Thứ Năm, 12 tháng 8, 2021

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC DUY VẬT CỦA LÊNIN QUA TÁC PHẨM  “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA PHÊ PHÁN THỰC NGHIỆM” (“MATERIALISM AND EMPIRIO-CRITICISM”)

 

Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa phê phán thực nghiệm” (Materialism and Empirio-criticism, Matérialisme et Empiriocriticisme) là tác phẩm quan trọng nhất của Lênin về quan điểm duy vật của ông ta, bởi nó chứa đựng sự phê phán mọi quan điểm duy vật hay duy tâm khác nhau của nhiều nhà triết học Tây Âu như Pháp, Anh, Đức, và Nga đương thời, khi ấy, để nhằm khẳng định ý nghĩa, nội dung và mục đích lý thuyết triết học duy vật từ Mác, Engels, của chính mình.

Cuốn sách quan trọng đặc biệt này coi như định hình quan điểm triết học duy vật của Lênin cho toàn bộ nền tảng tư tưởng của ông ta, nó được dịch ra 20 ngôn ngữ khác nhau, xem như là bộ phận của chủ thuyết Mác Lê sau này, nên ngày nay những ai nghiên cứu về triết học Mác, Engels không thể không nói tới. Nó từ nguyên tác tiếng Nga, và hai bản dịch được trưng dẫn ở đây là bản tiếng Anh và tiếng Pháp là hai ngôn ngữ phổ biến nhất.

Trong bản dịch tiếng Anh gồm có phần dịch lời đề tựa cho lần xuất bản thứ nhất, lần xuất bản thứ hai, và phần dẫn nhập tổng quat. Tiếp theo là sáu Chương, mỗi chương đều có phần ghi chú (footnote), và cuối cùng là phần kết luận cũng như vậy. Toàn bộ gần 300 trang, tức cũng là một tác phẩm có chiều dài, nhưng tựu trung trong đó chủ yếu là phê phán mọi quan điểm triết học đương thời khác, với nhiều nhà tư tưởng mọi loại chính yếu (mà Lênin gọi chung là empirio-criticism) để nhằm đưa về quan điểm duy vật đích thật nhất của Lênin. Tất nhiên, bao quát quan trọng nhất ở đây chính là phần mở đầu, Chương I, và phần Kết luận của tác phẩm, các phần khác chỉ nhằm phân tích, quảng diễn ra thêm các nội dung chủ yếu trong đó mà thôi. Nên đây tuy là tác phẩm có chiều dài nhưng vẫn có thể dễ dàng thấy ra được các ý hướng cốt lõi nổi bật.

Như khi nói về nhận thức cảm giác, trong đó Lênin viết “If colour is a sensation only depending upon the retina (as natural science compels you to admit), then light rays, falling upon the retina, produce the sensation of colour. This means that outside us, independently of us and of our minds, there exists a movement of matter, let us say of ether waves of a definite length and of a definite velocity, which, acting upon the retina, produce in man the sensation of a particular colour. This is precisely how natural science regards it. It explains the sensations of various colours by the various lengths of light-waves existing outside the human retina, outside man and independently of him. This is materialism: matter acting upon our sense-organs produces sensation. Sensation depends on the brain, nerves, retina, etc., i.e., on matter organised in a definite way. The existence of matter does not depend on sensation. Matter is primary. Sensation, thought, consciousness are the supreme product of matter organised in a particular way. Such are the views of materialism in general, and of Marx and Engels in particular.” [Chapter 1.2]. (“Nếu màu sắc là một cảm giác chỉ phụ thuộc vào võng mạc (như khoa học tự nhiên bắt ta phải thừa nhận), vậy thì những tia ánh sang khi chiếu lên trên võng mạc, chúng tạo nên cảm giác về màu sắc. Điều đó có nghĩa chúng ở ngoài chúng ta, độc lập với chúng ta và tinh thần chúng ta, kiểu như một sự vận động của vật chất, khiến chúng ta có thể nói như những sóng của ê-te với độ dài và vận tốc xác định tác động lên võng mạc chúng ta, tạo nên trong con người cảm giác về một màu sắc riêng biệt. Đó là điều hoàn toàn được khoa học tự nhiên thừa nhận, Nó cắt nghĩa những cảm giác về các màu sắc khác nhau là bởi chiều dài của những sóng ánh sáng khác nhau ở bên ngoài võng mạc chúng ta, bên ngoài con người và độc lập với nó. Đó là quan điểm duy vật : vật chất tác động lên các cơ quan cảm giác tạo ra những cảm giác. Cảm giác phụ thuộc vào óc não, thần kinh, võng mạc v.v… vào vật chất hữu cơ được cấu tạo theo một cách xác định nào đó. Sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác. Vật chất là cái có đầu tiên nhất. Cảm giác, tư tưởng, ý thức đều là sản phẩm cao nhất của vật chất hữu cơ theo một cách đặc thù. Đó chính là quan điểm của chủ nghĩa duy vật nói chung, và của Mác và Engels nói riêng”).

Và sau đây là vài đoạn trong bản dịch qua tiếng Pháp để đối chiếu : “les rayons lumineux procurent, en atteignant la rétine, la sensation de couleur. C'est dire qu'en dehors de nous, indépendamment de nous et de notre conscience, il existe des mouvements de la matière, disons des ondes d'éther d'une longueur et d'une vitesse déterminées, qui, agissant sur la rétine, procurent à l'homme la sensation de telle ou telle couleur. Tel est le point de vue des sciences de la nature. Elles expliquent les différentes sensations de telle couleur par la longueur différente des ondes lumineuses existant en dehors de la rétine humaine, en dehors de l'homme et indépendamment de lui. Et c'est là la conception matérialiste : la matière suscite la sensation en agissant sur nos organes des sens. La sensation dépend du cerveau, des nerfs, de la rétine, etc., c'est‑à‑dire de la matière organisée de façon déterminée. L'existence de la matière ne dépend pas des sensations. La matière est le primordial. La sensation, la pensée, la conscience sont les produits les plus élevés de la matière organisée d'une certaine façon. Telles sont les vues du matérialisme en général et de Marx et Engels en particulier”.

Hình thức hai cách dịch gần như nhau, nhưng đều toát lên cùng nội dung. Và đoạn văn này có thể cho là tóm lược đầy đủ, trọn vẹn nhất quan điểm duy vật của Lenein không ra ngoài quan điểm của Engels và Mác. Giống như quan điểm sau này của Trần Đức Thảo cũng chỉ có thế. Tức quan điểm duy vật là bao trùm duy nhất và trọn vẹn nhất. Vật chất là cái tiên khởi nhất. Vật chất đó hoàn toàn vô cơ, nó tạo nên thân xác chúng ta, mọi con người, chẳng qua cũng là thứ vật chất hữu cơ. Trong vật chất hữu cơ này có óc não, thần kinh, võng mạc v.v… Khi ánh sáng từ ngoài vào tác động lên võng mạc mắt ta, các tầng số khác nhau của ánh sáng tạo ra cảm giác trên võng mô, cũng như tư tưởng, ý thức đều là những sản phẩm cao nhất về sau này theo một cách nào đó của vật chất có tổ chức nơi não bộ mà ngoài ra không là gì hết. Đó đều quan điểm học thuyết duy vật nói chung của Mác, Engels, và Lênin.

Có điều qua đó ta dễ dàng thấy chỉ đều là sự mô tả theo nguyên lý nhân quả (descriptive causality) mà không có gì giải thích xa hơn về chiều sâu về mặt khoa học hay triết học một cách rốt ráo cả. Tức chỉ là một sự nhận xét, đoán nhận bề ngoài, một khái niệm thuần nghiệm (empirical) dựa trên khoa học thực nghiệm một cách đơn giản và đi đến kết luận. Nó có thể nhìn đúng đó theo cách cảm quan tối giản nhất định, nhưng như vẫn còn thiêu thiếu cái gì đó. Bởi đây chỉ vẫn là quan điểm cơ giới máy móc về bản thân chuyển động, vận động của vật chất khách quan một cách thuần túy, chưa moi ra chút nào cái gì bên trong quyết định, cái gì tạo thành cảm giác, cái gì là nguyên lý hay động cơ làm nền trong đó. Ở đây tôi muốn nói đến tính chủ thể (subjectivité, subjectivity, Subjektivität). Đây là cốt lõi của quan điểm lý thuyết thanism, thanisme, Thanismus, mà trong bài trước tôi đã đề cập đến.

Bởi vì nói cho cùng, vật chất dầu sao cũng chỉ là kiểu bản thể (substance), vật thể, chất thể (materialité), cho dầu nó khách quan, bao quát, hay toàn bộ đến đâu chăng nữa, nó cũng không bao giờ là chủ thể hay có tính chất chủ thể tính trong đó hay trong bản thân nó. Thế thì ánh sáng tác động lên võng mạc, hay vật chất vô cơ tác động lên vật chất hữu cơ sinh học là đúng, nhưng cho từ đó mà phát sinh ra cảm giác hay sản sinh được ra cảm giác (sensation) hoặc có sự nhận thức được cảm giác quả thật chỉ nói bừa, nói theo cảm tính bên ngoài đơn giản, chưa có gì sâu xa, toàn vẹn, hay đầy đủ cả.

Có nghĩa sự sống (vitalité) vẫn là cái gì đó khác hơn vật chất hữu cơ (matière organique), chưa nói là vật chất thuần túy (matière inorganique), còn đừng nói đến ý thức, tinh thần, đều là dạng trừu tượng phi vật thể (immaterialité). Một tế bào, một sinh vật nào đó chết đi, lúc đó không còn sự sống, nhưng tạm thời vẫn còn là thân xác không có sự sống, vẫn còn là vật chất hữu cơ, cho đến khi hoàn toàn hủy hoại. Sự khác nhau giữa vật chất thuần, vật chất hữu cơ, sự sống, và ý thức tinh thần chính là hoàn toàn ở đó. Đây mới là chìa khóa cốt lõi của vấn đề mà cả Mác, Engels, Lênin đều chưa hề động đến hay cố tình không muốn động đến. Nói cách khác, họ chỉ có ý hướng về cảm tính, về thị hiếu, tức nhằm về một chủ ý hay sở thích chủ quan nào đó mà không quan tâm đến kỳ cùng mọi ý nghĩa mọi vấn để triết học và khoa học gồm chứa trong đó. Triết học và khoa học kiểu đó như vậy vẫn còn kiểu nửa nạc nửa mỡ, nữa chừng xuân, chưa thể nào gọi là tuyệt đối đầy đủ, hội đủ được.

Trong khi vấn đề vẫn còn gát lại như thế, Lênin viết tiếp phần sau “ : “La matière agissant sur les organes de nos sens suscite des sensations. Engels y voit cette différence essentielle : pour les matérialistes, la nature est première, et l'esprit second. Le matérialiste Friedrich Engels, collaborateur bien connu de Marx et fondateur du marxisme, parle constamment et sans exception dans ses œuvres des choses et de leurs reproductions ou reflets dans la pensée (Gedanken‑Abbilder), ces images mentales n'ayant, cela va de soi, d'autre origine que les sensations”.

Hoặc “Thus, the materialist theory, the theory of the reflection of objects by our mind, is here presented with absolute clarity: things exist outside us. Our perceptions and ideas are their images. Verification of these images, differentiation between true and false images, is given by practice” (Như vậy, thuyết duy vật coi như có sự phản ảnh của các sự vật vào trong tinh thần của chúng ta, được trình bày ở đây một cách minh bạch, là có các sự vật ở bên ngoài chúng ta. Những nhận thức và ý tưởng của chúng ta đều là các hình ảnh của chúng. Chúng ta phân biệt được các hình ảnh đó đúng hay sai, là do qua sự thực hành”).

Có nghĩa, “chỉ có vật chất tác động lên ngũ quan của chúng ta, tạo thành ra cảm giác. Engels phân biệt ở đây, sự khác nhau cốt yếu giữa duy tâm và duy vật. Duy vật coi thiên nhiên là cái trước còn tinh thần là cái đến sau. Mác và Engels, những người lập ra học thuyết Mác xít đều chủ trương thường xuyên và tuyệt đối xuyên suốt trong mọi tác phẩm của họ rằng chỉ có các sự vật và sản phẩm của chúng hay là sự phản ảnh trong tư tưởng (Gedanken-Abbilder). Và dĩ nhiên những hình ảnh có trong trí óc đều có nguồn gốc từ sự phản ảnh đó hay là các cảm giác”. Rõ ràng cho thấy những người Mác xít khởi đi như những người duy cảm giác, cho cảm giác đều những dữ liệu trước nhất. Nhưng đồng thời họ cũng vượt qua đó, coi các cảm giác cũng chỉ là vật chất, và chỉ có vật chất là tồn tại duy nhất trong mọi loại dạng của nó, trong đó có cảm giác. Từ đây cũng biến chuyển hay phản ánh ra mọi cái khác như tinh thần, ý thức, tư tưởng …  

Hay đó đều là những cái Gedanken‑Abbilder (tiếng Đức), có nghĩa là những hình ảnh (Abbilder) về sau của ý thức tâm lý (mental, mentalité), và tư tưởng (Gedanken), cũng chẳng qua sự hòa trộn cùng phản ảnh thế giới bên ngoài trong óc não do từ ngoại giới (le monde extérieur). Đây chính là kiểu lý thuyết phản ảnh gương (mirroir refèlete)  mà về sau tạo thành cái được gọi là thượng tầng kiến trúc (superstucture) nằm trên nền tảng của hạ tầng cơ sở (substructure) đó là toàn bộ các thực tại kinh tế xã hội biến chuyển của từng thời đại như các hình thái xã hội đã có. Đó là lý luận mà Mác và Engels cho rằng mọi hình thái ý thức hệ như tôn giáo, triết học, chính trị, văn hóa, nghệ thuật v.v… tức là mọi tính chất tinh thần, chẳng qua đều là các bản tính vật chất biến chuyển, phản ánh ra, mà khởi sự đầu tiền đều là các cảm giác được đưa vào từ đường các cảm giác, các nhận thức giác quan.

Lênin bổ sung thêm, trong tác phẩm Chống- Dühring (l'Anti‑Dühring) của Engels cũng viết « ...les choses et leurs reflets dans la pensée ... ». “la sensation comme une des propriétés de la matière en movement”. “Le cerveau sécrète la pensée comme le foie sécrète la bile”. “Pour tout matérialiste, la sensation est en effet le lien direct de la conscience avec le monde extérieur, la transformation de l'énergie de l'excitation extérieure en un fait de conscience. les liaisons des éléments physiques et des éléments psychiques ne peuvent exister séparément; elles ne peuvent exister qu'ensemble;

affirmer qu'on ne peut faire abstraction de l'une de ces liaisons que momentanément”.

Tức          “… những sự vật và phản ánh của chúng trong tư tưởng…”. “cảm giác như một trong những đặc điểm của vật chất đang vận động”. “Não bộ tiết ra tư tưởng như gan tiết ra mật”. “Dối với mọi nhà duy vật, cảm giác đích thị là cầu nối trực tiếp của ý thức và thế giới bên ngoài, sự biến đổi của năng lượng nơi kích thích bên ngoài thành một thực tế ý thức. Những cầu nối của các yếu tố vật lý với các yếu tố tâm lý không thể tồn tại tách rời nhau; chúng chỉ có thể có đồng thời; có nghĩa người ta chỉ có thể tách biệt các mối quan hệ chúng ra trong tính cách chốc lát tạm thời”. Nhưng dù gì đi nữa, đó cũng chẳng qua đều các tính cách vật chất thuần túy tương tác hay nối kết giữa nhau vậy thôi. Nhưng tại sao hay yếu tố nào quyết định làm cho ý thức nhận thức các cảm giác được xuất hiện, điều đó các nhà kinh điển Mác xít từ Mác đến Lênin đều không hề nói tới.

Nói khác đi, quan điểm duy vật thuần túy của Mác ban sơ chỉ là quan điểm vô thần chống lại mọi hình thức tôn giáo, và chống luôn cả mọi điều duy tâm không công nhận chỉ có thần túy duy nhất vật chất thế thôi. Đây chỉ là khuynh hướng chống đối tiêu cực, mà Mác không bao giờ đi sâu, đi xa hơn nữa. Thuyết duy vật từ Mác, Engels đến Lênin như trình bày trên đều chỉ có tính cách suy đoán một chiều, không khi nào đặt vấn đề gì ngược lại. Nhưng nó đã trở thành giáo điều tuyệt đối mãi mãi về sau này, chẳng ai dám vượt ra ngoài cái đó cả, trong đó kể cả Trần Đức Thảo như mọi người đã biết. Điều đó về mặt khoa học và mặt triết học rốt ráo đều không thể chấp nhận được, bởi vì nó chỉ mang tính quá khích, độc đoán, kể cả hạn hẹp và bỏ lững.

Bởi như trong bài viết trước tôi đã nói, vật chất thuần túy, dầu xét dưới bất kỳ trường hợp hay khía cạnh nào đều chỉ có thể vô tri vô thức. Chúng chỉ là vật thể hay chất thể tồn tại, chúng không bao giờ là sự sống hay có ý thức chút nào cả. Điều này hoàn toàn khác với sự sống nơi mọi loài sinh vật, hoặc đã có ý hướng hay ý thức tùy theo mỗi cấp độ. Con vi rút hay vi khuẩn hoặc dạng tế bào ở mức độ sự sống thấp nhất vẫn hoàn toàn khác với vật chất vô tri. Tức chúng có thể có sự nhận biết hay ý hướng tính nào đó tự nó theo cách nào đó không thể phủ nhận. Điều này càng khác với các sinh vật đa bào bậc thấp và đa bào bậc cao mà chóp đỉnh là loài linh trưởng và đỉnh cao nhất là con người có tinh thần, tư duy và lý trí. Cũng có nghĩa quan điểm duy vật Mác xít chỉ là quan điểm duy vật quá đơn giản và tầm thường, không đáp ứng được nhu cầu hiểu biết cao nhất và chính đáng nhất của con người.

Vả chăng phản ứng gương là gì. Đó cũng chỉ là phản xạ vật chất tự nhiên, thụ động, đơn giản nhất. Như phản xạ ánh sáng trên mặt nước, trên gương, hay trên bề mặt nào khác. Đó cũng chẳng khác nào phản xạ âm thanh mọi loại mà ai cũng biết. Phản xạ các sóng điện từ mọi loại nói chung là như thế. Khi ánh sáng đập vào võng mô, chẳng khác nào khi âm thanh đập vào màng nhĩ, hoặc đặc điểm hóa học, vật lý, sinh học của chất liệu vật chất nào đó vào đi vào các vị trí cảm thụ cảm giác của thân xác ta. Năm giác quan của chúng ta đều có cùng nguyên lý hay khả năng tiếp nhận như thế.

Nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần, chưa bao giờ hay không bao giờ là điều kiện đủ. Một sinh vật chết rồi thì các bộ phận tiếp nhận cảm giác của chúng đều không còn hoạt động được nữa, mặc dầu các hiện tượng tiếp cận đã nói đều vẫn cứ xảy ra. Vậy cái gì quyết định cho cảm giác xảy ra ở đây, đó chính là ý thức hoạt động. Ý thức chính là hình thức chủ thể tiếp nhận mọi dữ liệu đưa đến. Thần kinh, não bộ không còn hoạt động thì mọi dữ liệu tác động bên ngoài đưa tới cũng chẳng để làm gì. Chúng vẫn không bao giờ đạt đến hay vượt qua được ngưỡng của khả năng ý thức nhận biết. Nói khác đi, chủ thể tính mới là điều quyết định nhất. Chủ thể tính được hình thành ngay từ sự sống ban đầu, trải qua lịch sử cá nhân và đồng loại mới thành năng lực về sau cho ra hay tiếp nhận cảm giác, mà không chỉ thuần túy là bản thân riêng biệt của cảm giác.

Cũng từ đó, khái niệm thuần túy kiểu phản ứng gương như hạ tầng cơ sở tạo nên thượng tầng kiến trúc thực chất chỉ là sự mô phỏng, ức đoán tưởng tượng. Nó thực sự chỉ là sự phỏng đoán mà chưa bao giờ và khó thể nào được chứng minh hay minh chứng cụ thể cả. Thuyết duy vật lịch sử của Mác chỉ là sự chồng chất lên, sự chồng lầu lên từ trên nền tảng thuyết duy vật nói chung và thuyết duy vật biện chứng nói riêng mà không là gì khác.

Nên chỉ cần một khâu lỏng lẽo thì các khâu khác cũng như thế không có gì thay đổi. Kinh tế là hoạt động sản xuất bảo đảm tạo thành sinh hoạt đời sống của nhân loại. Nó chủ yếu qua hoạt động tư duy nhận thức và qua quá trình phát huy phát triển kỹ thuật, công nghệ của loài người. Hoạt động ở đây phải là hoạt động khoa học mọi loại, mọi mặt mới đem lại hiệu quả, thành quả. Sự tương tác giữa hai phía vật chất và tinh thần, hay hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc nếu có chỉ là sự tác động qua lại, không phải tuyệt đối và thuần túy là tác động mang tính sáng tạo hay tạo dựng một chiều như học thuyết Mác chủ trương. Quan điểm duy vật Mác Lê thực chất gần liền hay giản lược vào quan điểm duy vật lý hay kiểu duy cơ học là điều có thể nhận ra rất rõ. Điều đó có nghĩa nó rất dễ dàng đi xa quan điểm nhân bản mà rơi lại vào trong quan điểm duy vật máy móc thô sơ dẫu ngay lúc đầu cả Mác cũng muốn tránh. Quan điểm đấu tranh giai cấp bởi vậy cũng là quan điểm nhập nhòa của Mác, trên danh nghĩa mục tiêu nhân bản nhưng nó lại rơi vào quan điểm huyền bí (mystique), phi nhân (inhuman), theo hướng theo kiểu niềm tin kiểu cơ giới, máy móc, tạo ra sự mơ hồ, cuồng tín.

Nói chung, trong suốt tác phẩm đã nói này của mình, Lênin nhằm cố gắng thanh lọc hết mọi quan điểm của các nhà tư tưởng đương thời đã có, dầu có phần nào đó giống hay khác với Mác, Engels và ông ta ở những điểm nào đó, có thể thuộc duy tâm hay duy vật, chẳng hạn, như Avenarius, Mach, Duhem,   Chernyshevsky, Bogdanov, Chernov, Lévy, Hume, v.v… và đu dây giữa các quan điểm của họ, mà mục đích duy nhất là cốt để chỉ ra duy một điều, đó là họ hoàn toàn khác hẳn, ngược lại, hay chống lại Mác, chỉ do một điều là họ thuộc loại “triết học tư sản, phản động” (bourgeois, reactionary), mà không thể vươn tới được “tầm mức, chiều cao của duy vật biện chứng, do Mác và Engels lập ra” (“the level of the dialectical materialism of Marx and Engels”). Thế nhưng, trong đó, vẫn cứ rõ ràng còn thiếu hẳn một nền tảng, là tính cách chủ thể sau cùng, tối hậu, cần xem như tâm điểm, hay yếu tố quyết định. Vì vậy, đến đây, tưởng cũng có thể tạm thời khép lại bài viết này. Còn riêng về quan điểm một triết học mới, gọi là thanhism, thanhisme (hay quan điểm học thuyết subsance-subjectivism, substance-subjectivisme, Substanz-Subjektivismus) với nội dung tính chất triết học mới mẽ, khác hẳn từ xưa đến nay, có lẽ tôi cần dành riêng để sẽ trình bày trong một dịp khác.

 

By VÕ HƯNG THANH

           (12/8/2021) 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét