PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM DUY VẬT,
DUY TÂM TRONG PHẠM VI TRIẾT HỌC
Trước
khi bàn về các quan điểm duy vật và tâm ở trong triết học, thiết tưởng cũng nên
nhắc qua quan điểm duy thực (realism) như một điều cần thiết. Bởi duy thực cũng
là một loại “duy” (-ism), nhưng không hẳn nhất thiết phải là duy tâm hay duy vật.
Duy thực chỉ nghiêng về công nhận mọi thực tế trước mắt, là cái gì có thực,
không phủ nhận nó, cũng không quy ước nó theo một một định hướng nào trước nhằm
đi đến duy tâm hay duy vật như một kết luận tối hậu. Duy thực như vậy chỉ là
tinh thần thực tiển, công nhận thế giới thực, vũ trụ thực, công nhận điều hiện
thực trước tiên, chưa cần hay không cần đi đến một bản thể sau cùng nào đó chứa
đựng trong nó cả. Đó chính là đầu óc thực tế, không phải thiển cận, cũng không
phải hoang tưởng nào hết. Đây không phải quan điểm trung dung, mà chỉ là quan
điểm thực tại, tức chỉ nhằm thừa nhận cái gì có trước mắt như nó là nó (réel,
real) thế thôi. Có nghĩa duy thực chỉ muốn xem duy vật là thiển cận, còn duy
tâm là mơ hồ, huyễn hoặc thế thôi. Bởi vậy trước khi xét về duy thực, ta phải
xem riêng rẽ về duy vật và duy tâm trước hết. Duy thực như vậy chỉ và chỉ nhằm
công nhận cái hiện thực đang có, chưa quan tâm sâu xa đến cái gì đàng sau nó cả.
Trong
khi đó duy vật nhắm khuynh hướng quy tất cả thế giới vào vật chất. Chỉ có vật
chất là duy nhất tồn tại và đang vận động. Mác, Engels, Lênin chỉ thừa nhận sự
hiện hữu của vật chất là duy nhất, ngoài ra không còn gì ngoài cả. Vật chất đó
không phải chai lỳ đứng yên mà đang vận động cũng như mãi mãi vận động. Họ đều
cho rằng không thể có vật chất không vận động, cũng như không thể có vận động
mà không có vật chất đi kèm. Hay vận động chỉ là một thuộc tính của vật chất, một
sự thể hiện bản thân của vật chất, nhưng chỉ vật chất mới là điều chính yếu.
Như vậy cũng có nghĩa duy vật thì không công nhận bất cứ sự hiện diện của tinh
thần nào, không thừa nhận bất cứ quan điểm duy tâm nào, không thừa nhận tính
riêng biệt, độc lập hay có sự tồn tại trừu tượng nào của ý thức, tinh thần con
người, của bất kỳ thần linh nào, kể cả về một đấng sáng tạo, một Thượng đế vô
hình hay hiện diện ở một nơi nào đó khác. Duy vật gắn liền với vô thần vốn là
điều tự nhiên thiết yếu mà bất kỳ mọi ai cũng đều nhận ra được.
Quan điểm
duy vật trong khía cạnh nào đó cũng là một loại quan điểm thực tại, nhưng không
dừng lại chỉ ở thực tại bề ngoài, mà quy đến tận kỳ cùng, hay suy đến tận kỳ
cùng, là không gì ngoài cái cụ thể cảm nhận được, háy tất cả chỉ là vật chất
không hơn không kém.
Họ có
thể quan sát thấy được toàn bộ trái đất là một khối vật chất, các tinh tú trong
vũ trụ, trong đó có mặt trời, mọi ngôi sao, hành tinh thấy được đều là vật chất.
Qua đó họ cũng quy con người và muôn loài vào đều vật chất, ngay cả sự sống và
ý thức nhận thức cũng đều và chỉ là vật chất. Như vậy họ không cần để ý đến sự
khác biệt giữa vật chất hữu cơ và vật chất vô cơ, giữa vật chất và sự sống, giữa
vật chất và ý có sự dị biệt chút nào. Đó là một quá trình giản lược hóa đến tận
kỳ cùng, đến mức không còn cần phân biệt gì khác nhau giữa mọi sự tồn tại, chỉ
còn một quan điểm, một ý thức đánh đồng vào cái cuối cùng là vật chất, mà rốt
cuộc cũng chẳng cần xác định vật chất là gì và minh thị ra ý nghĩa các thuộc
tính nền tảng của vật chất là như thế nào.
Đương
nhiên họ nghĩ rằng cái cây mọc trên đất là trên nền tảng hay nền móng vật chất.
Nhưng quên rằng cái cây có sự sống là điều mọi loại vật chất đều không thể có.
Cái cây có sự sống bởi vì nó là thực vật, và dưới đất quanh gốc nó hay sâu
trong vùng rễ nó cũng có biết bao sự sống khác, những con côn trùng, những vi
khuẩn, kể cả những dạng vi rút nào đó, không những có trong bộ rễ mà còn có
trên thân cây hay mọi nhánh nhóc của nó, kể cả một con vật nào đó như con chim,
con chàng hiu, có thể ở bên ngoài đâu đó bay nhập vào thân cây của nó.
Một tảng
đá chẳng hạn, là hình thức vật chất thực tế tiêu biểu nhất. Nó không bao giờ có
sự sống, không hề biết suy nghĩ, nhận thức, và ngàn đời cũng vậy nếu không dần
dà bị phong hóa, nát vụn ra theo thời tiết, trở thành cát sỏi rồi cuối cùng trở
thành đất. Vạt chất như vậy chỉ có yếu tố chay ì, tức chai lì, bởi chỉ gồm
trong bản thân nó là chất thể, là nguyên tố hóa học, có độ choáng chỗ trong
không gian, tức có trọng lượng, tỉ trọng, có thể cân do đong đếm được, có thể
nghiền vụn nát ra được, và nói chung nó chỉ có các tính chất vật lý, hóa học
nào đó thuần túy mà thôi. Vật chất chỉ có thể tồn tại và biến đổi đi, nhưng
không hề có sự sống, có chất sống nào bên trong nó, vì không bao giờ phát triển
như dạng sống, cũng không thể tạo ra dạng sống mới trong cùng loại sống.
Trong
khi đó cây cối hay loài vật, thức thực vật hay động vật, đều là dạng sống có đặc
điểm giống nhau là phát triển, tạo ra sự sống mới, và chết đi, quay trở về vật
chất. Từ coi voi to đùng đến con vi rút nhỏ xíu, động thực vật đơn bào và động thực
vật đa bào, đều không ra ngoài những đặc điểm và vật chất thuần túy đều không
thể có, không bao giờ có thể có. Nhưng điều đặc biệt nữa, là mọi loài động vật
cao cấp, như loài linh trưởng chẳng hạn, đều có ý thức, nhận thức, là tính năng
hay khả năng chẳng bao giờ vật chất nào có được.
Cao nhất
trên tầng tháp đó, dĩ nhiên là con người, cá nhân và xã hội con người, đều có
tình cảm, bản năng, tư duy nhận thức, suy nghĩ, hành vi phù hợp, mà không bất kỳ
mọi loại vật chất nào có thể đạt đến được. Đó gọi là tinh thần, ý thức, trí thông
minh, cảm quan và lý trí, như một năng lực, một bản chất trừu tượng, linh hoạt,
không thể đồng hóa vào thân xác, vào vật chất nào khác cả. Đây cũng là chỗ tinh
thần khác với vật chất về mặt bản thân chính yếu là như vậy.
Đương
nhiên thân xác con người cũng là dạng sống, là dạng sống sinh học, vượt lên
trên vật chất đơn thuần mà vật chất đơn thuần không thể có được. Tuy rõ ràng
thân xác thì không thể nhận thức, nhưng cơ quan nhận thức duy nhất chính là não
bộ mà con người cũng như loài động vật có được. Nhưng cấu trúc và trọng lượng
hay thể tích óc não của con người và loài vật vẫn có nhiều dị biệt tự nhiên,
khách quan. Điều đáng nói là trung tâm thần kinh não bộ nói chung là hệ điều
hành mọi nhận thức sinh vật mà không vật chất nào có thể có được.
Vay nhưng
Mác, Engels, Lênin vẫn đều quy não bộ của con người cũng chỉ là vật chất vận động.
Họ quên rằng vận động cơ giới và vận động sinh học là hai dạng vận động hay hai
loại vận động hoàn toàn khác hẳn nhau. Vận động cơ giới hay máy móc hoàn toàn
không có sự sống, còn vận động sinh học hay vận động thân xác là có sự sống
trong chính bản thân của nó. Nhất là hệ thần kinh óc não cũng chỉ là hệ các tế
bào thần kinh hoạt động, nhưng chúng hoàn toàn cụ thể, ý học có thể nghiên cứu
mọi cấu trúc, tổ chức, hoạt động của nó một cách cụ thể, khách quan, hoàn toàn
chính xác. Song để từ đó mà hệ thống não bộ tạo ra ý thức, tình cảm, xúc cảm,
nhất là cảm thức, nhận thức của con người là hoàn toàn khác biệt. Nó có một “bước
nhảy” (leap, gap), một khoảng cách biệt, gián đoạn giữa hai thực thể, hai thế
giới, xác thân cụ thể và tinh thần trừu tượng mà các nhà duy vật biện chứng đó
hoàn toàn chỉ “đoán mò”, quy thuộc ra mà không hề có khả năng cũng không cần giải
thích. Đây là chỗ điểm yếu rõ ràng mà họ không bao giờ công khai thừa nhận hay
biện bạch được.
Họ chỉ
quơ vào não bộ cũng chỉ là vận động vật chất đơn giản thế thôi. Tức cũng chỉ là
quan điểm quy giản (reductionism) đơn thuần không hơn không kém. Họ chỉ dùng
khái niệm “biện chứng” để thay vào một cách đoán mò, chẳng có gì là khoa học
hay kể cả triết học nữa. Thành ra quan điểm duy vật cơ giới, máy móc đã thất bại,
mà quan điểm duy vật “biện chứng” thực chất cũng chỉ mơ hồ và hoàn toàn thất bại.
Cũng
chính mặt này mà quan điểm duy tâm lại đi theo con đường hoàn toàn khác. Duy
tâm thì chủ đạo lấy cái “tâm”, cái “tinh thần”, cái “siêu việt” (spirit,
intellect, transcendental) coi như một bản thể riêng biệt, tồn tại độc lập, tuy
có quan hệ nhưng thực sự vượt lên trên, kể cả ra ngoài mọi vật chất. Bởi vì điều
dễ hiểu là tinh thần thì trừu tượng, có năng lực nhận thức, trong khi vật chất
là hoàn toàn cụ thể, nhưng không hề và không bao giờ có năng lực nhận thức. Vật
chất thì không bao giờ có bất kỳ đặc tính tinh thần nào, cũng vậy, tinh thần
không bao giờ và không thể có bất kỳ thuộc tính hay đặc điểm vật chất nào. Đây
là hai thế giới đều có thực, hai bản chất, hai bản thể đều có thực, có tương
quan nhau nhất định, nhưng không trùng lắp, không đồng nhất, không thể đồng
hóa, không quy thuộc (non réduit), không xấp nhập, không thay thế, nói chung
không ràng buộc nhau hoàn toàn tuyệt đối. Đấy cũng chính duy tâm khác hẳn hay
hoàn toàn phân biệt với duy vật chính là như thế.
Điều
này cũng có nghĩa sự giải thích của duy tâm về nguồn gốc đầu tiên và tối hậu của
vũ trụ thực tại là có đấng sáng tạo nào đó (Creator), hay từ một dạng tinh thần
khởi nguyên nào đó (Spirituality, spiritualité, Geist, Logos, Idea …). Như Đông
phương thì cho là cái lý Thái Cực, cái Đạo, mà cả Khổng tử và Lão tử đều không
phủ nhận. “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật”, “Thái
cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái” v.v…Tức
vật chất không thể “tự sinh”, là điều tất nhiên căn bản nhất. Bảo vật chất tự
sinh tức là duy vật, bảo vật chất không thể tự sinh, tức là duy tâm. Còn bảo “Creatio
nex nihilo” như một quan điểm khác của Phương Tây, tức sự Sáng tạo đi ra từ Hư
không, thì hoặc có thể rơi vào thuyết hư vô chủ nghĩa (Nihilism), hay trở về
khái niệm Đạo (Tao) hoặc Thái cực của Phương Đông. Nói khác đi duy tâm thì rất
phong phú đa dạng, trong khi duy vật chỉ thuần túy nghèo nàn và hầu như trực cảm,
thiển cận, bế tắt.
Duy vật
đã bế tắt, còn duy vật biện chứng lại càng phi lý. Bởi cái gì làm cho vật chất
“biện chứng” trong khi tự bản thân nó chẳng chứa đựng điều gì ngoài trí lực
(inertie) của nó cả. Con voi chết có thể biến thành đất, nhưng không tảng đá
nào ngàn năm lại biến thành voi được. Người đàn bà có thể nhìn thấy con gà trước
mắt, nhưng con gà lẫn trong bụi rậm hay nằm bên kia bức tường, bà ấy phải chịu
thua vì không thấy có được dầu nó vẫn có ở đấy. Trong vũ trụ nhiều thiên hà
cách nhăm đến nhiều trăm tỉ năm ánh sáng, trái đất chỉ là hạt bụi trong thái
dương hệ, con người vòng đời chỉ có trăm năm, làm sao thấy được mọi sự trong
không gian đâu đó đang có mặt, nếu không phải chỉ đoán bừa, phủ nhận hay xác nhận
? Duy tâm mơ hồ dạng có lý còn duy vật cụ thể kiểu vô lý, đó là điều có thể thấy
ra được.
Nên vật
chất không phải mọi vật con người thấy trước mắt trong vũ trụ, còn cả sự sống
(vie, vitalité) là hiện tượng tiềm ẩn bên trong mà con người không thấy, bởi nó
vô hình, chỉ thấy qua được mọi hiện tượng hữu hình bên ngoài. Ngày nay được định
nghĩa vật chất cơ bản là những nguyên tử, những tổ hợp phân tử, nhưng thực chất
cuối cùng là những hạt cơ bản (particles), rồi sóng hạt, trường vật lý, trường
điện tử, những hạt quart nhiều vô số, cả nguyên lý bất định của Heidenberg,
không thể nào xác định được tọa độ lượng tử của chúng, tất cả lại rơi vào trong
thế giới lượng tử (quantum), hoàn toàn không cụ thể, thật là mờ mịt, mơ hồ,
không thể nào coi thường được nữa. Nhưng sự sống căn bản là đơn vị tế bào, đều
từ hệ thống các hạt điện tử (electron) cố kết với nhau từ nhân tế bào đến màng
tế bào, bằng mọi loại nối kết hóa học, thì kết quả cũng chỉ là các hạt năng lượng,
hay bản thân năng lượng (energy) làm hầu như “vật chất” quả khó mà hay không thể
còn xác định được.
Dĩ
nhiên, nói cách gián tiếp và thô thiển, chính những hạt photon, tách ra từ tia
sáng mặt trời tạo nên chất diệp lục tố cho cây cỏ, là trung gian sự sống của mọi
loài, hay là khởi đầu cho mọi chuỗi thức ăn ăn thiết. Nhưng nếu trái đất chỉ
nhích đi xa hay gần mặt trời dầu một khoảng cự ly nào đó, liệu có còn được hệ
thống sự sống trên mặt đất hay không ? Đây cũng chính là điều nghiêng hẳn về
phái duy tâm mà không thể nào về phái duy vật thuần túy.
Nói
chung lại, khoa học và triết học cần phải đều có chứng lý, chứng minh, không thể
nào nói suông cách quơ quào, úp bộ, áp đặt được. Nhưng chứng cứ khoa học luôn
luôn phải là chứng cứ cụ thể, còn chứng cứ triết học lại chính là chứng lý trừu
tượng. Khoa học thì không được dùng đến hay không thể dùng đến trực giác
(intuition) một cách thiết yếu được, nhưng điều đó thì triết học lại có thể.
Nhưng nói cho kỳ cùng, triết học luôn vẫn là sự nhận thức của lý trí, nhận thức
suy lý, có căn cơ, có lý tính, không thể chỉ kiểu cảm tính, thị hiếu, kiểu cả
vú lấp miệng em theo cách độc đoán, cạn hẹp, phi nguyên tắc nào đó được. Sự
khác biệt nhau giữa duy vật và duy tâm ở đây, rõ ràng là một hệ đóng và một hệ
mở. Hệ đóng thì dễ chủ quan, thiển cận, bó hẹp, bế điểm, trong khi hệ mở vẫn
luôn là một tương quan phát triển, luôn gợi mở và triển vọng. Đây có thể là một
gợi ý đúc kết cho bài viết này, nhằm mở ra một chân trời nào đó cho triết học
mà Hiện tượng luận (phenomenology) của Husserl đã từng mở ra rất lâu trước đây,
điều đó có nghĩa triết học không bao giờ bị dừng lại hay bị bế tắt hoặc bị loại
bỏ như kiểu Mác đã nói. Mác dùng con đường cụt “duy vật” để đóng cửa triết học,
lại dùng con đường tưởng tượng “duy vật biện chứng” để tự sướng không căn cứ, rồi
còn dùng con đường “duy vật lịch sử” để tung hỏa mù một thời cho lịch sử xã hội
loài người, thật là một điều quái lạ, mà ở nước ta không ai khác là ông Trần Đức
Thảo đã tưng tưng nhảy nhót một thời trên con đường mòn xuyên rừng âm u đó của
chính Các Mác.
By VÕ HƯNG THANH
(04/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét