PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC DUY VẬT CỦA LÊNIN QUA TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA PHÊ PHÁN THỰC NGHIỆM” (“MATERIALISM AND EMPIRIO-CRITICISM”)
Tác
phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa phê phán thực nghiệm” (Materialism and
Empirio-criticism, Matérialisme et Empiriocriticisme) là tác phẩm quan trọng
nhất của Lênin về quan điểm duy vật của ông ta, bởi nó chứa đựng sự phê phán
mọi quan điểm duy vật hay duy tâm khác nhau của nhiều nhà triết học Tây Âu như
Pháp, Anh, Đức, và Nga đương thời, khi ấy, để nhằm khẳng định ý nghĩa, nội dung
và mục đích lý thuyết triết học duy vật từ Mác, Engels, của chính mình.
Cuốn
sách quan trọng đặc biệt này coi như định hình quan điểm triết học duy vật của
Lênin cho toàn bộ nền tảng tư tưởng của ông ta, nó được dịch ra 20 ngôn ngữ
khác nhau, xem như là bộ phận của chủ thuyết Mác Lê sau này, nên ngày nay những
ai nghiên cứu về triết học Mác, Engels không thể không nói tới. Nó từ nguyên
tác tiếng Nga, và hai bản dịch được trưng dẫn ở đây là bản tiếng Anh và tiếng
Pháp là hai ngôn ngữ phổ biến nhất.
Trong
bản dịch tiếng Anh gồm có phần dịch lời đề tựa cho lần xuất bản thứ nhất, lần
xuất bản thứ hai, và phần dẫn nhập tổng quat. Tiếp theo là sáu Chương, mỗi
chương đều có phần ghi chú (footnote), và cuối cùng là phần kết luận cũng như
vậy. Toàn bộ gần 300 trang, tức cũng là một tác phẩm có chiều dài, nhưng tựu
trung trong đó chủ yếu là phê phán mọi quan điểm triết học đương thời khác, với
nhiều nhà tư tưởng mọi loại chính yếu (mà Lênin gọi chung là empirio-criticism)
để nhằm đưa về quan điểm duy vật đích thật nhất của Lênin. Tất nhiên, bao quát
quan trọng nhất ở đây chính là phần mở đầu, Chương I, và phần Kết luận của tác
phẩm, các phần khác chỉ nhằm phân tích, quảng diễn ra thêm các nội dung chủ yếu
trong đó mà thôi. Nên đây tuy là tác phẩm có chiều dài nhưng vẫn có thể dễ dàng
thấy ra được các ý hướng cốt lõi nổi bật.
Như
khi nói về nhận thức cảm giác, trong đó Lênin viết “If colour is a
sensation only depending upon the retina (as natural science compels you to
admit), then light rays, falling upon the retina, produce the sensation of
colour. This means that outside us, independently of us and of our minds, there
exists a movement of matter, let us say of ether waves of a definite length and
of a definite velocity, which, acting upon the retina, produce in man the sensation
of a particular colour. This is precisely how natural science regards it. It
explains the sensations of various colours by the various lengths of
light-waves existing outside the human retina, outside man and independently of
him. This is materialism: matter acting upon our sense-organs produces
sensation. Sensation depends on the brain, nerves, retina, etc., i.e.,
on matter organised in a definite way. The existence of matter does
not depend on sensation. Matter is primary. Sensation, thought, consciousness
are the supreme product of matter organised in a particular way. Such are the
views of materialism in general, and of Marx and Engels in particular.” [Chapter 1.2]. (“Nếu màu sắc là
một cảm giác chỉ phụ thuộc vào võng mạc (như khoa học tự nhiên bắt ta phải thừa
nhận), vậy thì những tia ánh sang khi chiếu lên trên võng mạc, chúng tạo nên
cảm giác về màu sắc. Điều đó có nghĩa chúng ở ngoài chúng ta, độc lập với chúng
ta và tinh thần chúng ta, kiểu như một sự vận động của vật chất, khiến chúng ta
có thể nói như những sóng của ê-te với độ dài và vận tốc xác định tác động lên
võng mạc chúng ta, tạo nên trong con người cảm giác về một màu sắc riêng biệt.
Đó là điều hoàn toàn được khoa học tự nhiên thừa nhận, Nó cắt nghĩa những cảm
giác về các màu sắc khác nhau là bởi chiều dài của những sóng ánh sáng khác
nhau ở bên ngoài võng mạc chúng ta, bên ngoài con người và độc lập với nó. Đó
là quan điểm duy vật : vật chất tác động lên các cơ quan cảm giác tạo ra những
cảm giác. Cảm giác phụ thuộc vào óc não, thần kinh, võng mạc v.v… vào vật chất hữu cơ được cấu tạo theo một cách
xác định nào đó. Sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác. Vật
chất là cái có đầu tiên nhất. Cảm giác, tư tưởng, ý thức đều là sản phẩm cao
nhất của vật chất hữu cơ theo một cách đặc thù. Đó chính là quan điểm của chủ
nghĩa duy vật nói chung, và của Mác và Engels nói riêng”).
Và sau đây là vài đoạn
trong bản dịch qua tiếng Pháp để đối chiếu : “les rayons lumineux procurent, en atteignant la rétine, la
sensation de couleur. C'est dire qu'en dehors de nous, indépendamment de nous
et de notre conscience, il existe des mouvements de la matière, disons des
ondes d'éther d'une longueur et d'une vitesse déterminées, qui, agissant sur la
rétine, procurent à l'homme la sensation de telle ou telle couleur. Tel est le
point de vue des sciences de la nature. Elles expliquent les différentes
sensations de telle couleur par la longueur différente des ondes lumineuses
existant en dehors de la rétine humaine, en dehors de l'homme et indépendamment
de lui. Et c'est là la conception matérialiste : la matière suscite la
sensation en agissant sur nos organes des sens. La sensation dépend du cerveau,
des nerfs, de la rétine, etc., c'est‑à‑dire de la matière organisée de façon
déterminée. L'existence de la matière ne dépend pas des sensations. La matière
est le primordial. La sensation, la pensée, la conscience sont les produits les
plus élevés de la matière organisée d'une certaine façon. Telles sont les vues
du matérialisme en général et de Marx et Engels en particulier”.
Hình thức hai cách dịch gần như nhau, nhưng đều toát lên cùng nội
dung. Và đoạn văn này có thể cho là tóm lược đầy đủ, trọn vẹn nhất quan điểm
duy vật của Lenein không ra ngoài quan điểm của Engels và Mác. Giống như quan
điểm sau này của Trần Đức Thảo cũng chỉ có thế. Tức quan điểm duy vật là bao
trùm duy nhất và trọn vẹn nhất. Vật chất là cái tiên khởi nhất. Vật chất đó
hoàn toàn vô cơ, nó tạo nên thân xác chúng ta, mọi con người, chẳng qua cũng là
thứ vật chất hữu cơ. Trong vật chất hữu cơ này có óc não, thần kinh, võng mạc
v.v… Khi ánh sáng từ ngoài vào tác động lên võng mạc mắt ta, các tầng số khác
nhau của ánh sáng tạo ra cảm giác trên võng mô, cũng như tư tưởng, ý thức đều
là những sản phẩm cao nhất về sau này theo một cách nào đó của vật chất có tổ
chức nơi não bộ mà ngoài ra không là gì hết. Đó đều quan điểm học thuyết duy vật
nói chung của Mác, Engels, và Lênin.
Có điều qua đó ta dễ dàng thấy chỉ đều là sự mô tả theo nguyên lý nhân
quả (descriptive causality) mà không có gì giải thích xa hơn về chiều sâu về
mặt khoa học hay triết học một cách rốt ráo cả. Tức chỉ là một sự nhận xét,
đoán nhận bề ngoài, một khái niệm thuần nghiệm (empirical) dựa trên khoa học
thực nghiệm một cách đơn giản và đi đến kết luận. Nó có thể nhìn đúng đó theo
cách cảm quan tối giản nhất định, nhưng như vẫn còn thiêu thiếu cái gì đó. Bởi
đây chỉ vẫn là quan điểm cơ giới máy móc về bản thân chuyển động, vận động của
vật chất khách quan một cách thuần túy, chưa moi ra chút nào cái gì bên trong
quyết định, cái gì tạo thành cảm giác, cái gì là nguyên lý hay động cơ làm nền
trong đó. Ở đây tôi muốn nói đến tính chủ thể (subjectivité, subjectivity,
Subjektivität). Đây là cốt lõi của quan điểm lý thuyết
thanism, thanisme, Thanismus, mà trong bài trước tôi đã đề cập đến.
Bởi vì nói cho cùng, vật chất dầu sao cũng chỉ là kiểu bản thể
(substance), vật thể, chất thể (materialité), cho dầu nó khách quan, bao quát,
hay toàn bộ đến đâu chăng nữa, nó cũng không bao giờ là chủ thể hay có tính
chất chủ thể tính trong đó hay trong bản thân nó. Thế thì ánh sáng tác động lên
võng mạc, hay vật chất vô cơ tác động lên vật chất hữu cơ sinh học là đúng,
nhưng cho từ đó mà phát sinh ra cảm giác hay sản sinh được ra cảm giác
(sensation) hoặc có sự nhận thức được cảm giác quả thật chỉ nói bừa, nói theo
cảm tính bên ngoài đơn giản, chưa có gì sâu xa, toàn vẹn, hay đầy đủ cả.
Có nghĩa sự sống (vitalité) vẫn là cái gì đó khác hơn vật chất hữu cơ
(matière organique), chưa nói là vật chất thuần túy (matière inorganique), còn
đừng nói đến ý thức, tinh thần, đều là dạng trừu tượng phi vật thể
(immaterialité). Một tế bào, một sinh vật nào đó chết đi, lúc đó không còn sự
sống, nhưng tạm thời vẫn còn là thân xác không có sự sống, vẫn còn là vật chất
hữu cơ, cho đến khi hoàn toàn hủy hoại. Sự khác nhau giữa vật chất thuần, vật
chất hữu cơ, sự sống, và ý thức tinh thần chính là hoàn toàn ở đó. Đây mới là
chìa khóa cốt lõi của vấn đề mà cả Mác, Engels, Lênin đều chưa hề động đến hay
cố tình không muốn động đến. Nói cách khác, họ chỉ có ý hướng về cảm tính, về
thị hiếu, tức nhằm về một chủ ý hay sở thích chủ quan nào đó mà không quan tâm
đến kỳ cùng mọi ý nghĩa mọi vấn để triết học và khoa học gồm chứa trong đó. Triết
học và khoa học kiểu đó như vậy vẫn còn kiểu nửa nạc nửa mỡ, nữa chừng xuân,
chưa thể nào gọi là tuyệt đối đầy đủ, hội đủ được.
Trong khi vấn đề vẫn còn gát lại như thế, Lênin viết tiếp phần sau “ : “La matière agissant sur les organes de nos
sens suscite des sensations. Engels y voit cette différence essentielle : pour
les matérialistes, la nature est première, et l'esprit second. Le matérialiste Friedrich Engels,
collaborateur bien connu de Marx et fondateur du marxisme, parle constamment et
sans exception dans ses œuvres des choses et de leurs reproductions ou reflets
dans la pensée (Gedanken‑Abbilder), ces images mentales n'ayant, cela va de
soi, d'autre origine que les sensations”.
Hoặc “Thus, the
materialist theory, the theory of the reflection of objects by our mind, is here
presented with absolute clarity: things exist outside us. Our perceptions and
ideas are their images. Verification of these images, differentiation between
true and false images, is given by practice” (Như vậy, thuyết duy vật coi như
có sự phản ảnh của các sự vật vào trong tinh thần của chúng ta, được trình bày ở
đây một cách minh bạch, là có các sự vật ở bên ngoài chúng ta. Những nhận thức
và ý tưởng của chúng ta đều là các hình ảnh của chúng. Chúng ta phân biệt được
các hình ảnh đó đúng hay sai, là do qua sự thực hành”).
Có nghĩa, “chỉ có vật chất tác động lên ngũ quan của chúng ta, tạo thành ra
cảm giác. Engels phân biệt ở đây, sự khác nhau cốt yếu giữa duy tâm và duy vật.
Duy vật coi thiên nhiên là cái trước còn tinh thần là cái đến sau. Mác và
Engels, những người lập ra học thuyết Mác xít đều chủ trương thường xuyên và
tuyệt đối xuyên suốt trong mọi tác phẩm của họ rằng chỉ có các sự vật và sản
phẩm của chúng hay là sự phản ảnh trong tư tưởng (Gedanken-Abbilder). Và dĩ
nhiên những hình ảnh có trong trí óc đều có nguồn gốc từ sự phản ảnh đó hay là
các cảm giác”. Rõ ràng cho thấy những người Mác xít khởi đi như những người duy
cảm giác, cho cảm giác đều những dữ liệu trước nhất. Nhưng đồng thời họ cũng
vượt qua đó, coi các cảm giác cũng chỉ là vật chất, và chỉ có vật chất là tồn
tại duy nhất trong mọi loại dạng của nó, trong đó có cảm giác. Từ đây cũng biến
chuyển hay phản ánh ra mọi cái khác như tinh thần, ý thức, tư tưởng …
Hay đó đều là những cái Gedanken‑Abbilder (tiếng Đức), có nghĩa là những
hình ảnh (Abbilder) về sau của ý thức tâm lý (mental, mentalité), và tư tưởng
(Gedanken), cũng chẳng qua sự hòa trộn cùng phản ảnh thế giới bên ngoài trong
óc não do từ ngoại giới (le monde extérieur). Đây chính là kiểu lý thuyết phản
ảnh gương (mirroir refèlete) mà về sau
tạo thành cái được gọi là thượng tầng kiến trúc (superstucture) nằm trên nền
tảng của hạ tầng cơ sở (substructure) đó là toàn bộ các thực tại kinh tế xã hội
biến chuyển của từng thời đại như các hình thái xã hội đã có. Đó là lý luận mà
Mác và Engels cho rằng mọi hình thái ý thức hệ như tôn giáo, triết học, chính
trị, văn hóa, nghệ thuật v.v… tức là mọi tính chất tinh thần, chẳng qua đều là
các bản tính vật chất biến chuyển, phản ánh ra, mà khởi sự đầu tiền đều là các
cảm giác được đưa vào từ đường các cảm giác, các nhận thức giác quan.
Lênin bổ sung thêm, trong tác phẩm Chống- Dühring (l'Anti‑Dühring) của
Engels cũng viết « ...les choses et leurs reflets dans la pensée ... ». “la
sensation comme une des propriétés de la matière en movement”. “Le cerveau
sécrète la pensée comme le foie sécrète la bile”. “Pour tout
matérialiste, la sensation est en effet le lien direct de la conscience avec le
monde extérieur, la transformation de l'énergie de l'excitation extérieure en
un fait de conscience. les liaisons
des éléments physiques et des éléments psychiques ne peuvent exister
séparément; elles ne peuvent exister qu'ensemble;
affirmer qu'on ne
peut faire abstraction de l'une de ces liaisons que momentanément”.
Tức “… những sự vật
và phản ánh của chúng trong tư tưởng…”. “cảm giác như một trong những đặc điểm
của vật chất đang vận động”. “Não bộ tiết ra tư tưởng như gan tiết ra mật”. “Dối với mọi nhà duy vật, cảm giác đích thị
là cầu nối trực tiếp của ý thức và thế giới bên ngoài, sự biến đổi của năng lượng
nơi kích thích bên ngoài thành một thực tế ý thức. Những cầu nối của các yếu tố
vật lý với các yếu tố tâm lý không thể tồn tại tách rời nhau; chúng chỉ có thể
có đồng thời; có nghĩa người ta chỉ có thể tách biệt các mối quan hệ chúng ra trong
tính cách chốc lát tạm thời”. Nhưng dù gì đi nữa, đó cũng chẳng qua đều các
tính cách vật chất thuần túy tương tác hay nối kết giữa nhau vậy thôi. Nhưng tại
sao hay yếu tố nào quyết định làm cho ý thức nhận thức các cảm giác được xuất
hiện, điều đó các nhà kinh điển Mác xít từ Mác đến Lênin đều không hề nói tới.
Nói khác đi, quan điểm duy vật thuần túy của Mác ban sơ chỉ là
quan điểm vô thần chống lại mọi hình thức tôn giáo, và chống luôn cả mọi điều
duy tâm không công nhận chỉ có thần túy duy nhất vật chất thế thôi. Đây chỉ là
khuynh hướng chống đối tiêu cực, mà Mác không bao giờ đi sâu, đi xa hơn nữa. Thuyết
duy vật từ Mác, Engels đến Lênin như trình bày trên đều chỉ có tính cách suy
đoán một chiều, không khi nào đặt vấn đề gì ngược lại. Nhưng nó đã trở thành
giáo điều tuyệt đối mãi mãi về sau này, chẳng ai dám vượt ra ngoài cái đó cả,
trong đó kể cả Trần Đức Thảo như mọi người đã biết. Điều đó về mặt khoa học và
mặt triết học rốt ráo đều không thể chấp nhận được, bởi vì nó chỉ mang tính quá
khích, độc đoán, kể cả hạn hẹp và bỏ lững.
Bởi như trong bài viết trước tôi đã nói, vật chất thuần túy, dầu
xét dưới bất kỳ trường hợp hay khía cạnh nào đều chỉ có thể vô tri vô thức. Chúng
chỉ là vật thể hay chất thể tồn tại, chúng không bao giờ là sự sống hay có ý thức
chút nào cả. Điều này hoàn toàn khác với sự sống nơi mọi loài sinh vật, hoặc đã
có ý hướng hay ý thức tùy theo mỗi cấp độ. Con vi rút hay vi khuẩn hoặc dạng tế
bào ở mức độ sự sống thấp nhất vẫn hoàn toàn khác với vật chất vô tri. Tức
chúng có thể có sự nhận biết hay ý hướng tính nào đó tự nó theo cách nào đó
không thể phủ nhận. Điều này càng khác với các sinh vật đa bào bậc thấp và đa
bào bậc cao mà chóp đỉnh là loài linh trưởng và đỉnh cao nhất là con người có
tinh thần, tư duy và lý trí. Cũng có nghĩa quan điểm duy vật Mác xít chỉ là
quan điểm duy vật quá đơn giản và tầm thường, không đáp ứng được nhu cầu hiểu
biết cao nhất và chính đáng nhất của con người.
Vả chăng phản ứng gương là gì. Đó cũng chỉ là phản xạ vật chất tự
nhiên, thụ động, đơn giản nhất. Như phản xạ ánh sáng trên mặt nước, trên gương,
hay trên bề mặt nào khác. Đó cũng chẳng khác nào phản xạ âm thanh mọi loại mà
ai cũng biết. Phản xạ các sóng điện từ mọi loại nói chung là như thế. Khi ánh
sáng đập vào võng mô, chẳng khác nào khi âm thanh đập vào màng nhĩ, hoặc đặc điểm
hóa học, vật lý, sinh học của chất liệu vật chất nào đó vào đi vào các vị trí cảm
thụ cảm giác của thân xác ta. Năm giác quan của chúng ta đều có cùng nguyên lý
hay khả năng tiếp nhận như thế.
Nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần, chưa bao giờ hay không bao giờ
là điều kiện đủ. Một sinh vật chết rồi thì các bộ phận tiếp nhận cảm giác của
chúng đều không còn hoạt động được nữa, mặc dầu các hiện tượng tiếp cận đã nói
đều vẫn cứ xảy ra. Vậy cái gì quyết định cho cảm giác xảy ra ở đây, đó chính là
ý thức hoạt động. Ý thức chính là hình thức chủ thể tiếp nhận mọi dữ liệu đưa đến.
Thần kinh, não bộ không còn hoạt động thì mọi dữ liệu tác động bên ngoài đưa tới
cũng chẳng để làm gì. Chúng vẫn không bao giờ đạt đến hay vượt qua được ngưỡng
của khả năng ý thức nhận biết. Nói khác đi, chủ thể tính mới là điều quyết định
nhất. Chủ thể tính được hình thành ngay từ sự sống ban đầu, trải qua lịch sử cá
nhân và đồng loại mới thành năng lực về sau cho ra hay tiếp nhận cảm giác, mà
không chỉ thuần túy là bản thân riêng biệt của cảm giác.
Cũng từ đó, khái niệm thuần túy kiểu phản ứng gương như hạ tầng
cơ sở tạo nên thượng tầng kiến trúc thực chất chỉ là sự mô phỏng, ức đoán tưởng
tượng. Nó thực sự chỉ là sự phỏng đoán mà chưa bao giờ và khó thể nào được chứng
minh hay minh chứng cụ thể cả. Thuyết duy vật lịch sử của Mác chỉ là sự chồng
chất lên, sự chồng lầu lên từ trên nền tảng thuyết duy vật nói chung và thuyết
duy vật biện chứng nói riêng mà không là gì khác.
Nên chỉ cần một khâu lỏng lẽo thì các khâu khác cũng như thế
không có gì thay đổi. Kinh tế là hoạt động sản xuất bảo đảm tạo thành sinh hoạt
đời sống của nhân loại. Nó chủ yếu qua hoạt động tư duy nhận thức và qua quá
trình phát huy phát triển kỹ thuật, công nghệ của loài người. Hoạt động ở đây
phải là hoạt động khoa học mọi loại, mọi mặt mới đem lại hiệu quả, thành quả. Sự
tương tác giữa hai phía vật chất và tinh thần, hay hạ tầng cơ sở và thượng tầng
kiến trúc nếu có chỉ là sự tác động qua lại, không phải tuyệt đối và thuần túy
là tác động mang tính sáng tạo hay tạo dựng một chiều như học thuyết Mác chủ
trương. Quan điểm duy vật Mác Lê thực chất gần liền hay giản lược vào quan điểm
duy vật lý hay kiểu duy cơ học là điều có thể nhận ra rất rõ. Điều đó có nghĩa
nó rất dễ dàng đi xa quan điểm nhân bản mà rơi lại vào trong quan điểm duy vật
máy móc thô sơ dẫu ngay lúc đầu cả Mác cũng muốn tránh. Quan điểm đấu tranh
giai cấp bởi vậy cũng là quan điểm nhập nhòa của Mác, trên danh nghĩa mục tiêu
nhân bản nhưng nó lại rơi vào quan điểm huyền bí (mystique), phi nhân
(inhuman), theo hướng theo kiểu niềm tin kiểu cơ giới, máy móc, tạo ra sự mơ hồ,
cuồng tín.
Nói chung, trong suốt tác phẩm đã nói này của mình, Lênin nhằm cố
gắng thanh lọc hết mọi quan điểm của các nhà tư tưởng đương thời đã có, dầu có phần
nào đó giống hay khác với Mác, Engels và ông ta ở những điểm nào đó, có thể thuộc
duy tâm hay duy vật, chẳng hạn, như Avenarius, Mach, Duhem,
Chernyshevsky, Bogdanov, Chernov, Lévy, Hume,
v.v… và đu dây giữa các
quan điểm của họ, mà mục đích duy nhất là cốt để chỉ ra duy một điều, đó là họ
hoàn toàn khác hẳn, ngược lại, hay chống lại Mác, chỉ do một điều là họ thuộc loại
“triết học tư sản, phản động” (bourgeois, reactionary), mà không thể vươn tới được
“tầm mức, chiều cao của duy vật biện chứng, do Mác và Engels lập ra” (“the level of the dialectical materialism of Marx and
Engels”). Thế nhưng, trong đó, vẫn cứ rõ ràng còn thiếu hẳn một nền tảng, là
tính cách chủ thể sau cùng, tối hậu, cần xem như tâm điểm, hay yếu tố quyết
định. Vì vậy, đến đây, tưởng cũng có thể tạm thời khép lại bài viết này. Còn
riêng về quan điểm một triết học mới, gọi là thanhism, thanhisme (hay quan điểm
học thuyết subsance-subjectivism, substance-subjectivisme,
Substanz-Subjektivismus) với nội dung tính chất triết học mới mẽ, khác hẳn từ
xưa đến nay, có lẽ tôi cần dành riêng để sẽ trình bày trong một dịp khác.
By VÕ HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét