của
việc tích lũy tư bản như yếu tố tạo ra sự mâu thuẫn sâu sắc về giai cấp giữa
người chủ tư bản và giai cấp vô sản, là duyên cớ đi đến đấu tranh giai cấp càng
khốc liệt để cuối cùng kinh tế tư bản chủ nghĩa phải hoàn toàn tiêu diệt và
giai cấp công nhân lao động vô sản phải hoàn toàn thắng thế.
Bởi vậy mặc dầu tác phẩm rất đồ sộ, gồm ba tập
trường giang đại hải như mọi người đều thấy, nhưng thật ra nói cho cùng, chữ
nghĩa thì nhiều, phân tích bề bộn, nhưng đúng ra cũng chẳng có gì phức tạp
nhiêu khê về mặt kinh tế học thuần túy cả. Những đối tượng Mác phân tích, các
nhà kinh tế đều thấy rất đơn giản như hàng hóa, tiền tệ, giao thương, tích lũy
tư bản, đầu tư sản xuất, giá cả v.v… Nhưng chủ yếu Mác lại lồng vào trong đó sự
phê phán giai cấp là chính, việc đấu tranh giai cấp là chính, chủ yếu để kẻ vạch
ra sự bóc lột giá trị thặng dư các loại, chủ yếu nhằm phê phán chính trị mà
không phải chỉ nhằm phân tích sự kiện khách quan một cách đơn giản hoặc khoa học.
Khoa học ở đây, theo Mác cũng
không phải khoa học kinh tế hay khoa học xã hội một cách thuần túy, mà Mác kết
hợp vào cả khoa học tự nhiên theo ý nghĩa duy vật, đồng thời kết hợp cả phương
pháp luận biện chứng của Hegel mà Mác dường như rất tâm đắc và tin chắc vào đó.
Tuy vậy, có điều Mác nói : “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với
Hegel nhưng còn trực tiếp phản ngược lại. Đối với Hegel, tiến trình đời sống của
óc não con người, tức là tiến trình suy nghĩ, dưới tên gọi là “Ý tưởng”, nó
ngay cả chuyển đổi vào trong một chủ thể độc lập, là cái bản thể của thế giới
thực hữu, và thế giới thực hữu chỉ là dạng hiện tượng bề ngoài của cái “ý tưởng”.
Còn với tôi ngược lại ý tưởng chẳng phải gì khác hơn là thế giới vật chất được
phản ánh bởi đầu óc con người, và được chuyển đổi thành các dạng thức tư tưởng.
“Khía cạnh bí nhiệm của biện chứng
Hegel tôi đã phrr phán gần ba mươi năm nay, khi nó còn đang thời thượng” (“My
dialectic method is not only different from the Hegelian, but is its direct
opposite. To Hegel, the life process of the human brain, i.e., the process of
thinking, which, under the name of “the Idea,” he even transforms into an
independent subject, is the demiurgos of the real world, and the real world is
only the external, phenomenal form of “the Idea.” With me, on the contrary, the
ideal is nothing else than the material world reflected by the human mind, and
translated into forms of thought”. “The mystifying side of Hegelian dialectic I
criticised nearly thirty years ago, at a time when it was still the fashion”. (Các
Mác, London, 24 tháng giêng, 1873).
“Dans son fondement, ma méthode
dialectique n'est pas seulement différente de celle de Hegel, elle est son contraire
direct. Pour Hegel, le procès de la pensée, dont il va j usqu'à faire sous le
nom d ' Idée un sujet autonome, est le démiurge du réel, qui n 'en constitue
que la manifestation extérieure. Chez moi, à l 'inverse, l 'idéel n'est rien
d'autre que le matériel transposé et traduit dans la tête de l'homme.
J'ai critiqué le côté mysti ficateur de
la dialectique hégélienne. Il y a près de 30 ans, à une époque où elle était
encore à la mode”. “La mystification que la dialectique subit entre les mains
de Hegel n'empêche aucunement qu'il ait été le premier à en exposer les formes
générales de movement de façon globale et consciente. Chez lui elle est sur la
tête. Il faut la retourner pour découvrir le noyau rationnel sous l 'enveloppe
mystique”. Dans sa forme mystifiée, la dialectique devint une mode allemande,
parce qu 'elle semblait glorifier l ' état de choses existant”.
Tức Mác
cho rằng phương pháp biện chứng luận (dialectics, dialectique) của Hegel có cái
hữu lý trong bản thân thuần lý hợp lý của nó. Nhưng nó trừu tượng và thần bí, bởi
vậy phải đảo ngược nó lại, bởi nó như tuyên dương cái thực tại nơi thế giới sự
vật. Bởi chúng ta biết Hegel từng nói “ái gì hữu lý thì tồn tại, cái gì tồn tại
là hữu lý”. Điều này theo Mác chẳng khác gì Hegel thỏa hiệp với các tình trạng
thế giới hiện có. Mác chống lại điều đó, bởi Mác muốn thảy đổi thế giới thực tại,
muốn làm cách mạng.
Cách bám víu của Mác trong trình bày nội dung
Tư bản luận là xây dựng trên nền tảng biện chứng, Mác cho đây là khoa học tuyệt
đối, nhưng điều này cho thấy là hoàn toàn không tương thích. Chủ yếu của biện
chứng luận là dựa vào sự suy đoán từ bên trong (deduction), không phải là
phương pháp thực nghiệm đi vào sự quy nạp dữ liệu từ bên ngoài (induction). Điều
này hoàn toàn không thực tiển hay thậm chí ngược ngạo đối với khoa kinh tế
chính trị học, nên khiến không khách quan và kết luận có thể bị dẫn dắt, ức chế,
thổi phồng, không thể còn hoàn toàn khoa học được. Nói khác đi kiểu khoa học
này của Mác là kiểu khoa học chủ quan, có ý đồ và có mục đích thiết kế trước. Sự
chứng minh ở đây là sự chứng minh kiểu nhằm quy nạp, không phải cách chứng minh
nhằm mục đích hoàn toàn phân tích (Analytical, Analytique).
Bởi vậy những
trang những chữ như đã thấy tuy rất nhiều, rất đồ sộ và phức tạp tự trong lòng
nó, nhưng các tính chất và kết quả đúc kết các quy luật khách quan thật sự thì
thật ra chẳng có bao nhiêu. Nói khác đi, phần lớn ý thức của Mác là nhằm ngụy
biện, nhằm lèo lái kết quả đúc kết hay kết luận rút ra là theo tiên kiến của
mình, không phải phân tích và kết luận khoa học theo kiểu hoàn toàn khách quan
vô tư. Mác đưa ra nhiều công thức chứng minh về lưu thông hàng hóa, tiền tệ,
giá trị, giá trị thặng dư các loại, sự tích lúy tữ bản và lưu thông tư bản,
nhưng tất cả đều nhằm gò vào, diễn ra theo các mục tiêu ý hướng cố định tiền chế
như đã biết. Thậm chí có những công thức rất đơn giản về mặt kinh tế học hay
thường nghiệm, thế nhưng Mác lại nhấn mạnh, đào sâu, tỏ vẽ như thập phần quan
trọng quyết định có mục tiêu lý thuân của mình như tiền đẻ ra tiền, hàng hóa đẻ
ra tiền và ngược lại v.v… Những điều này thật ra hoàn toàn giản dị, sơ lược, mà
trong kinh tế học cũng như đời sống hằng ngày ai cũng có thể biết hay chứng mị
ra được.
Thế nhưng Tư bản
luận đã trở thành kiểu tài liệu kinh thánh, hoàn toàn cứng nhắc, những người chấp
nhận chủ nghĩa Mác không bao giờ hay không dám đi ra ngoài, phải tuyệt đối tôn
trọng mọi phần, từng câu, từng chữ, từng ý, không bao giờ du di chút nào hay
không hề đám suy nghĩ, nhận xét khác đi. Nó đã trở thành như một thứ thánh thư,
chỉ có tin vào một chiều, không hề đi đến một sự phân tích, nhận định, kết luận
nào khác. Tinh thần cuồng tín, mê tín như vậy ở đây đã thể hiện rất rõ, đã gần
suốt trăm năm nhưng chẳng ai dám phê phán theo một hướng nào khác. Nếu vậy liệu
nó có còn là một khuynh hướng khoa học, một ý nghĩa giá trị khoa học của một
tác phẩm khoa học được không thì ai cũng có thể hiểu ra được. Tức nó trở thành
một đức tin, một niềm tin theo kiểu tôn giáo, kiểu chỉ nam chính trị mà không
còn là tác phẩm khoa học sâu sắc, khách quan hay đầy đủ một chút nào hết.
Bởi vậy thật ra
ngày nay không ai còn đủ kiên nhẫn hay hứng thú để đọc lại toàn bộ nó nữa, trừ
những người làm công tác tuyên truyền chính trị. Tại vì đọc vào người ta dễ
dàng thấy những nội dung nông cạn, nhàm chán, một chiều, những kết luận đi trước
tiền đề thật sự chỉ nhằm mang tính không tưởng, không còn có gì thiết thực, cụ
thể được nữa. Vả lại đối tượng Mác phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ
rất còn sơ khai, vào đầu thế kỷ 19, đến bây giờ hoàn toàn không còn đơn giản, đầy
đủ, trung thực như khi đó nữa. Từ đó đến nay có biết bao những định chế bổ sung
về thị trường, nội bộ cũng như quốc tế, biết bao các cơ chế bổ sung vào về mọi
loại như tiền tệ, hàng hóa, giá trị, phân công lao động, giao thương quốc tế
v.v… Ngay cả tư bản máy móc công nghệ cũng hoàn toàn mới mẽ, có những dây chuyền
sản xuất và vào thời đại của Mác nó hoàn toàn chưa có, chưa xuất hiện hay đưa
vào vận dụng.
Điều đó chẳng
khác gì Mác mô tả cái cây đang còn mới lớn, chưa trưởng thành, cứng cáp, chưa
phát triển đầy đủ già giặn, để đưa ra các quy luật về sau hay hoàn toàn bất biến
của nó. Như vậy cũng chẳng khác gì phản biện chứng trong phương pháp phân tích
và kết luận, rất dễ dàng xa thực tế và thành lỏng, lac lòi khỏng nhiều mặt. Và
lý do không thể trách khỏi ở đây về mặt đầy tính giáo điều đó là Mác vừa chủ
trương cơ chế độc tài (dictatorship), vừa chủ trương tuyệt đối hóa giai cấp vô
sản ban đầu khi đó mà không đếm xìa đến hay quên đi bản chất muôn thuở của con
người nói chung trong toàn lịch sử xã hội. Chỉ hai việc đó thôi đã khiến đi tới
nhiều sự kiện mù quáng, lạc hậu, chậm lụt và không còn thích ứng với xã hội
luôn luôn phát triển và đi lên được nữa.
Tư bản luận do vậy
thực tế không còn là tác phẩm kinh tế hay kinh tế xã hội kiểu khách quan
(political economy) mà đã trở thành hoàn toàn là tác phẩm giáo điều hay tác phẩm
kiểu ý thức hệ (ideological) không hơn không kém. Bởi khoa học đúng ra phải xây
dựng trên mọi cái thực tiển có trước, như yếu tố con người khách quan, xã hội
khách quan, lịch sử khách quan. Nhưng cái đó bao giờ cũng có, thời nào cũng có.
Mác chỉ chăm chút duy nhất vào một điều hay nguyên lý đấu tranh giai cấp trong
xã hội. Thành ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội kiểu Mác quan
niệm hoàn toàn không có thực chất, không có thực tiển nào cả. Nó giống như một
sự tưởng tượng không tưởng, không dựa trên cơ sở khoa học khách quan nào mà chỉ
đầy cảm tính, thị hiếu, chủ quan thì làm sao không hão huyền và làm sao để kết
quả thành công được. Kiểu như mọi cái mơ mộng cho dù có tốt bao nhiêu nhưng
không thực tế hay được thổi phồng, cho là thực tế, thì thực chất cũng không bao
giờ có kết quả hay dẫn được tới đâu cả.
Ngay đến cái cốt
lõi là “phương pháp biện chứng” được đưa vào áp dụng phân tích, nhận định, kết
luận của Mác thì thực ra thực chất của nó như thế nào ? Đúng là đây không hề là
phương pháp khoa học hoàn toàn thực tế hay thật sự thực nghiệm. Đó chỉ là sự suy đoán diễn dịch hoàn toàn trừu
tượng, chỉ mang tính chất triết học tư biện mà hoàn toàn không phải phương pháp
thực nghiệm cụ thể. Người ta chỉ có thể tư duy về nó mà không bao giờ chứng
minh kiểu khoa học hay làm thực chứng khoa học. Vậy mà Mác tâm đắc, tuyệt đối
hóa phương pháp này theo nghĩa khoa học thì thực chất là hoàn toàn phi khoa học,
phản khoa học trong mọi ý nghĩa thực tiển và cụ thể. Nói khác đi Mác vẫn phần
nào hay cơ bản không thoát ra khỏi sự cuồng tín mê muội đối với Hegel. Có điều
trong tâm tâm sâu thẩm là như thế nhưng bề ngoài Mác ngụy biện hay tự hào nông
cạn mình hoàn toàn đối ngược lại với người tiền bối hay chính ông thầy của
mình. Đó chỉ là Hegel là nhà triết học duy tâm, cho tinh thần, ý thức là cái quyết
định trước nhất, quyết định cả vật chất. Còn Mác trái lại là một người tư tưởng
duy vật, hoàn toàn đối chọi lại về mặt quan niệm thế thôi. Bởi vậy Mác cho răng
phương pháp biện chứng của Hegel là phương pháp biện chứng duy tâm, còn phương
pháp biện chứng của Mác là phương pháp biện chứng duy vật.
Mác bảo không phải
như Hegel cho rằng tinh thần, ý tưởng phát xuất từ não bộ con người, Mác ngược
lại cho rằng tất cả chỉ là vật chất thuần túy, tuyệt đối tất cả. Não bộ con người
chẳng qua cũng là vật chất, hay đúng hơn là bộ máy vật chất. Chính thực tại thế
giới bên ngoài cụ thể thực tế phản ảnh vào trong óc nào mà tạo ra tư tưởng, ý
tưởng chúng ta có mà không là gì khác.
Thật ra Mác chỉ nói một chiều mà
không chứng minh được nguyên lý phản xạ, phản chiếu gương ở đây là gì. Nếu
không có nội dung của tư duy ý thức, ý tưởng có trước, thì mọi phản xạ từ ngoài
vào liệu có mang kết quả gì, đó vẫn là điều Mác lờ đi hay không cần đếm xỉa.
Hay thử láy một tấm kiếng và cho phản chiếu mọi hình ảnh từ ngoài vào, có bao giờ
tấm kiếng đó biết nhận thức về sự vật hay không ? Đó là điều mà Mác không hề ngờ
tới. Cho nên phương pháp biện chứng luận duy vật của Mác thực chất chỉ hoàn
toàn nông cạn, ấu trĩ, thiển cận nhưng Mác lại tự nhận là khoa học thì thật sự
Mác chẳng quan tâm khoa học đích thực và sâu sắc là gì. Quan niệm của Mác chỉ
là quan niệm cảm tính, nửa mùa, nửa chừng xuân mà không thật sự rốt ráo hay sâu
sắc, đầy đủ gì về mặt khoa học và triết học chút nào cả. Rõ ràng Mác chỉ dùng định
kiến mà sử sự, đặt cái cày trước con trâu mà không phải khách quan làm ngược lại.
Nên tuy dầu Mác cho Hegel là huyền bí (mystification) trong phương pháp luận
thuần túy duy tâm của mình, thật ra phương pháp biện chứng luận duy vật của Mác
cũng huyền bí theo kiểu mặt khác không kém. Bởi kiểu chỉ đều thị hiếu, sở
thích, ngỡ như vậy là đúng, nhưng khách quan chưa hẳn đã tuyệt đối đúng. Hay đó
chỉ vẫn là duy cảm tính nhưng theo kiểu tự mãn, trá hình mà thôi.
Thành ra phương pháp biện chứng
luận như Hegel đưa ra kiểu tiền đề, phản đề, kết luân, hay phủ định của phủ định
liên tiếp nối đuôi nhau, dù duy tâm hay duy vật, cũng chẳng mang phương pháp luận
khoa học gì rạch rồi, cụ thể, khách quan có thể chứng minh được đầy đủ nào cả.
Đó chẳng qua chỉ là sự ức đoán, sự định kiến, sự tư biện theo kiểu hoàn toàn trừu
tượng, chẳng có gì là phương pháp cụ thể khoa học cả. Vậy mà Mác lại hoàn toàn mê
đắm và tin chắc vào điều đó. Đến nỗi Mác cho mọi lý thuyết cộng sản trước hay đồng
thời với ông đều là các thuyết cộng sản không tưởng, không thể thực hiện được
vì không hề đặt vững vàng trên nền tảng khách quan khoa học. Trong khi đó chính
Mác tự cho học thuyết cộng sản của ông ta mới là học thuyết cộng sản khoa học bởi
vì nó được xây dựng trên biện chứng luận duy vật tuyệt đối khách quan khoa học.
Như vậy rõ ràng Mác luôn luôn có định kiến bất biến về tính khoa học chắc chắn
của biện chứng luận, trong khi đó thực sự chính bản thân nó lại chỉ mơ hồ, chẳng
có cơ sở cụ thể thiết yếu nào cả.
Thật ra tư bản do đâu mà có ? Tư
bản là sản phẩm của toàn xã hội. Nó phát triển qua lịch sử tích lũy nhiều mặt
và cuối cùng xuất hiện trong xã hội kỹ thuật phát triển. Các xã hội cổ xưa chưa
có tư bản đúng nghĩa hay tư bản đã được định hình rõ rệt. Nó là tiến trình tích
lũy kinh tế và khoa học kỹ thuật của xã hội xuất hiện ở giai đoạn cao hơn. Càng
ngày nó càng được định hình vào nguồn tài chính và máy móc công nghiệp mà xã hội
đang có. Nó trở thành công cụ đầu tư không thể thiếu để sản xuất kinh tế và lưu
thông phân phối trao đổi thương mại trong toàn xã hội. Nền tảng hiệu quả cúa nó
là nền tảng tư hữu, bởi vì nó phải đi liền với quản lý và phát triển kinh tế xã
hội mọi mặt. Nó tiến triển và định hình phát triển qua mỗi thời đại. Nguồn gốc
của nó là lao động và máy móc kỹ thuật. Lao động mọi loại, từ giản đơn đến trí
tuệ và được cụ thể hóa ra trong tài chánh tiền tệ, song mục đích cuối cùng của
nó vẫn là xã hội, tạo nên mọi đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cho toàn bộ
xã hội nói chung. Mọi sáng kiến tư nhân
và mọi năng lực trí tuệ chính là cái cốt lõi của tư bản, và chính giai tầng
tinh hoa của xã hội tham gia vào việc tạo ra và điều động tư bản trong mọi
phương diện không nhất thiết phải là thành phần giai cấp vô sản mà Mác quan niệm.
Tính cách mê tín huyễn hoặc của Mác về đấu tranh giai cấp và về ý nghĩa của
giai cấp chính là ở đây.
Bộ Tư bản
luận của Mác nói chung chỉ nhằm cơ sở có thế. Nó chỉ lồng ghép vào phương pháp
biện chứng luận và đấu tranh giai cấp mà Mác viết ra, mọi nguồn gốc và mục tiêu
của nó chỉ được viện dẫn là vậy. Nó thực chất không nhằm vào việc phân tích
khách quan các sự kiện đời sống cá nhân con người và xã hội thật đầy đủ về mọi
khía cạnh kinh tế xã hội và lịch sử, mà thực ra cốt cố ý chỉ nhằm trích đoạn,
làm sao cho phù hợp theo mục tiêu, thị hiếu đã có sẳn, đã được tiền chế của
mình. Thế làm sao được bao quát, đầy đủ, bất biến theo thời gian, hay có thể áp
dụng được mãi, mà không thành lạc hậu, lõi thời cho được. Ngay chính tựa đề của
bộ sách đã nói rõ lên tất cả điều đó. Luận về tư bản, nhưng Mác không nhìn tư bản
như công cụ khách quan hữu hiệu của hoạt động kinh tế xã hội. Mác chỉ nhìn đó
như công cụ bóc lột phi lý, phi nhân, cần phải đẹp bỏ để nhằm đi đến xã hội vô
sản, lao động sản xuất trực tiếp trao đổi sản phẩm làm ra với nhau trong xã hội
con người, không thông qua tư bản, thị trường, tiền tệ, hàng hóa, mà Mác cho là
cuộc cách mạng vô sản không tiền khoáng hậu của lịch sử nhân loại. Mục đích
chung cuối cùng của Bộ Tư bản luận của Mác là vậy, nó trở thành thánh thư của đấu
tranh giai cấp là vậy, nó trở thành mục tiêu tối hậu của giai cấp vô sản là vật.
Trong nội dung toàn bộ suốt ba Tập của nó, và ngay cả tựa đề đều nói lên điều
đó. Đây chẳng hề là một tác phẩm khoa học (scientific, scientifique ) cụ thể mà
chỉ là một tác phẩm về ý thức hệ (ideological, idéologique) chính trị, cho dù
niềm tin ngay trong bản thân Mác, hay là danh nghĩa nêu ra cho được thập phần hấp
dẫn, Mác và Ănghen vẫn luôn tự nhận đây mới là tác phẩm tuyệt đối khoa học về lịch
sử và xã hội cho mọi thời đại chính là như thế. Chỉ vì một giai cấp thất thế tạm
thời mà làm huyễn tưởng cả một xã hội trong lâu dài phải bị thất thế về mọi mặt,
vậy Mác có phải là người thực tế, lý tưởng, sáng suốt và khôn ngoan hay chỉ
hoàn toàn vụng dại.
By VÕ
HƯNG THANH
(21/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét