Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

 

PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM DUY VẬT,

DUY TÂM TRONG PHẠM VI TRIẾT HỌC

 

Trước khi bàn về các quan điểm duy vật và tâm ở trong triết học, thiết tưởng cũng nên nhắc qua quan điểm duy thực (realism) như một điều cần thiết. Bởi duy thực cũng là một loại “duy” (-ism), nhưng không hẳn nhất thiết phải là duy tâm hay duy vật. Duy thực chỉ nghiêng về công nhận mọi thực tế trước mắt, là cái gì có thực, không phủ nhận nó, cũng không quy ước nó theo một một định hướng nào trước nhằm đi đến duy tâm hay duy vật như một kết luận tối hậu. Duy thực như vậy chỉ là tinh thần thực tiển, công nhận thế giới thực, vũ trụ thực, công nhận điều hiện thực trước tiên, chưa cần hay không cần đi đến một bản thể sau cùng nào đó chứa đựng trong nó cả. Đó chính là đầu óc thực tế, không phải thiển cận, cũng không phải hoang tưởng nào hết. Đây không phải quan điểm trung dung, mà chỉ là quan điểm thực tại, tức chỉ nhằm thừa nhận cái gì có trước mắt như nó là nó (réel, real) thế thôi. Có nghĩa duy thực chỉ muốn xem duy vật là thiển cận, còn duy tâm là mơ hồ, huyễn hoặc thế thôi. Bởi vậy trước khi xét về duy thực, ta phải xem riêng rẽ về duy vật và duy tâm trước hết. Duy thực như vậy chỉ và chỉ nhằm công nhận cái hiện thực đang có, chưa quan tâm sâu xa đến cái gì đàng sau nó cả.

Trong khi đó duy vật nhắm khuynh hướng quy tất cả thế giới vào vật chất. Chỉ có vật chất là duy nhất tồn tại và đang vận động. Mác, Engels, Lênin chỉ thừa nhận sự hiện hữu của vật chất là duy nhất, ngoài ra không còn gì ngoài cả. Vật chất đó không phải chai lỳ đứng yên mà đang vận động cũng như mãi mãi vận động. Họ đều cho rằng không thể có vật chất không vận động, cũng như không thể có vận động mà không có vật chất đi kèm. Hay vận động chỉ là một thuộc tính của vật chất, một sự thể hiện bản thân của vật chất, nhưng chỉ vật chất mới là điều chính yếu. Như vậy cũng có nghĩa duy vật thì không công nhận bất cứ sự hiện diện của tinh thần nào, không thừa nhận bất cứ quan điểm duy tâm nào, không thừa nhận tính riêng biệt, độc lập hay có sự tồn tại trừu tượng nào của ý thức, tinh thần con người, của bất kỳ thần linh nào, kể cả về một đấng sáng tạo, một Thượng đế vô hình hay hiện diện ở một nơi nào đó khác. Duy vật gắn liền với vô thần vốn là điều tự nhiên thiết yếu mà bất kỳ mọi ai cũng đều nhận ra được.

Quan điểm duy vật trong khía cạnh nào đó cũng là một loại quan điểm thực tại, nhưng không dừng lại chỉ ở thực tại bề ngoài, mà quy đến tận kỳ cùng, hay suy đến tận kỳ cùng, là không gì ngoài cái cụ thể cảm nhận được, háy tất cả chỉ là vật chất không hơn không kém.

Họ có thể quan sát thấy được toàn bộ trái đất là một khối vật chất, các tinh tú trong vũ trụ, trong đó có mặt trời, mọi ngôi sao, hành tinh thấy được đều là vật chất. Qua đó họ cũng quy con người và muôn loài vào đều vật chất, ngay cả sự sống và ý thức nhận thức cũng đều và chỉ là vật chất. Như vậy họ không cần để ý đến sự khác biệt giữa vật chất hữu cơ và vật chất vô cơ, giữa vật chất và sự sống, giữa vật chất và ý có sự dị biệt chút nào. Đó là một quá trình giản lược hóa đến tận kỳ cùng, đến mức không còn cần phân biệt gì khác nhau giữa mọi sự tồn tại, chỉ còn một quan điểm, một ý thức đánh đồng vào cái cuối cùng là vật chất, mà rốt cuộc cũng chẳng cần xác định vật chất là gì và minh thị ra ý nghĩa các thuộc tính nền tảng của vật chất là như thế nào.

Đương nhiên họ nghĩ rằng cái cây mọc trên đất là trên nền tảng hay nền móng vật chất. Nhưng quên rằng cái cây có sự sống là điều mọi loại vật chất đều không thể có. Cái cây có sự sống bởi vì nó là thực vật, và dưới đất quanh gốc nó hay sâu trong vùng rễ nó cũng có biết bao sự sống khác, những con côn trùng, những vi khuẩn, kể cả những dạng vi rút nào đó, không những có trong bộ rễ mà còn có trên thân cây hay mọi nhánh nhóc của nó, kể cả một con vật nào đó như con chim, con chàng hiu, có thể ở bên ngoài đâu đó bay nhập vào thân cây của nó.

Một tảng đá chẳng hạn, là hình thức vật chất thực tế tiêu biểu nhất. Nó không bao giờ có sự sống, không hề biết suy nghĩ, nhận thức, và ngàn đời cũng vậy nếu không dần dà bị phong hóa, nát vụn ra theo thời tiết, trở thành cát sỏi rồi cuối cùng trở thành đất. Vạt chất như vậy chỉ có yếu tố chay ì, tức chai lì, bởi chỉ gồm trong bản thân nó là chất thể, là nguyên tố hóa học, có độ choáng chỗ trong không gian, tức có trọng lượng, tỉ trọng, có thể cân do đong đếm được, có thể nghiền vụn nát ra được, và nói chung nó chỉ có các tính chất vật lý, hóa học nào đó thuần túy mà thôi. Vật chất chỉ có thể tồn tại và biến đổi đi, nhưng không hề có sự sống, có chất sống nào bên trong nó, vì không bao giờ phát triển như dạng sống, cũng không thể tạo ra dạng sống mới trong cùng loại sống.

Trong khi đó cây cối hay loài vật, thức thực vật hay động vật, đều là dạng sống có đặc điểm giống nhau là phát triển, tạo ra sự sống mới, và chết đi, quay trở về vật chất. Từ coi voi to đùng đến con vi rút nhỏ xíu, động thực vật đơn bào và động thực vật đa bào, đều không ra ngoài những đặc điểm và vật chất thuần túy đều không thể có, không bao giờ có thể có. Nhưng điều đặc biệt nữa, là mọi loài động vật cao cấp, như loài linh trưởng chẳng hạn, đều có ý thức, nhận thức, là tính năng hay khả năng chẳng bao giờ vật chất nào có được.

Cao nhất trên tầng tháp đó, dĩ nhiên là con người, cá nhân và xã hội con người, đều có tình cảm, bản năng, tư duy nhận thức, suy nghĩ, hành vi phù hợp, mà không bất kỳ mọi loại vật chất nào có thể đạt đến được. Đó gọi là tinh thần, ý thức, trí thông minh, cảm quan và lý trí, như một năng lực, một bản chất trừu tượng, linh hoạt, không thể đồng hóa vào thân xác, vào vật chất nào khác cả. Đây cũng là chỗ tinh thần khác với vật chất về mặt bản thân chính yếu là như vậy.

Đương nhiên thân xác con người cũng là dạng sống, là dạng sống sinh học, vượt lên trên vật chất đơn thuần mà vật chất đơn thuần không thể có được. Tuy rõ ràng thân xác thì không thể nhận thức, nhưng cơ quan nhận thức duy nhất chính là não bộ mà con người cũng như loài động vật có được. Nhưng cấu trúc và trọng lượng hay thể tích óc não của con người và loài vật vẫn có nhiều dị biệt tự nhiên, khách quan. Điều đáng nói là trung tâm thần kinh não bộ nói chung là hệ điều hành mọi nhận thức sinh vật mà không vật chất nào có thể có được.

Vay nhưng Mác, Engels, Lênin vẫn đều quy não bộ của con người cũng chỉ là vật chất vận động. Họ quên rằng vận động cơ giới và vận động sinh học là hai dạng vận động hay hai loại vận động hoàn toàn khác hẳn nhau. Vận động cơ giới hay máy móc hoàn toàn không có sự sống, còn vận động sinh học hay vận động thân xác là có sự sống trong chính bản thân của nó. Nhất là hệ thần kinh óc não cũng chỉ là hệ các tế bào thần kinh hoạt động, nhưng chúng hoàn toàn cụ thể, ý học có thể nghiên cứu mọi cấu trúc, tổ chức, hoạt động của nó một cách cụ thể, khách quan, hoàn toàn chính xác. Song để từ đó mà hệ thống não bộ tạo ra ý thức, tình cảm, xúc cảm, nhất là cảm thức, nhận thức của con người là hoàn toàn khác biệt. Nó có một “bước nhảy” (leap, gap), một khoảng cách biệt, gián đoạn giữa hai thực thể, hai thế giới, xác thân cụ thể và tinh thần trừu tượng mà các nhà duy vật biện chứng đó hoàn toàn chỉ “đoán mò”, quy thuộc ra mà không hề có khả năng cũng không cần giải thích. Đây là chỗ điểm yếu rõ ràng mà họ không bao giờ công khai thừa nhận hay biện bạch được.

Họ chỉ quơ vào não bộ cũng chỉ là vận động vật chất đơn giản thế thôi. Tức cũng chỉ là quan điểm quy giản (reductionism) đơn thuần không hơn không kém. Họ chỉ dùng khái niệm “biện chứng” để thay vào một cách đoán mò, chẳng có gì là khoa học hay kể cả triết học nữa. Thành ra quan điểm duy vật cơ giới, máy móc đã thất bại, mà quan điểm duy vật “biện chứng” thực chất cũng chỉ mơ hồ và hoàn toàn thất bại.

Cũng chính mặt này mà quan điểm duy tâm lại đi theo con đường hoàn toàn khác. Duy tâm thì chủ đạo lấy cái “tâm”, cái “tinh thần”, cái “siêu việt” (spirit, intellect, transcendental) coi như một bản thể riêng biệt, tồn tại độc lập, tuy có quan hệ nhưng thực sự vượt lên trên, kể cả ra ngoài mọi vật chất. Bởi vì điều dễ hiểu là tinh thần thì trừu tượng, có năng lực nhận thức, trong khi vật chất là hoàn toàn cụ thể, nhưng không hề và không bao giờ có năng lực nhận thức. Vật chất thì không bao giờ có bất kỳ đặc tính tinh thần nào, cũng vậy, tinh thần không bao giờ và không thể có bất kỳ thuộc tính hay đặc điểm vật chất nào. Đây là hai thế giới đều có thực, hai bản chất, hai bản thể đều có thực, có tương quan nhau nhất định, nhưng không trùng lắp, không đồng nhất, không thể đồng hóa, không quy thuộc (non réduit), không xấp nhập, không thay thế, nói chung không ràng buộc nhau hoàn toàn tuyệt đối. Đấy cũng chính duy tâm khác hẳn hay hoàn toàn phân biệt với duy vật chính là như thế.

Điều này cũng có nghĩa sự giải thích của duy tâm về nguồn gốc đầu tiên và tối hậu của vũ trụ thực tại là có đấng sáng tạo nào đó (Creator), hay từ một dạng tinh thần khởi nguyên nào đó (Spirituality, spiritualité, Geist, Logos, Idea …). Như Đông phương thì cho là cái lý Thái Cực, cái Đạo, mà cả Khổng tử và Lão tử đều không phủ nhận. “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật”, “Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái” v.v…Tức vật chất không thể “tự sinh”, là điều tất nhiên căn bản nhất. Bảo vật chất tự sinh tức là duy vật, bảo vật chất không thể tự sinh, tức là duy tâm. Còn bảo “Creatio nex nihilo” như một quan điểm khác của Phương Tây, tức sự Sáng tạo đi ra từ Hư không, thì hoặc có thể rơi vào thuyết hư vô chủ nghĩa (Nihilism), hay trở về khái niệm Đạo (Tao) hoặc Thái cực của Phương Đông. Nói khác đi duy tâm thì rất phong phú đa dạng, trong khi duy vật chỉ thuần túy nghèo nàn và hầu như trực cảm, thiển cận, bế tắt.

Duy vật đã bế tắt, còn duy vật biện chứng lại càng phi lý. Bởi cái gì làm cho vật chất “biện chứng” trong khi tự bản thân nó chẳng chứa đựng điều gì ngoài trí lực (inertie) của nó cả. Con voi chết có thể biến thành đất, nhưng không tảng đá nào ngàn năm lại biến thành voi được. Người đàn bà có thể nhìn thấy con gà trước mắt, nhưng con gà lẫn trong bụi rậm hay nằm bên kia bức tường, bà ấy phải chịu thua vì không thấy có được dầu nó vẫn có ở đấy. Trong vũ trụ nhiều thiên hà cách nhăm đến nhiều trăm tỉ năm ánh sáng, trái đất chỉ là hạt bụi trong thái dương hệ, con người vòng đời chỉ có trăm năm, làm sao thấy được mọi sự trong không gian đâu đó đang có mặt, nếu không phải chỉ đoán bừa, phủ nhận hay xác nhận ? Duy tâm mơ hồ dạng có lý còn duy vật cụ thể kiểu vô lý, đó là điều có thể thấy ra được.

Nên vật chất không phải mọi vật con người thấy trước mắt trong vũ trụ, còn cả sự sống (vie, vitalité) là hiện tượng tiềm ẩn bên trong mà con người không thấy, bởi nó vô hình, chỉ thấy qua được mọi hiện tượng hữu hình bên ngoài. Ngày nay được định nghĩa vật chất cơ bản là những nguyên tử, những tổ hợp phân tử, nhưng thực chất cuối cùng là những hạt cơ bản (particles), rồi sóng hạt, trường vật lý, trường điện tử, những hạt quart nhiều vô số, cả nguyên lý bất định của Heidenberg, không thể nào xác định được tọa độ lượng tử của chúng, tất cả lại rơi vào trong thế giới lượng tử (quantum), hoàn toàn không cụ thể, thật là mờ mịt, mơ hồ, không thể nào coi thường được nữa. Nhưng sự sống căn bản là đơn vị tế bào, đều từ hệ thống các hạt điện tử (electron) cố kết với nhau từ nhân tế bào đến màng tế bào, bằng mọi loại nối kết hóa học, thì kết quả cũng chỉ là các hạt năng lượng, hay bản thân năng lượng (energy) làm hầu như “vật chất” quả khó mà hay không thể còn xác định được.

Dĩ nhiên, nói cách gián tiếp và thô thiển, chính những hạt photon, tách ra từ tia sáng mặt trời tạo nên chất diệp lục tố cho cây cỏ, là trung gian sự sống của mọi loài, hay là khởi đầu cho mọi chuỗi thức ăn ăn thiết. Nhưng nếu trái đất chỉ nhích đi xa hay gần mặt trời dầu một khoảng cự ly nào đó, liệu có còn được hệ thống sự sống trên mặt đất hay không ? Đây cũng chính là điều nghiêng hẳn về phái duy tâm mà không thể nào về phái duy vật thuần túy.

Nói chung lại, khoa học và triết học cần phải đều có chứng lý, chứng minh, không thể nào nói suông cách quơ quào, úp bộ, áp đặt được. Nhưng chứng cứ khoa học luôn luôn phải là chứng cứ cụ thể, còn chứng cứ triết học lại chính là chứng lý trừu tượng. Khoa học thì không được dùng đến hay không thể dùng đến trực giác (intuition) một cách thiết yếu được, nhưng điều đó thì triết học lại có thể. Nhưng nói cho kỳ cùng, triết học luôn vẫn là sự nhận thức của lý trí, nhận thức suy lý, có căn cơ, có lý tính, không thể chỉ kiểu cảm tính, thị hiếu, kiểu cả vú lấp miệng em theo cách độc đoán, cạn hẹp, phi nguyên tắc nào đó được. Sự khác biệt nhau giữa duy vật và duy tâm ở đây, rõ ràng là một hệ đóng và một hệ mở. Hệ đóng thì dễ chủ quan, thiển cận, bó hẹp, bế điểm, trong khi hệ mở vẫn luôn là một tương quan phát triển, luôn gợi mở và triển vọng. Đây có thể là một gợi ý đúc kết cho bài viết này, nhằm mở ra một chân trời nào đó cho triết học mà Hiện tượng luận (phenomenology) của Husserl đã từng mở ra rất lâu trước đây, điều đó có nghĩa triết học không bao giờ bị dừng lại hay bị bế tắt hoặc bị loại bỏ như kiểu Mác đã nói. Mác dùng con đường cụt “duy vật” để đóng cửa triết học, lại dùng con đường tưởng tượng “duy vật biện chứng” để tự sướng không căn cứ, rồi còn dùng con đường “duy vật lịch sử” để tung hỏa mù một thời cho lịch sử xã hội loài người, thật là một điều quái lạ, mà ở nước ta không ai khác là ông Trần Đức Thảo đã tưng tưng nhảy nhót một thời trên con đường mòn xuyên rừng âm u đó của chính Các Mác.

    

  By VÕ HƯNG THANH

            (04/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét