PHÊ
PHÁN NỘI DUNG TUYÊN NGÔN
CỘNG
SẢN ĐẢNG CỦA CÁC MÁC
1/
Thuyết đấu tranh giai cấp từ xã hội khởi thủy :
Mác
(1818 - 1883), viết bản Tuyên ngôn Cộng
sản (Manifest der Kommunistischen Partei, The
Communist Manifesto, Manifeste du parti communiste) vào năm 1848, năm 30 tuổi, kiểu dạng một tập luận chiến (pamplet), nhưng
nó lại mang tính cách chính thức quan trọng không kém gì bộ Tư bản luận (Das Kapital) từ năm 1867 dến 1883, gồm 3 tập,
non cả ngàn trang, coi như tác phẩm chính yếu, cốt lõi tạo nên toàn bộ học thuyết
ông ta là một học thuyết kinh tế xã hội triết học, đã từng chế ngự một thời gian
lâu dài trên cả thế giới. Hai yếu tố này là bộ phận nền tảng nhất trong lý thuyết
kinh tế chính trị xã hội của Mác, thường được coi là tư tưởng của Mác vào thời
già, còn các tác phẩm trước đó đều gọi chung là tác phẩm thời trẻ, gồm chủ yếu
các mặt triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Rõ ràng hai bộ phận
này chủ yếu gắn liền với nhau, bởi không có các tác phẩm thời trẻ cũng khó có
được các tác phẩm thời già của Mác. Cái sau được nối tiếp cho cái trước, hay được
dẫn dắt, trích xuất ra từ nền tảng trước, cái sau có ẩn ngầm cái trước trong
đó, chính là điều quan trọng trước tiên cần nên lưu ý. Bởi quan điểm của Mác
không phải chỉ nhìn kinh tế chính trị xã hội như một lãnh vực hoàn toàn riêng
biệt độc lập, mà gắn nó vào duy nhất một nền tảng, một cơ sở chung đó là triết
học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dầu duy vật lịch sử thật ra cũng chỉ
là duy vật biện chứng được nhìn trên bình điện xã hội và lịch sử.
Tác phẩm “Tuyên Ngôn Cộng sản đảng” này vào khoảng 40 trang, nguyên bản
tiếng Đức, có phần Lời tựa và bốn Chương nội dung, đã được dịch ra nhiều lần
bởi các tiếng Châu Âu khác ngay từ đầu. Nhưng đặc biệt trong đó có lời mở đầu
và lời kết luận là nổi bật nhất, căn bản nhất, và cũng tóm lược hay toát lên cả
tinh thần, mục đích chung của tác phẩm. Cụ thể câu đầu tiên : “Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay
đều là lịch sử đấu tranh giai cấp” [The history of all
hitherto existing society is the history of class struggles].
[L’histoire
des sociétés n’a été que l’histoire des luttes de classes]. (“Die Geschichte aller bisherigen Gesellschaft ist die
Geschichte von Klassenkämpfen. Unter Proletariat, die Klasse der modernen Lohnarbeiter, die, da
sie keine eigenen Produktionsmittel besitzen, darauf angewiesen sind, ihre
Arbeitskraft zu verkaufen, um leben zu können”). “Mà trong đó hiện giờ, giai cấp vô
sản là giai cấp làm thuê hiện đại, không có bất kỳ tư liệu sản xuất riêng nào,
ngoại trừ chỉ đem bán sức lao động của mình để có thể kiếm sống”. Để từ đó,
câu nói kết thúc là : “Vô sản mọi nơi hãy đoàn kết lại” [“Proletarier aller Länder, vereinigt euch!] (“Working Men of All Countries, Unite!”,
“Prolétaires de tous les pays, unissez-vous”).
Ngoài hai ý nghĩa chốt lại nói trên, suốt nội dung của tác phẩm Mác chỉ
nhằm vạch lại sự phân chia và đấu tranh giai cấp đã diễn tiến thế nào qua lịch
sử trong các thời đại trước kia như người tự do và người nô lệ, nông nô và giới
thượng lưu quý tộc … nói chung lại, đều chỉ
là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, đã luôn đấu tranh nhau không
ngừng nghỉ, bằng nhiều hình thức khác nhau, khi ngấm ngầm khi công khai, cuối
cùng luôn phải kết thúc bằng một cuộc cách mạng thay đổi trật tự xã hội đã có,
rồi lại tiếp tục như vậy, qua một giai đoạn mới.
Tức : “Freier und Sklave, Patrizier und Plebejer, Baron und Leibeigener,
Zunftbürger und Gesell, kurz,
Unterdrücker und Unterdrückte standen in stetem Gegensatz zueinander,
führten einen ununterbrochenen, bald versteckten, bald offenen Kampf, einen
Kampf, der jedesmal mit einer revolutionären Umgestaltung der ganzen
Gesellschaft endete oder mit dem gemeinsamen Untergang der kämpfenden Klassen”.
“In den früheren Epochen
der Geschichte finden wir fast überall eine vollständige Gliederung der
Gesellschaft in verschiedene Stände, eine mannigfaltige Abstufung der
gesellschaftlichen Stellungen. Im alten Rom haben wir Patrizier, Ritter, Plebejer,
Sklaven; im Mittelalter Feudalherren, Vasallen, Zunftbürger, Gesellen,
Leibeigene, und noch dazu in fast jeder dieser Klassen besondere Abstufungen.”
“Freeman and slave, patrician and plebeian, lord and serf,
guild-master and journeyman, in a word, oppressor and oppressed, stood in constant opposition to one another, carried on an
uninterrupted, now hidden, now open fight, a fight that each time ended, either
in a revolutionary reconstitution of society at large, or in the common ruin
of the contending classes”.
“In the earlier epochs
of history, we find almost everywhere a complicated arrangement of society into
various orders, a manifold gradation of social rank. In ancient Rome we have
patricians, knights, plebeians, slaves; in the Middle Ages, feudal lords,
vassals, guild-masters, journeymen, apprentices, serfs; in almost all of these
classes, again, subordinate gradations.”
“Hommes libres et
esclaves, patriciens et plébéiens, barons et serfs, maîtres de jurandes et
compagnons en un mot, oppresseurs et opprimés, en opposition constante, ont
mené une guerre ininterrompue, tantôt ouverte, tantôt dissimulée ; une
guerre qui toujours finissait par une transformation révolutionnaire de la
société tout entière ou par la destruction des deux classes en lute”.
“Dans les premières époques historiques, nous rencontrons presque
partout une division hiérarchique de la société, une échelle graduée de
positions sociales. Dans la Rome antique, nous trouvons des patriciens, des
chevaliers, des plébéiens et des esclaves ; au moyen âge, des seigneurs,
des vassaux, des maîtres, des compagnons et des serfs, et, dans chacune de ces
classes, des gradations spéciales”.
Theo Mác, điều đó luôn diễn ra suốt từ xã hội xa xưa, qua thời kỳ La mã,
Phong kiến, Trung cổ, cho tới nay, trong xã hội tư sản, trở thành giai cấp tư
sản và giai cấp vô sản. Và mục đích chính của Mác là tập trung vào thời kỳ hiện
đại này.
Nhưng rõ ràng ta thấy Mác chỉ “mô tả”, chỉ “thuật lại” lịch sử theo quan
điểm của mình, là lịch sử xã hội luôn
luôn có đấu tranh giai cấp (Gesellschaft ist
die Geschichte von Klassenkämpfen), còn ngoài ra
không nêu rõ, hay không lý giải sâu xa các chi tiết cụ thể của nó ra sao. Dĩ
nhiên giai cấp là giai tầng hay đẳng cấp xã hội, do đâu mà nó có, có phải chỉ
thuần túy nhờ đấu tranh lợi ích hay không. Bởi ta biết từ khi con người lập
thành bộ lạc, các lãnh chúa phong kiến rồi nhà nước hình thành, cái khởi đầu
chính là sự tranh giành quyền lực, mạnh được yếu thua, tạo nên những tổ chức
khu vực xã hội nhất định. Luật pháp và sự tổ chức đều là những yếu tố không thể
thiếu trong mọi trật tự xã hội. Nó luôn chia thành giới nắm quyền và giới được
cai trị, vậy có phải thuần túy chỉ do “đấu tranh giai cấp” như kiểu quyền lợi
kinh tế như Mác nghĩ hay không ?
Mác chủ yếu không thấy yếu tố con người và yếu tố xã hội. Cá nhân mỗi
người là yếu tố tạo thành xã hội, tâm lý, ý thức cá nhân hòa thành tâm lý, ý
thức xã hội. Bên cạnh nó là tổ chức và quyền hành xã hội được thành hình, tất
nhiên nó có thể biến chuyển, thay đổi qua từng thời kỳ, giai đoạn, nhưng nguyên
nhân và nền tảng có thể do nhiều yếu tố phức tạp khác nhau, không thể chỉ quy
chiếu thuần độc nhất vào quyền lợi giai cấp. Bởi vì cho giới nào lên thì các
yếu tố cơ bản cấu thành tâm lý con người và cấu thành tổ chức chung của xã hội
đều bắt buộc phải có, như tình cảm, năng lực, bản năng, cảm xúc, tinh thần, ý
thức riêng và chung v.v…Mác bỏ qua và quên đi những yếu tố cấu thành tự nhiên,
khách quan, cụ thể đó, chỉ chăm bẳm vào quyền lợi giai cấp như là động cơ, động
lực duy nhất làm tồn tại và chuyển biến xã hội, điều đó có thật sự xác đáng hay
không. Vả lại quyền lợi giai cấp đó sao lại chuyển biến, thay đổi, do các yếu
tố nào, Mác không hề quan tâm phân tích đầy đủ hoặc sâu xa hơn.
Phải chăng thâm ý của Mác là một người có tư tưởng duy vật thuần túy, mà
là duy vật biện chứng, quan niệm vật chất luôn luôn vận động, mâu thuẫn qua hai
đầu đối lập, thành ra tác động vào xã hội cũng theo quy luật gọi là duy vật
lịch sử ? Bệnh lý của Mác quả thật là kiểu bệnh lý cực đoan và quy chiếu một
chiều, đó không phải tinh thần khoa học hay triết học rộng rãi, bao quát, khách
quan, vô tư, mà thật sự dễ dàng rơi vào cảm tính và thị hiếu, tức chỉ chăm chú
nhìn vào các hiện tượng bên ngoài, không cần phân tích chiều sâu, bao quát hơn,
miễn sao nhằm đáp ứng mong muốn và mục tiêu vốn có của mình.
Bởi vậy khi tiếp tục phân tích vào xã hội tư bản, Mác viết : “Thời đại của chúng ta, thời đại của tư sản,
cho thấy rõ rệt sự đối kháng giai cấp trở nên thống nhất. Toàn bộ xã hội càng
ngày càng phân thành hai tình trạng thù địch nhau lớn, hai giai cấp đối kháng
trực tiếp nhau lớn lao : Tư sản và Vô sản” (“Unsere
Epoche, die Epoche der Bourgeoisie, zeichnet sich jedoch dadurch aus, daß sie
die Klassengegensätze vereinfacht hat. Die ganze Gesellschaft spaltet sich mehr
und mehr in zwei große feindliche Lager, in zwei große, einander direkt
gegenüberstehende Klassen: Bourgeoisie und Proletariat”).
“Our epoch, the epoch of the bourgeoisie, possesses, however, this
distinct feature: it has simplified class antagonisms. Society as a whole is
more and more splitting up into two great hostile camps, into two great classes
directly facing each other — Bourgeoisie and Proletariat”.
[“Le caractère distinctif de notre époque, de l’ère de la
Bourgeoisie, est d’avoir simplifié les antagonismes de classes. Elle n’a fait
que substituer aux anciennes de nouvelles classes, de nouvelles conditions
d’oppression, de nouvelles formes de lutte”]
Nhưng tại sao có tình
trạng này, Mác viết : “Các phương tiện
sản xuất và giao thương, trên cơ sở đó xã hội tư bản hình thành, được phát sinh
ra ngay từ trong lòng xã hội phong kiến. Đến một mức phát triển nào đó về các
phương tiện sản xuất và giao thương này, đưa đến một sự thay đổi phù hợp trong
xã hội phong kiến vốn đã tạo ra nó, qua cơ cấu nông nghiệp và xưởng thợ, nơi xã
hội đó, nói chung lại, mối quan hệ sở hữu làm cho các lực lượng sản xuất không
còn có thể phát triển nữa, khiến làm ngăn cản sự sản xuất thay vì làm phát triển
nó, đã tự biến ra thành xiềng xích. Nên cần phải được giải phóng, và đã được
giải phóng. Đưa đến tình trạng tự do cạnh tranh buộc phải có trong điều kiện xã
hội chính trị mang lại sự ngự trị về kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản”
(“Die Produktions- und Verkehrsmittel,
auf deren Grundlage sich die Bourgeoisie heranbildete, wurden in der feudalen
Gesellschaft erzeugt. Auf einer gewissen Stufe der Entwicklung dieser
Produktions- und Verkehrsmittel entsprachen die Verhältnisse, worin die feudale
Gesellschaft produzierte und austauschte, die feudale Organisation der
Agrikultur und Manufaktur, mit einem Wort die feudalen Eigentumsverhältnisse
den schon entwickelten Produktivkräften nicht mehr. Sie hemmten die Produktion,
statt sie zu fördern. Sie verwandelten sich in ebensoviele Fesseln. Sie mußten
gesprengt werden, die wurden gesprengt. An ihre Stelle trat die freie Konkurrenz
mit der ihr angemessenen gesellschaftlichen und politischen Konstitution, mit
der ökonomischen und politischen Herrschaft der Bourgeoisklasse”).
[“The means of production and of exchange, on whose foundation the
bourgeoisie built itself up, were generated in feudal society. At a certain stage in the
development of these means of production and of exchange, the conditions under
which feudal society produced and exchanged, the feudal organisation of
agriculture and manufacturing industry, in one word, the feudal relations of
property became no longer compatible with the already developed productive
forces; they became so many fetters. They had to be burst asunder; they were
burst asunder. Into their place stepped free competition,
accompanied by a social and political constitution adapted in it, and the
economic and political sway of the bourgeois class”].
[“Les moyens de production et d’échange, servant de base à
l’évolution bourgeoise, sont créés dans le sein de la société féodale ; à
un certain degré du développement de ces moyens de production et d’échange, les
conditions dans lesquelles la société féodale produit et échange ses produits,
l’organisation féodale de l’industrie et de la manufacture, en un mot les
rapports de la propriété féodale, cessent de correspondre aux nouvelles forces
productrices. Ils entravent la production au lieu de la développer. Ils se
changent en autant de chaînes. Il faut les briser ; et ils se sont brisés.
À leur place s’éleva la libre concurrence avec une constitution sociale et
politique correspondante, avec la domination économique et politique de la
classe bourgeoise”].
Đây có thể coi như
đoạn căn bản nhất nói lên sự hình thành của giai cấp và đấu tranh giai cấp từ
trước đến nay, theo quan điểm của Mác, và nhất là sự hình thành giai cấp tư sản
sau này. Qua đó có thể thấy mối quan hệ sở hữu, lực lượng sản xuất (tức sức mạnh
làm ra và giao thương trao đổi hàng hóa trong xã hội), và quan hệ sản xuất đều
là những yếu tố then chốt chính yếu nhất. Tự trung Mác cho quyền tư hữu là đầu
mối của phát sinh ra giai cấp. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất làm cho
các giai cấp thay đổi và thay thế nhau, và cuối cùng Mác tập trung phân tích và
lên án xã hội tư sản cũng như tư bản về mọi mặt nhằm đi đến đánh giá giai cấp
vô sản và vai trò trong tương lai của nó.
Nhưng cơ bản của Mác,
luôn chỉ nhằm mô tả lịch sử theo quan niệm của mình để cuối cùng định ra kết
luận mà mình cảm nhận, song ít khi phân tích, đào sâu thêm các nguyên nhân tối
hậu về mọi điều mình nhận định. Ví dụ Mác không nói do đâu có tư hữu là điều
căn bản đầu tiên nhất. Hay khi phân tích, đả kích mọi mặt xã hội tư bản, Mác
chỉ biết lên án tiền tệ, lên án quan hệ làm thuê chủ thợ, mà không đi xa thêm
về mối quan hệ kinh tế xã hội ở đây có sự quan hệ ràng buộc hay nảy sinh ra thế
nào. Nói khác đi, cách phân tích của Mác là cách phân tích theo định hướng, tức
là theo ý đồ có sẳn, phục vụ cho cảm tính, thị hiếu hay mục đích, ý thích, mà
quên phần đi sâu và khoa học khách quan, bởi Mác vẫn cho đó là kiểu phi tính
giai cấp hay nói chung là kiểu “tư sản”, hoặc ngay cả quan điểm “phản động”.
Chính đây là đoạn căn
bản nhất trong tư tưởng kinh tế chính trị xã hội của Mác, hay cũng là tư tưởng
về biện chứng duy vật lịch sử trong toàn bộ học thuyết Mác, bao gồm cả trong Tư
bản luận và Tuyên ngôn cộng sản, nên tôi trích luôn cả phần tiếng Anh và tiếng
Pháp nhằm làm đối chiếu tham khảo cho ai không biết tiếng Đức. Và đến đây tưởng
cũng đã hiểu trọn vẹn theo cách đại cương cốt lõi nhất quan điểm đấu tranh giai
cấp của Mác là gì, mục đích của nó ra sao, đâu là yếu tố quyết định nhất, bởi
vì mọi phần tiếp theo hay nhiều nơi khác Mác không đi ra ngoài các phân tích
quãng điễn ra chung quanh những điều đó. Bởi thuyết của Mác nhìn chung lại chỉ
là lý thuyết đấu tranh giai cấp trong xã hội, và nền tảng của nó bắt nguồn từ
học thuyết duy vật, nhất là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nói chung mà
không gì khác.
Bởi khi chủ trương
tuyệt đối duy vật, Mác không đánh giá cao ý nghĩa tinh thần như thông thường,
mà chỉ cho đó không ngoài chỉ là ý nghĩa của vật chất, như kiểu vật chất không
ngừng vận động, tinh thần chỉ là sản phẩm, là phụ phẩm, hay cũng chỉ bản thân
là vật chất, và cả lợi ích hay quyền lợi kinh tế cũng coi là mục tiêu, động
lực, và ý nghĩa duy nhất trong xã hội có giai cấp hay có đấu tranh giai cấp xưa
nay của nhân loại. Đây có thể là quan niệm rất cực đoan, một chiều, cạn hẹp, quá
khích, mà bất kỳ ai nghiên cứu học thuyết Mác cách trung thực và sâu xa đều có
thể thấy ra được.
Mác viết : “Giai cấp tư sản đã gần suốt cả trăm năm tích
lũy củng cố sức mạnh của mình và tạo nên sức sản suất khổng lồ bằng cả bao
nhiêu giai đoạn đã qua cộng lại” … “Vũ khí mà giới tư sản đã hạ gục được giới
phong kiến trước kia nay lại chống lại chính bản thân của giới tư sản”... “Điều
kiện thiết yếu cho sự tồn tại và thống lĩnh của giai cấp tư sản là việc tập
trung sự giàu có vào trong tay các nhà tư sản, sự tạo thành của tư bản là từ nơi
công việc làm thuê của thợ thuyền. Việc làm thuê cốt yếu đặt nền tảng trên sự
cạnh tranh giữa người lao động với nhau. Sự phát triển của công nghiệp nay lại
vượt qua tầm của họ, tạo cho lực lượng vô sản cách mạng gia tăng lên và kết hợp
lại. Với đà phát triển của đại kỹ nghệ cũng sẽ làm mất đi chỗ đứng nền tảng của
giới tư bản, cái mà họ tạo ra và làm nền móng cho họ, nay trước hết lại trở
thành kẻ đào huyệt chon họ. Sự thất bại của giới tư sản và sự chiến thắng của
giới vô sản hầu là điều không thể tránh được” (“Die
Bourgeoisie hat in ihrer kaum hundertjährigen Klassenherrschaft massenhaftere
und kolossalere Produktionskräfte geschaffen als alle vergangenen Generationen
zusammen”… “Die Waffen, womit die Bourgeoisie den Feudalismus zu Boden
geschlagen hat, richten sich jetzt gegen die Bourgeoisie selbst”… “Die wesentliche
Bedingung für die Existenz und für die Herrschaft der Bourgeoisklasse ist die
Anhäufung des Reichtums in den Händen von Privaten, die Bildung und Vermehrung
des Kapitals; die Bedingung des Kapitals ist die Lohnarbeit. Die Lohnarbeit
beruht ausschließlich auf der Konkurrenz der Arbeiter unter sich. Der
Fortschritt der Industrie, dessen willenloser und widerstandsloser Träger die
Bourgeoisie ist, setzt an die Stelle der Isolierung der Arbeiter durch die
Konkurrenz ihre revolutionäre Vereinigung durch die Assoziation. Mit der
Entwicklung der großen Industrie wird also unter den Füßen der Bourgeoisie die
Grundlage selbst hinweggezogen, worauf sie produziert und die Produkte sich
aneignet. Sie produziert vor allem ihren eigenen Totengräber. Ihr Untergang und
der Sieg des Proletariats sind gleich unvermeidlich”).
[“The bourgeoisie,
during its rule of scarce one hundred years, has created more massive and more
colossal productive forces than have all preceding generations together”. “In proportion as the
bourgeoisie, i.e., capital, is developed, in the same proportion is the
proletariat, the modern working class, developed — a class of labourers, who
live only so long as they find work, and who find work only so long as their
labour increases capital”. “Thus the proletariat is recruited from all classes
of the population”. “The proletariat goes through various
stages of development. With its birth begins its struggle with the bourgeoisie”.
“But with the development of industry, the proletariat not only increases in
number; it becomes concentrated in greater masses, its strength grows, and it
feels that strength more”. “The weapons with which the bourgeoisie felled feudalism to the
ground are now turned against the bourgeoisie itself. “But not
only has the bourgeoisie forged the weapons that bring death to itself; it has
also called into existence the men who are to wield those weapons — the modern
working class — the proletarians”. “What the bourgeoisie
therefore produces, above all, are its own grave-diggers. Its fall and the
victory of the proletariat are equally inevitable”].
[“Avec le développement
de la bourgeoisie, c’est-à-dire du capital, se développe le Prolétariat, la
classe des ouvriers modernes, qui ne vivent qu’à la condition de trouver du
travail et qui n’en trouvent plus dès que leur travail cesse d’agrandir le
capital”… “Le Prolétariat passe par différentes phases d’évolution. Sa lutte contre la bourgeoisie
commence dès sa naissance”... “Le développement de l’industrie, non seulement grossit le nombre
des prolétaires, mais les concentre en masses plus considérables : ils
acquièrent des forces et acquièrent la conscience de ces forces”... “La bourgeoisie
fournit au prolétariat les éléments de son progrès, c’est-à-dire des armes
contre la bourgeoisie”. “À leur place s’éleva la libre concurrence avec une
constitution sociale et politique correspondante, avec la domination économique
et politique de la classe bourgeoise”.
“De toutes les classes
actuellement adversaires de la bourgeoisie, le prolétariat seul est la classe
vraiment révolutionnaire. Les autres classes se désagrègent et disparaissent
par le fait de la grande industrie; le prolétariat, au contraire, est son
produit particulier”. “Les prolétaires ne peuvent s’emparer des forces productrices
sociales qu’en abolissant leur propre mode d’appropriation” … “Le prolétariat,
dernière couche de la société officielle, ne peut s’élever sans bouleverser
toutes les couches supérieures de cette société”. “Avec le développement de la bourgeoisie, c’est-à-dire du
capital, se développe le Prolétariat, la classe des ouvriers modernes, qui ne
vivent qu’à la condition de trouver du travail et qui n’en trouvent plus dès
que leur travail cesse d’agrandir le capital”. “Jusqu’au moment où éclate en une révolution et que le
prolétariat impose sa domination par l’écrasement de la bourgeoisie”. “La
condition essentielle d’existence et de suprématie pour la classe bourgeoise
est l’accumulation de la richesse dans des mains privées, la formation et
l’accroissement du capital; la condition du capital est le salariat”. “La
bourgeoisie produit avant tout ses propres fossoyeurs. Sa chute et le triomphe
du prolétariat sont également inévitables”].
Tất cả nội dung này
đều được tập trung và trích dẫn từ Chương I của Tuyên ngôn. Và đây cũng có thể gọi
được là quan điểm về cái nhìn theo biện chứng duy vật lịch sử mà Mác đưa ra.
Tức một lực lượng vật chất rồi tự nó sẽ đào thải nó, bằng cách tự mâu thuẫn, tự
chối bỏ và bị vượt qua, kiểu giai cấp vô sản phải nhường bước cho giai cấp vô
sản, giống như trước kia giai cấp tư sản đã từng đánh bại và chiến thắng giai
cấp phong kiến. Giờ đây giai cấp tư bản làm thuê đã tạo nên tư bản, máy móc,
công nghiệp cho giai cấp tư sản, và cũng chính vũ khí đó tới thời điểm nào đó
lại chỉa ngay vào bản thân của giai cấp tư bản.
Tuy nhiên rồi Mác vẫn
kết luận : “Mỗi cuộc đấu tranh giai cấp vẫn là cuộc đấu tranh chính trị” (“Jeder Klassenkampf ist aber ein politischer Kampf”/“Every class struggle is
a political struggle”/“toute lutte de classes est une lutte politique”). Tức khởi đầu Mác
xem đấu tranh giai cấp như một tiến trình, một bộ phận vận động tự động, cơ chế
mang tính cơ giới của toàn bộ xã hội, đến sau Mác đem gắn vào với một tổ chức
đảng phái cụ thể, những người cộng sản hay đảng cộng sản đã và đang có mặt hoạt
động cụ thể vào thời buổi lịch sử đó. Bởi thật ra nếu đấu tranh giai cấp kiểu
tự động như Mác quan niệm, thì luôn mút chỉ cà na chẳng biết khi nào dừng lại.
Nên Mác phải đem gắn vào với chủ đích hoạt động của một nhóm người cụ thể là
những người cộng sản (communist) hay tổ chức đảng cộng sản để biến cuộc đấu
tranh giai cấp cuối cùng của những người vô sản trong xã hội tư bản, nhằm đi
đến giai cấp vô sản thống trị duy nhất, để đi lên xã hội cộng sản sau này không
còn giai cấp.
2/
Thuyết đấu tranh giai cấp trong xã hôi tư bản :
Mác viết : “Những người cộng sản không hề là đảng phái
đối lập với các đảng phái thợ thuyền khác. Họ không có bất kỳ lợi ích nào tách
biệt với toàn bộ lợi ích của những người vô sản … Mục đích trước mắt của những
người cộng sản cũng chính là mục đích của các đảng những người vô sản khác :
tạo những người vô sản ra thành giai cấp, lật dộ xã hội tư sản, xây dựng nên
sức mạnh chính trị của chung giới vô sản” (“Die
Kommunisten sind keine besondere Partei gegenüber den andern Arbeiterparteien.
Sie haben keine von den Interessen des ganzen Proletariats getrennten
Interessen ... Der nächste Zweck der
Kommunisten ist derselbe wie der aller übrigen proletarischen Parteien: Bildung
des Proletariats zur Klasse, Sturz der Bourgeoisherrschaft, Eroberung der
politischen Macht durch das Proletariat”.
“Điều mà chủ nghĩa cộng sản nhằm đến không phải bải bỏ quyền tư hữu nói
chung nhưng là bải bỏ quyền tư hữu của giai cấp vô sản. Nhưng quyền tư hứu tài
sản của tư sản hiện đại là sự biểu hiện sau cùng và toàn diện về sự vận dụng và
chiếm hữu sản phẩm nhờ vào sự đối kháng giai cấp, dựa trên sự tướt đoạt giai
cấp này đối với giai cấp khác” (“Was den Kommunismus auszeichnet, ist nicht die
Abschaffung des Eigentums überhaupt, sondern die Abschaffung des bürgerlichen
Eigentums”. “Aber das moderne bürgerliche Privateigentum ist der letzte und
vollendetste Ausdruck der Erzeugung und Aneignung der Produkte, die auf
Klassengegensätzen, auf der Ausbeutung der einen durch die andern beruht”).
“Trong ý nghĩa này, có thể tóm lược lại lý thuyết của những người cộng
sản là như thế này: hủy bỏ quyền tư hữu nói chung ”. “Quyền tư hữu trong tình cảnh hiện nay chính là sự đối lập giữa tư bản
và lao động làm thuê”. “Tư bản không phải mang ý nghĩa sức mạnh quyền lự cá
nhân mà là sức mạnh quyền lực xã hội”. “
(“In diesem Sinn können die
Kommunisten ihre Theorie in dem einen Ausdruck: Aufhebung des Privateigentums,
zusammenfassen”. “Das Eigentum in
seiner heutigen Gestalt bewegt sich in dem Gegensatz von Kapital und Lohnarbeit”.
“Das Kapital ist also keine persönliche, es ist eine gesellschaftliche Macht”.
“Lịch sử của toàn bộ xã hội đến nay diễn ra trong sự đối kháng giai cấp,
dầu là có thể khác nhau theo từng thời kỳ, giai đoạn. Việc đưa những người vô
sản lên giai cấp nắm quyền nhằm đấu tranh cho sự dân chủ”. (“Die Geschichte der ganzen bisherigen
Gesellschaft bewegte sich in Klassengegensätzen, die in den verschiedensten
Epochen verschieden gestaltet waren”. “Die Erhebung des Proletariats zur
herrschenden Klasse, die Erkämpfung der Demokratie ist”).
“Giai cấp vô sản sẽ sử dụng việc thống trị chính trị của mình, giới tư
sản phải dần dần bị tướt đoạt đi tư bản của họ. mọi công cụ sản xuất sẽ được
đặt trong tay nhà nước, trong tính cách giai cấp vô sản thống trị được tổ chức
ra, nhằm tập trung toàn bộ lực lượng sản xuât để có thể phát triển nhiều hơn”.
“Chắc hẳn giai cấp thống trị sẽ phải run
sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản. Người vô sản chẳng có gì để mất ngoài ra
xích xiềng của họ. Họ chiếm hữu được cả một thế giới”( “Das Proletariat wird seine politische
Herrschaft dazu benutzen, der Bourgeoisie nach und nach alles Kapital zu
entreißen, alle Produktionsinstrumente in den Händen des Staats, d.h. des als
herrschende Klasse organisierten Proletariats, zu zentralisieren und die Masse
der Produktionskräfte möglichst rasch zu vermehren”. “Mögen die herrschenden
Klassen vor einer kommunistischen Revolution zittern. Die Proletarier haben
nichts in ihr zu verlieren als ihre Ketten. Sie haben eine Welt zu gewinnen”).
[“The immediate aim of
the Communists is the same as that of all other proletarian parties: formation
of the proletariat into a class, overthrow of the bourgeois supremacy, conquest
of political power by the proletariat”. “They have no interests
separate and apart from those of the proletariat as a whole”. “The
distinguishing feature of Communism is not the abolition of property generally,
but the abolition of bourgeois property”. “The theory of the Communists may be
summed up in the single sentence: Abolition of private property”. “The
Communists do not form a separate party opposed to the other working-class
parties”. “By proletariat, the class of
modern wage labourers who, having no
means of production of their own, are reduced to selling their labour power in order to live”.
“The development of
class antagonisms, antagonisms that assumed different forms at different epochs”. “But whatever form they may have taken, one fact is common to all
past ages, viz., the exploitation of one part of society by the
other”. “The proletariat will use its political supremacy to wrest, by degree,
all capital from the bourgeoisie, to centralise all instruments of production
in the hands of the State, i.e., of the proletariat organised as
the ruling class; and to increase the total productive forces as rapidly as
possible”].
[“Man’s consciousness,
changes with every change in the conditions of his material existence, in his
social relations and in his social life”. “The ruling ideas of
each age have ever been the ideas of its ruling class”. “In proportion as the
antagonism between classes within the nation vanishes, the hostility of one
nation to another will come to an end”. “The emancipation of
the proletariat”. “Can no longer be any wage-labour when there is no longer any
capital”. “The theory of the Communists may be summed up in the
single sentence: Abolition of private property”. “Bourgeoisie is meant the
class of modern capitalists, owners of the means of social
production and employers of wage labour”. “Let the ruling classes
tremble at a Communistic revolution. The proletarians have nothing to lose but
their chains. They have a world to win”].
[“Les communistes ne
forment pas un parti distinct opposé aux autres partis ouvriers. Ils n’ont
point d’intérêts distincts de ceux du prolétariat tout entire”. “Les communistes sont
donc la partie la plus résolue, la plus avancée des partis ouvriers
de tous les pays; “Le but immédiat des communistes est le même que celui
de toutes les fractions du prolétariat : organisation des prolétaires en
parti de classe, destruction de la suprématie bourgeoise, conquête du pouvoir
politique par le proletariat”. “Le caractère distinctif du communisme n’est pas
l’abolition de la propriété en général, mais l’abolition de la propriété
bourgeoise”. Or, la propriété privée bourgeoise est la dernière et la plus
parfaite expression de la production et de l’appropriation des produits sur la
base des antagonismes de classes, de l’exploitation des uns par les autres”].
[“Les communistes
peuvent résumer leur théorie dans cette proposition: abolition de la
propriété privée”. “La propriété qui exploite le travail salarié, et qui ne
peut s’accroître qu’à la condition de créer du nouveau travail salarié, afin de
l’exploiter encore. Dans sa forme présente, la propriété se meut entre les deux
termes antinomiques: capital et travail salarié”. [“Le capital n’est donc pas
une force personnelle, mais une force sociale”. “Dans la société bourgeoise, le
travail vivant n’est qu’un moyen d’accroître le travail accumulé. Dans la
société communiste, le travail accumulé ne sera qu’un moyen d’élargir et
d’embellir l’existence des travailleurs”. “Que les classes régnantes tremblent
à l’idée d’une révolution communiste. Les prolétaires n’ont rien à y perdre,
hors leurs chaînes: Ils ont un monde à gagner”].
Rõ ràng Mác lý luận
theo cách lạc quan một chiều. Hai yếu tố ban đâu tách biệt, khác nhau, nay được
Mác nối chung lại thành một. Đấu tranh giai cấp trong xã hội theo Mác là hiện
tượng khách quan luôn xảy ra trong lịch sử, nay Mác kết lại với người cộng sản,
với đảng của họ, coi như một sự thống nhất phải có, cả hai chỉ là một. Có quy
luật nào gắn kết như thế Mác không nói rõ ra. Bởi những người vô sản đều là
những công nhân phải lao động trong nhà máy, họ không bao giờ tách ra khỏi nơi
họ hoạt động được. Trong khi đó lãnh vực nhà nước là lãnh vực quản lý hành
chánh, luôn phải thuộc về một bộ phận chuyên môn khác. Hai đàng hoàn toàn khác
nhau, làm thế nào đem cái này gán ép cho cái kia, kiểu đã từng xảy ra thời Công
xã Paris trước kia dù Mác có nhắc đến, nhưng thực tế nó đã hoàn toàn thất bại.
Vả chăng trong diễn trình cách mạng như thế, làm sao không có các khuynh hướng
cơ hội, các cá nhân hay lực lượng tham vọng khác nhau, họ có thể cũng gia nhập
và cũng nhân danh cùng mục đích thì sao. Nói đi mà không nói lại, Mác chỉ nhằm
cố thấy có một chiều là như thế.
Vả ngay từ đầu trong lý thuyết đấu
tranh giai cấp, Mác chỉ nhìn thấy có hai điều hoặc chỉ quy vào hai điều là vật
chất luôn tự thân vận động và tính cách biện chứng giai cấp là điều luôn xảy ra
và không tránh khỏi. Mác nhìn đây chỉ như cơ chế tự nhiên mà không nhìn thấy bản
thân của chính con người và xã hội cụ thể. Tuy vậy Mác lại còn rất mặn mà với
lý thuyết tiến hóa của Darwin, đem vào trong vận động của xã hội loài người,
trong khi thuyết Darwin chỉ dừng lại nơi đấu tranh sinh tồn của loài vật.
Thuyết tiến hóa của Darwin chỉ mới áp dụng vào phạm vi sinh học, chưa xâm nhập
được vào ý thức và tinh thần trong xã hội loài người. Thuyết duy vật thuần túy,
thuyết tiến hóa Darwin, thuyết biện chứng tuy tâm của Hegel thật sự được Mác
vận dụng vào quan điểm đấu tranh giai cấp của mình cho thấy có vẻ nào đó khiên
cưỡng, áp đặt, mâu thuẫn, nghịch lý và lộn xộn, mà điều này rất cần phải được
soi sáng và lý giải có hữu lý hay không, không thể chỉ tin theo kiểu cảm tính
thiển cận và duy nhất một chiều. Nên sự thật, Mác đã cố ý nhìn cách bi đát giai
cấp thợ thuyền ở châu Âu vào đầu thế kỷ 19, trong khi đây cũng mới là thành
phần thiểu số so với số đông dân số. Và tình trạng này vẫn có thể cải thiện
được trong thực tế bằng nhiều cách khác nhau, không cần phải nhất thiết quan
trọng hóa đấu tranh giai cấp và thổi phồng hóa vai trò giai cấp vô sản như Mác
cốt ý làm. Trong khi sự phát sinh xã hội tư bản chỉ tự nhiên, khách quan, do
xuất hiện của khoa học kỹ thuật, không có gì đặc trưng, bí mật, lạ lùng cả.
Hơn thế nữa, vốn dĩ nhiều lần và
nhiều nơi khác tôi đã nói, về khía cạnh triết học, nếu quan niệm vật chất là
duy nhất tồn tại, ngoài ra không còn gì khác, thì vẫn có nhiều vấn nạn được đặt
ra như : tự bản thân nó vật chất là gì, do đâu nó có, và lý do tại sao tự nó
lại phát triển được theo kiểu quy luật biện chứng ? Vật chất luôn luôn vận
động, nhưng thật ra đó chỉ điều khách quan tự nhiên không ai có thể chối bỏ
được, và cũng chẳng có gì mới mẽ để lấy đó làm đặc biệt. Mọi vận động vật chất
trên mặt đất, trong bầu trời, nói chung mọi vận động cơ học đều luôn có. Thế
nhưng đưa vận động đó đến mức biện chứng, đến ý nghĩa biện chứng thì đó lại là
điều hoàn toàn khác. Một sự nhảy vọt chẳng có cơ sở nào cả. Nên quan điểm duy
vật tuyệt đối vẫn là điều phi lý, chưa có gì là tuyệt đối rạch ròi hay đầy đủ hết.
Vả chăng, thuyết biện chứng của
Hegel là thuyết biện chứng duy tâm, nó chỉ tồn tại được trong bản chất duy tâm,
còn không thể có ở một nơi khác, như trong duy vật chẳng hạn. Đây là hai điều
hoàn toàn trái ngược và nghịch lý. Kiểu đem râu ông nọ cắm cằm ba kia, không cơ
sở, thiếu lý do và sai bản chất. Còn điều học thuyết tiến hóa Darwin đem áp
dụng vào lịch sử xã hội càng phi lý. Bởi Darwin chỉ nhìn loài vật phát triển
sinh học trong quá khứ do luật đấu tranh sinh tồn, làm tiến hóa, phát triển
theo nhiều hướng khác nhau. Trong khi đó mức độ cạnh tranh nơi ý thức, tinh
thần con người trong xã hội lại là mức độ cao hơn, trên cơ sở nền tảng và bản
chất cao hơn. Đồng hóa đấu tranh giai cấp như đấu tranh sinh tồn thuần túy sinh
học là điều có nhiều thiếu sót nếu không nói là hoàn toàn phi lý.
Vả chăng loài người từ tiến hóa sinh
học chuyển sang tiến hóa, phát triển xã hội là qua một nấc khác, đi lên một mức
khác, vào trong một bản thân khác, không thể đồng hóa hoàn toàn đơn giản như
nhau. Con người với ý thức, bản năng, tham vọng phát triển bản thân tự nhiên,
đầu tiên vẫn thấy tư hữu hay của cải riêng là công cụ thiết yếu, là nhu cầu
hoàn toàn cần thiết, vì nó bảo đảm cho mọi sự tiện lợi và tự do cũng như yêu
cầu hạnh phúc bản thân không thể nào khác. Đó chính là yêu cầu chiếm hữu ra đời
hay óc tư hữu ra đời. Nhưng xã hội không phải duy nhất bản thân một cá nhân tồn
tại, nhưng nhiều bản thân khác nhau, vậy là nhu cầu tư hữu phải bị hạn chế,
giới hạn tùy vào hoàn cảnh hay từng điều kiện nhất định. Sự tranh đấu ở đây nếu
có phải luôn là sự tranh đấu hợp lý, tích cực, không phải bao giờ cũng tiêu
cực, bất chất, không giới hạn hoặc xé rào. Bởi vì nó phải đi đôi với lợi ích
chung, hay với pháp luật theo từng hoàn cảnh, giai đoạn.
Pháp luật đó hình thành ngay từ ban
đầu do ý thức và ý chí cá nhân cùng với cộng đồng, cho dẫu có khi độc đoán do
sức mạnh bản thân riêng, đó là sự hình thành nên giai đoạn bộ lạc rồi phong
kiến trong thời gian lịch sử dài ở mọi nơi. Sự tư hữu ruộng đất hay công cụ lao
động thô sơ đều được phát sinh như vậy trong mọi xã hội. Có khi nó kéo dài cả
nhiều ngàn năm. Vật dụng tư hữu và công cụ lao động để tạo ra mọi loại tiện ích
cho cá nhân và xã hội đều khởi đầu tùy thuộc vào tài năng, sáng kiến, kiều kiện
của mỗi cá nhân trong điều kiện và hoàn cảnh chung của mỗi cộng đồng và xã hội.
Cho mãi tới khi kỹ thuật phát triển nhờ vào khoa học và nền công nghiệp ra đời
thì tình huống đổi thay đã hoàn toàn khác. Từ xã hội nông nghiệp, phong kiến,
nhà nước quân chủ, đã bắt đầu hình thành xã hội tiểu thủ công nghiệp mọi loại,
xã hội tư sản dân chủ ra đời và cuối cùng phát triển thành xã hội công nghiệp
như ngày nay vốn có.
Có nghĩa
mọi cơ sở chung của xã hội vốn ngay từ thời khởi đầu cho đến sau vẫn tồn tại,
nhưng cái mới thêm vào là năng lực khoa học, công kỹ nghệ phát triển, và đời
sống tự do dân chủ càng ngày càng phát triển. Yếu tố khoa học về sau là yếu tố
quan trọng nhất, bởi nó khai phá những khả năng khám phá về tự nhiên của đầu
óc, tinh thần, lý trí con người, đem lại các kỹ thuật khai phá thiên nhiên mọi
loại, làm nên mọi thành quả kinh tế xã hội nói chung. Chính khoa học kỹ thuật
mới làm hình thành ra xã hội tư bản phương Tây trước nhất. Bởi nó tạo ra công
cụ sản xuất mới, gia tăng năng suất và kết quả, làm xã hội đi hia bảy dặm tiến
lên xã hội công nghiệp hóa.
Nên tư bản
(capital) là gì ? Là sự tích lũy lao động, trí tuệ của các giai đoạn xã hội đã
qua vào trong tài chánh, tiền tệ, trong yếu tố khai phá lao động mới, để tạo ra
mọi thành tựu máy móc, kỹ thuật khác nhau, càng đưa hoạt động kinh tế đi lên
phát triển. Dĩ nhiên tư bản đó không phải trên trời rơi xuống, được trao riêng
cho một giai cấp nào, hay chỉ do một giai cấp nào đó tướt đoạt và chiếm hữu
riêng cho mình, như giai cấp tư sản chẳng hạn. Bởi tư bản luôn hình thành mới,
luôn thay đổi và phát triển tùy theo sáng kiến và điều kiện các cá nhân, cũng
chẳng khác gì sự hình thành tư hữu và công cụ sản xuất nơi các xã hội ban đầu
trong thời kỳ bộ lạc cả.
Tư bản đó
tất nhiên ngày nay phải do khoa học đưa lại thông qua kỹ thuật, được năng lực
trí tuệ và tài chánh của các cá nhân, tầng lớp nào đó của xã hội vận dụng, đưa
vào phát triển sản xuất kinh tế chung cho toàn xã hội. Sự tinh nhạy, óc thông
minh, tài năng vận dụng có thể có ở bất kỳ cá nhân nào tùy theo hoàn cảnh, điều
kiện và năng lực của họ, và sự thành công của họ khiến phân bổ thành các giai
tầng, giai cấp xã hội khác nhau, nhưng chúng luôn luôn dao động, biến chuyển,
thay đổi, không bao giờ cứng nhắc hoặc luôn luôn bất biến. Mác tất nhiên cũng
hiểu rõ điều này, song ông ta chỉ luôn bẻ lái vào trong đấu tranh giai cấp do tiến
kiến, cảm tính và thị hiếu cứng nhắc của mình. Bởi ông ta nghĩ biện chứng là
phải có sự phủ nhận liên tục, biện chứng là phải có hai đầu đối lập, thay thế,
tiêu diệt lẫn nhau và giữ lại một, đó là điều kiện mà giai cấp vô sản phải nhất
thiết loại bỏ giai cấp tư sản và nhất thiết nắm quyền cai quản chung xã hội như
Mác mong muốn và quan niệm.
Mác cho đó
là quy luật, là con đường thiết yếu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, làm
xã hội không còn giai cấp, đi đến xã hội tuyệt đối công bằng và hạnh phúc. Thế
nhưng ở đây ta thấy đó là quan niệm phi con người, phi xã hội, chỉ còn hoàn
toàn trừu tượng, hư không hay không tưởng của Mác. Bởi vì con người bao giờ
cũng cụ thể, tạo nên xã hội cũng hoàn toàn cụ thể. Mỗi con người đều có nhu cầu
sống riêng biệt, có khuynh hướng, có bản năng, có tham vọng, tình cảm, cảm xúc,
ý chí, điều kiện tâm lý va hoàn cảnh bản thân riêng. Mỗi người đều được dẫn dắt
và khống chế bởi tất cả mọi cái đó và xã hội cũng vậy. Bởi vậy việc phân chia
đẳng cấp, phân bố giai cấp là điều không thể không có, bởi chẳng qua chỉ là sự
phân chia năng lực, tài năng, phân công lao động khác nhau không lúc nào không
có, không lúc nào bất biến hay phải theo công thức nào cụ thể, xác định cả. Mác
chỉ chăm bẳm vào giai cấp vô sản là điều hoàn toàn thiên kiến, cảm tính, hoàn
toàn máy móc và định kiến.
Bởi lúc
đầu, khi thời kỳ kỹ nghệ phương Tây phát triển, nó tạo nên giai cấp tư sản và
giai cấp vô sản chỉ là điều khách quan tự nhiên. Giai cấp tư sản là những người
có năng lực tài chánh, nắm bắt và vận dụng, sử dụng đầu tiên được tư bản phát
sinh ra lúc đó, như máy hơi nước, máy kéo sợi, dệt vải chẳng hạn. Còn người lao
động vô sản đều là tầng lớp nông dân hay tầng lớp nông nô chuyển từ xã hội
phong kiến sang. Họ không có tư bản trong tay, tất yếu phải là người làm thuê
ăn lương, gọi là nhân công hưởng lương. Ở đây không những có quy luật cạnh
tranh trong giới tư bản và có cả sự cạnh tranh trong giới công nhân vô sản. Nhưng
quy luật cạnh tranh là quy luật tự nhiên, thiết yếu để phát triển xã hội. Đây
cũng là quy luật thị trường hai chiều giữa người thuê và người được thuê mướn.
Khởi đầu chưa có luật pháp can dự vào nhiều, đó là thời kỳ tư bản sơ khai, đôi
lúc có thể hoang dã, tạo nên sự bóc lột nhất định nào đó, nhưng không thể hoàn
toàn thoát khỏi quy luật thị trường mà cả hai phía đều phải cần chấp nhận.
Đó cũng là
tình trạng hoàn cảnh thợ thuyền Anh lúc đó mà cả Mác và Engels cùng lấy nguồn
cảm hứng cho lý thuyết của mình. Họ chỉ thấy hoàn cảnh cơ cực, nhiều khi khốn
cùng của giai cấp thợ thuyền lao động lúc ban đầu, nên chỉ nhấn mạnh, đào sâu
về khía cạnh bóc lột lao động, mà không quan tâm tới nguồn gốc lịch sử của vấn
đề và ý nghĩa sau cùng của mục đích sản xuất đó là gì. Mác viết cả bộ Tư bản
luận, gồm ba tập đồ sộ, tập đầu do chính tay Mác viết, còn hai tập sau do
Engels bổ sung và điền khuyết mà hình thành. Trong đó chủ yếu là phân tích việc
bóc lột, lý giải cơ chế của nó, lên án tư bản và tiền tệ, lên án tư hữu và giai
cấp tư sản, để nhằm đi đến một xã hội vô sản không còn tư hữu, không còn giai
cấp mà Mác quan niệm.
Nhưng thật
ra tiền tệ là gì ? Tiền tệ chỉ là công cụ trung gian để nhằm trao đổi các vật
phẩm xã hội. Nó là công cụ bảo toàn giá trị, làm thành đơn vị định giá chung,
giúp cho mọi sự trao đổi được tiện lợi, hiệu quả, thế thôi. Nó đã được khám phá
và sử dụng trong xã hội loài người ngay từ thời tiền sử, dầu lúc đó chỉ bằng
những biểu trưng đơn giản nhất, như vỏ sò ốc hay các đồ vật quý hiếm nào đó
được quy ước nhau. Có nghĩa tiền tệ tự nó không có tội lỗi gì cả, nhưng là sáng
kiến quan trọng để tạo ra thương mại trong xã hội. Mác chỉ nhìn thấy khía cạnh
tiêu cực của đồng tiền, thậm chí lên án việc tiền tạo ra tiền bằng việc chế ra
các công thức tính toán cụ thể mà ai nghiên cứu Mác đều rõ. Mục đích chung của
ông ta là nhằm đi đến một xã hội cộng sản tương lai không còn tiền tệ, chỉ còn
lao động trực tiếp trao đổi nhau giữa mọi con người vô sản.
Mác coi tư
bản và thị trường đều là công cụ bóc lột. Tư hữu và tiền bạc là đầu mối tất cả,
tiền đẻ ra tiền, và tư hữu đẻ ra giai cấp, chúng phát triển qua các giai đoạn
lịch sử và đỉnh cao cuối cùng là sự đối kháng giai cấp ra hai phía rõ rệt : Tư
bản là giai cấp nắm giữ mọi công cụ sản xuất và vô sản là giới làm thuê, chỉ
bán sức lao động để lấy lương thuê mướn. Tuyên ngôn cộng sản đảng và Tư bản
luận của Mác Engels nói chung chỉ tập trung toàn bộ nhằm phân tích mô tả mọi
khía cạnh cơ chế đó. Ý nghĩa mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy giai cấp vô sản
cưỡng đoạt lại mọi công cụ sản xuất từ giai cấp tư sản, tập trung vào trong tay
nhà nước tất cả, bởi chỉ đồng nhất nhà nước và giai cấp vô sản, nhưng có hoàn
toàn đồng nhất được hay không là điều phần trên chúng ta đã nói. Tức nhà nước
nắm toàn bộ công cụ, tư liệu sản xuất mà giai cấp vô sản làm cách mạng đoạt tư
tay giai cấp tư sản và chuyển lại hoàn toàn cho nhà nước đó.
Từ đó cũng
nảy sinh ra thời kỳ chuyển tiếp hay quá độ không biết bao lâu, và nhà nước
chuyên chính gọi là vô sản cũng không biết tồn tại đến bao lâu, trong khi giai
cấp vô sản vẫn cứ hoàn toàn vô sản. Điều Mác quan tâm nêu bật chính là lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản, Mác
quan niệm đó là mọi loại tư bản đã hay đang có. Còn quan hệ sản xuất là quan hệ
giữa người và người, có quan hệ về làm chủ hay làm thuê. Mác chỉ quan niệm có
thế còn không quan tâm đến nguồn gốc hay nguyên nhân khách quan tự nhiên của
mọi điều đó là gì. Nguyên lý trích đoạn là nguyên lý thường có của Mác, chỉ
biết trích ra đoạn giữa còn không cần quan tâm đến hai đầu, hoặc hai đầu chỉ
nhằm ức đoán. Sự trích ra đoạn giưa thật ra cũng chỉ dựa trên quan sát hiện
tượng bề ngoài, còn lý giải chiều sâu chằng hề để ý đến. Mác là người chỉ nhằm
nghiên cứu hiện tượng bên ngoài kiểu là như thế. Điều này thật xa lạ với khoa
học và triết học theo khuynh hướng chiều sâu, bao quát và toàn diện. Như vậy
Mác chủ yếu là con người nhằm hành động theo quan điểm kinh tế chính trị chỉ
dựa vào cảm tính và thị hiếu là chính yếu nhất.
Thật ra xã
hội tư bản phát triển lên là nhờ khoa học kỹ thuật, khiến làm kỹ nghệ ra đời
vào thời kỳ đó. Mà khoa học và tri thức đúc kết và phát triển ra của toàn nhân
loại trong suốt lịch sử của mình. Băn thân nó có nguồn gốc và năng lực từ lý
trí, điều đó chẳng liên quan gì đến đấu tranh giai cấp mà Mác quan niệm. Chính
trí tuệ con người là điều có trước rồi mới đưa đến tất cả. Mà trí tuệ vốn được
triển khai ra từ chính bản thân của nó, không phải vật chất từ ngoài, thiên
nhiên hay xã hội tạo thành như cách Mác thấy. Ở đây vật chất không tạo ra tinh
thần được là vậy. Cũng giống như phân bón chỉ giúp cho cây phát triển mà không
tạo ra sự sống hay kết quả mà cây cho ra. Quan niệm duy vật thô sơ chỉ là quan
niệm thầm thường, thấp kém, ấu trĩ, non nớt mà Mác đã phần nào lún chân trong
đó. Mác coi tất cả lịch sử cuộc đời chỉ là vật chất, bản thân nhân loại và cả
tinh thần, ý thức con người cũng đều chỉ thế. Chính vật chất tạo thành tất cả,
hạ tầng cơ sở kinh tế tạo nên thượng tầng kiến trúc là mọi suy nghĩ, tư tưởng,
quan niệm, tôn giáo, mọi loại ý hệ khác nhau, kể cả định chế nhà nước và pháp
luật, nói chung không loại trừ thứ gì, đó chính là quan điểm duy vật tuyệt đối
của Mác.
Nhìn
chung, Mác phân tích mọi sự trên đời lúc đầu có vẻ như phân tích hiện thực, có
vẻ như hoàn toàn kiểu “praxis”, nhưng thực chất đó đều phân tích trên hiện
tượng, không hề hay không muốn đi sâu quá mức đó, vậy nhưng điều đó lại khiến
học thuyết Mác thoạt nhìn qua quả rất hấp dẫn và nhiều người tin cậy, say mê là
vì thế. Song cuối cùng Mác chỉ nhằm lèo lái vào ý hướng chính yếu là duy vât, duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp, xây dựng
xã hội không giai cấp, theo kiểu chỉ hoàn toàn trừu tượng hay không tưởng.
Thế thì
một xã hội hoàn toàn vô sản, tức không ai nắm giữ công cụ sản xuất chung nào
riêng tư cả. Tất cả chỉ là lao động trực tiếp và phân phối trao đổi sản phẩm
trực tiếp nhau, không có thị trường, không có tiền tệ, ban đầu chỉ có nhà nước
nhắm giữ tất cả, đến sau nhà nước cũng tiêu vong đi, không còn cần đến pháp
luật về mọi phương diện, chỉ còn con người tự giác hoàn toàn, sáng vô xưởng
thợ, chiều đi câu cá, gọi là xã hội cộng sản đại đồng không giai cấp, liều điều
đó có thể hiện thực được không ? Tất nhiên điều đó hoàn toàn là huyền ảo. Bởi
giai đoạn đầu, gọi là giai đoạn thấp, giai đoạn thời kỳ quá độ, giai đoạn
chuyên chính vô sản, nhà nước nắm tất cả, nhưng nhà nước là ai, đều những con
người xương thịt tạo thành cả, thế cũng là giai cấp mới, vượt ra ngoài giai cấp
tư sản và giai cấp vô sản trước kia đã có. Giai cấp mới này vẫn là giai cấp,
cũng chia xã hội ra thành thống trị và bị trị mà Mác luôn luôn mạt sát, chê
trách trong xã hội cũ, vậy thì trong xã hội mới này có gì khác không, nó sẽ tồn
tại tới bao giờ, và cuộc cách mạng nào mới xóa bỏ được nó. Chẳng khác nào Mác
lại quay về vòng quay cũ sau bao nhiêu nổ lực để đã kích, mạt sát, mạ lỵ nó đủ
cách, rồi cuối cùng cũng quay về lại nó nhưng chỉ dưới hình thức khác hơn.
Còn thiên
đường cộng sản là gì, không còn bất kỳ quyền lực chính trị nào thì xã hội lúc
đó sẽ ra sao ? Con người bản năng lại trỗi dậy như lúc hoang sơ chưa hinh thành
ra xã hội, có gì bảo đảm việc không xảy ra như thế ? Lấy cơ sở nào mà bảo lúc
đó con người hoàn toàn tự giác, tức hoàn toàn tinh thần, thế thì nền tảng vật
chất, nền tảng sinh học, nền tảng thiên nhiên, bản năng vốn có bỏ đi đâu ?
Chẳng khác nào một vòng quay khác lại lặp lại. Chủ trương duy vật để nhằm phá
bỏ duy vật, cuối cùng lại cũng rơi vào duy vật từ đầu, phải chăng thuyết Mác
hoàn toàn chỉ làm điều vô bổ, đi vào con đường hoàn toàn hư không, trống rỗng ?
Nên ngay từ đầu, lý luận duy vật của Mác chỉ là lý luận trống rỗng, không có
nội dung xác thực, tại do vật chất không phải là con người, không bao giờ là xã
hội con người, để từ đó có thể hiểu ra duy vật lịch sử cũng chỉ là sự tiếp nối
từ cái trống rỗng trước, cũng đều nội dung hư ảo như trước, và cuối cùng đích
đến đích điểm gọi là “xã hội cộng sản khoa học” thật ra cũng chỉ là cái hư ảo
tận cùng kết thành từ những cái hư ảo trước mà ra. Khác chi thuyết Mác từ đầu
đến cuối chỉ đều toàn là những điều vô tích sự, tức hoàn toàn hư ảo, không tưởng,
trong lý thuyết và hiện thực mà mọi người đều có thể thấy ra được một cách hết
sức dễ dàng chẳng có một chút nào khó khăn hết cả.
By VÕ HƯNG
THANH
(18/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét