VỀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI,
GIẢI PHÓNG LOÀI NGƯỜI
TRONG LỊCH SỬ XÃ HỘI CỦA LOÀI
NGƯỜI
Hành trình tư tưởng trong suốt cuộc đời của Mác là như thế này:
tuyệt đối duy vật và tuyệt đối vô thần để cuối cùng nhằm giải phóng toàn thể
nhân loại cho suốt lịch sử của loài người. Dĩ nhiên hai mệnh đề đầu phải nhất
thiết đi cùng nhau, không thể cái này mà không có cái kia. Và tiền đề đó chính
chính nhằm mục đích sau cùng của Mác. Vậy nhưng qua suốt các tác phẩm của mình
không dưới nhiều nghìn trang, cuối cùng Mác thố lộ “Tôi không phải người Mác
xít” (Je ne suis pas un marxist). Như vậy là thế nào ? Đó là điều thiết tưởng
ngày nay cần trình bày ra cặn kẽ sau đây.
Thật ra muốn “giải phóng” con người điều trước tiên điều trước
tiên cần phải biết con người là gì. Bởi nếu không biết đích thực bản chất cái
gì đó như thế nào, làm sao nói việc xử lý sự vật đó hiệu quả được. Đối với Mác
con người thật ra cũng chỉ là loài động vật, do từ tiến hóa vật chất mà ra, cả
óc não con người vẫn chỉ thuần túy là sự hoạt động của vật chất, nói khác đi
nguồn gốc và bản chất của loài người chỉ là vật chất, vậy thì từ “giải phóng”
mang ý nghĩa ra sao ? Theo Mác đó chỉ là giải phóng ra khỏi giai cấp xã hội
trong lịch sử, nhằm tiến đến xã hội không giai cấp, tức tuyệt đối đồng đẳng chỉ
như là vật chất giống nhau chăng ? Cái nghịch lý hay mâu thuẫn đầu tiên nhưng rất
nền tảng của tư tưởng Mác ai cũng thấy chính là như vậy.
Thế thì “giai cấp” trước hết là gì ? Mác cho là sự phân chia tầng
lớp trong xã hội do bởi nguồn gốc yếu tố sản xuất vật chất mà ra. Tức điều tư hữu
tạo nên sự sở hữu công cụ sản xuất khác nhau, đi đến sự bóc lột sức lao động lẫn
nhau giữa người và người, đưa đến hai tầng lớp người luôn luôn xuất hiện, loại
tư sản và kẻ vô sản, hay tầng lớp giàu và tầng lớp nghèo, tầng lớp thống trị và
tầng lớp bị trị luôn luôn có trong xã hội. Điều đó cũng tất yếu tạo nên đấu
tranh giai cấp liên tục không ngừng nghỉ để Mác kết luận rằng “xã hội loài người
từ khởi thủy đến nay luôn luôn là xã hội đấu tranh giai cấp” (Lời mở đầu trong
Tuyên ngôn cộng sản đảng). Tức chuyển từ xã hội nô lệ qua phong kiến, quân chủ,
tư sản, rồi ngày nay xã hội tư bản đều luôn như vậy. Tức xã hội hiện đại là xã
hội diễn ra sự mâu thuẫn khốc liệt giữa giai cấp vô sản (proletariat) và giai cấp
tư bản (bourgeois, capitalism), để cuối cùng giai cấp tư sản nói chung phải bị
tiêu diệt, chỉ còn lại giai cấp vô sản nắm mọi quyền quản lý lực lượng sản xuất
vào trong tay mình nhằm tiến lên xã hội cộng sản rồi xã hội không còn giai cấp.
Thời kỳ tiến lên này Mác cho là thời kỳ quá độ hay thời kỳ
chuyên chính vô sản. Mác đồng nhất giai cấp vô sản với nhà nước chuyên chính vô
sản, nhà nước chỉ đại diện cho giai cấp vô sản, để cuối cùng lực lượng sản xuất
phát triển mạnh mẽ, tài sản làm ra như suối nguồn tuôn chảy, mối quan hệ sản xuất
cũng biến đổi theo, khi đó xã hội không còn nhà nước nữa, không còn giai cấp nữa,
mọi người cùng làm việc hoàn toàn tự nguyện, đó là xã hội tuyệt đối bình đẳng mọi
mặt, xã hội tự do mọi mặt, tức con người được giải phóng mọi mặt, không còn nhà
nước, không còn chính quyền, cả pháp luật cũng không cần thiết nữa, một xã hội
cộng đồng chỉ biết sản xuất mà không còn giai cấp nữa, đó mới là xã hội giải
phóng tuyệt đối, đó mới là con người giải phóng tuyệt đối.
Rõ ràng ai cũng thấy quan điểm của Mác ở đây là quan niệm
“lô-gích” kiểu hoàn toàn máy móc, diễn ra theo cách tính toán hoàn toàn trừu tượng
mà không còn là con người cụ thể nữa. Bởi ngay từ đầu Mác cho bản thân con người
chỉ là sinh vật, tức luôn luôn có chứa mọi bản năng tự nhiên khách quan, nhưng
sau Mác quên mọi cái đó đi, chỉ còn thấy lịch sử diễn ra hoàn toàn cơ giới máy
móc kiểu lực lượng sản xuất làm thay đổi quan hệ sản xuất và ngược lại, đó gọi
là nguyên lý biện chứng theo duy vật lịch sử mà Mác đưa ra và tuyệt đối tin tưởng
cũng như hoàn toàn tâm đắc. Nhưng lực lượng sản xuất là gì ? Là mọi công cụ sức
mạnh sản xuất mà loài người tạo ra được từ trước đến nay. Còn quan hệ sản xuất
là gì ? Mác cho đó là sự thuê mướn, chủ tớ, hay người nắm giữ tư liệu sản xuất
và người làm thuê, chỉ bán sức lao động của mình. Tương quan đó là tương quan
phân hai (dichotomy), nó luôn luôn đắp đổi, biến chuyển lẫn nhau qua lịch sử,
cho đến khi mọi tư liệu sản xuất trong đó có cả tư bản trong thời kỳ hiện đại,
đều thu vào trong tay duy giai cấp vô sản, mới là điều kiện loại bỏ tư sản đi,
loại bỏ mọi quyền tư hữu sản xuất và đi đến xã hội sản xuất tập thể tuyệt đối,
xã hội cộng sản tuyệt đối, không còn mọi giai cấp và đi tới loài người được
hoàn toàn giải phóng.
Ở đây ta thấy Mác nhìn hoàn toàn máy móc mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất. Mác chỉ nhìn điều đó trên cơ sở kinh tế vật chất
thuần túy mà không nhìn yếu tố phát triển trí tuệ hay khoa học kỹ thuật của con
người. Từ ngàn xưa, từ hái lượm, săn bắn, đến xã hội nông nghiệp nói chung,
công cụ sản xuất hoàn toàn đơn giản, kéo dài cả nhiều ngàn năm ở mọi nơi trên
thế giới, chẳng có gì thay đổi cả. Mọi thể chế xã hội như bộ lạc, phong kiến,
quân chủ, tư sản chẳng hạn, đều chỉ là cái niềng chung giúp cho xã hội tồn tại
và phát triển theo từng giai đoạn kế tiếp nhau, còn không làm biến chuyển gì về
tổng thể hay chiều sâu toàn diện cả. Mãi đến đầu thế kỷ 19, khi nền khoa học kỹ
thuật ở châu Âu tiến lên bước dài, công nghiệp bắt đầu xuất hiện mạnh mẽ, khi
đó lực lượng sản xuất mới tăng tốc và làm thay đổi bộ mặt kinh tế thật sự. Như
vậy lực lượng sản xuất là kết quả của khám phá kỹ thuật, khoa học, đâu phải do
tác động của quan hệ sản xuất như Mác chỉ cốt nhắm vào hay hoàn toàn huyễn tưởng.
Điều đó cũng bộc lộ cho thấy quan điểm tuyệt đối duy vật của
Mác, không cần đếm xỉa gì đến tinh thần hay ý thức con người. Bởi nếu không có
các đầu óc của giới khoa học khám phá ra các lý thuyết, các định luật khoa học,
thử hỏi kỹ thuật ở đâu mà có, lấy gì làm phát triển lực lượng sản xuất như Mác
quan niệm ? Mà nguồn gốc phát triển của khoa học là gì, trước hết phải do trí
tuệ, đầu óc tinh hoa cấu thành qua đào tạo giáo dục, qua những tài năng hay những
đột xuất riêng biệt, có thể duy nhu cầu trí tuệ đòi hỏi riêng, hay nhu cầu muốn
phục vụ những đòi hỏi thiết thân nào đó của cộng đồng hoặc xã hội. Nói khác đi
lịch sử luôn phát triển theo cách đa dạng và yếu tố tinh thần, ý thức, lý trí
hay trí tuệ vốn luôn là những động lực tiềm ẩn không bao giờ có thể xem thường
được. Tính chất khách quan đó không những đúng trong khoa học kỹ thuật, trong đời
sống kinh tế xã hội, mà kể cả trong lịch sử chính trị nói chung trên toàn thế
giới. Thực tế luôn luôn đa dạng và đa diện, cả trong chiều hướng tốt lẫn cả
trong chiều hướng xấu, tất yếu hay ngẫu nhiên, rõ rệt hay tiềm ẩn, khó mà có thể
nắm bắt hay quy chiếu tất cả chỉ vào một mối nào đó mà Mác đã làm. Tính cách
quy chiếu của Mác ở đây là tính chất quy thuộc đơn giản theo kiểu duy vật tuyệt
đối, không phải có thể đa dạng như kiểu thuyết duy tâm lý giải.
Vả chăng trong bài trước khi bàn về hoạt động kinh tế trong xã hội
loài người, dầu không loại trừ hay phi bác thuyết tiến hóa của Darwin về tiến
hóa sinh vật, nhưng ta chỉ coi đó như trong chuỗi tiến hóa vũ trụ nói chung, không
ngắt đoạn kiểu thuần túy duy vật hay sinh học như điều Mác muốn. Bởi thuyết
Darwin dù có hiện thực ra trong lịch sử tự nhiên, nhưng còn nhiều điều lý giải
sâu xa hơn nữa Darwin vẫn chưa đề cập tới. Bởi vậy đã có sự kiện khi Mác viết
xong cuốn Tư bản luận đầu tiên, rất hứng khởi mang đến tặng Darwin, chính ông
này dững dưng không hào hứng mấy hoặc gần như không thèm tiếp. Bởi mọi lý luận
kinh tế xã hội của Mác ở đó chỉ là kiểu lý luận o ép, áp đặt một chiều, không
mang tính cách khoa học sâu sắc đã chiều, mà cốt chỉ gò vào theo chiều hướng
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử nói chung ma Mác coi như nguyên lý chỉ đạo,
quy luật khách quan nền tảng nhất, hay đặt kết luận làm tiền đề theo thị hiếu,
cảm thức lẫn cảm tính của mình một cách hoàn toàn độc đoán, máy móc. Những phân
tích về kinh tế xã hội của Mác trong đó đều cho thấy chỉ thuần như thế, như
phân tích về hàng hóa, tiền tệ, lao động, giao dịch, thương mại, giá cả v.v… đều
theo kiểu gọt chân cho vừa giày, tức cho vừa các thị hiếu về con người, về lịch
sử phát triển xã hội mà Mác hoàn toàn có định hướng hay muốn áp đặt.
Thành ra tuy Mác chủ trương giải phóng giai cấp, giải phóng con
người, giải phóng xã hội, nhưng mọi sự “giải phóng” đó chỉ là giải phóng theo định
kiến, theo công thức tiền chế, theo chủ quan cá nhân, theo sự tưởng tượng áp đặt
thuần túy mà không hề là sự giải phóng khách quan, đích thực nào cả. Bởi thật
ra giải phóng con người nhằm giải phóng ý thức, tinh thần là chính. Không phải
chỉ giải phóng thân xác như giải thoát loài vật. Cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ
trước kia nhằm giải phóng những người da đen trước tiên đó là giải phóng tinh
thần lẫn giải phóng thân xác của những người nô lệ. Đó là cuộc giải phóng nhân
bản thật sự, không phải chỉ là giải phóng “giai cấp” kiểu Mác quan niệm. Mọi cuộc
giải phóng đất nước, dân tộc cũng đều là những cuộc giải phóng cộng đồng quốc
gia thật sự, như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi v.v… đâu phải thuần là giải
phóng “giai cấp”. Nên nếu nhân danh giải phóng giai cấp rồi cuối cùng nhằm nô lệ
cả giai cấp, nô lệ toàn xã hội kiểu học thuyết độc tài vô sản của Mác mang lại
đó thực chất chỉ là nô lệ hóa con người, nô lệ hóa xã hội, cả nô lệ hóa lịch sử
nhân loại, đều phản giá trị mà đâu có ý nghĩa gì.
Cho nên khởi điểm học thuyết Mác nhìn con người đều sai (quy tất
cả thảy vào vật chất), quy tất cả vào ý nghĩa giai cấp, thì đó quả thật chỉ là
thứ tư tưởng hàm hồ, phi khoa học, phi thực tế, không mang ý nghĩa hay giá trị
nhân bản nào cả. Bởi con người xác thân chỉ là điều kiện cần, không bao giờ là
điều kiện đủ. Xác thân là công cụ mang chỡ não bộ, đầu óc con người, nhưng tự
xác thân không bao giờ cảm giác, mà chính óc não mới là cơ quan cảm giác. Bởi
khi con người đã chết lâm sang rồi, tức là chết óc não, toàn bộ xác thân đều trở
thành vô tri và trở nên vô dụng. Nhưng óc não thần kinh không phải bộ phận sinh
ra tinh thần ý thức kiểu gan tiết ra mật một cách thiển cận, nông cạn như Mác
và Ănghen quan niệm. Tinh thần, ý thức của con người (hay ngay cả các loài vật)
cũng đều có sự tồn tại độc lập của mình về những phương diện nào đó mà không
hoàn toàn chỉ đồng hóa vào thân xác. Kiểu như ngọn đèn do dầu đốt lên nhưng ngọn
lửa đó không phải chỉ thuần túy là dầu. Nhiều điều bí ẩn của ý thức, tinh thần
con người khoa học và triết học vẫn mãi luôn khám phá và không bao giờ ngừng
nghĩ vì đến nay vẫn chưa hề có kết luận sau cùng. Vật chất không giải thích được
gì về mọi khía cạnh, bản chất của tinh thần dù vật chất vẫn là điều kiện đầu
tiên và tiên quyết của tinh thần. Cho vật chất luôn luôn có trước tinh thần thực
chất chỉ là điều trực quan nông cạn, chẳng mang tính cách thông minh hay tinh
vi nào cả, kiểu chỉ khù khờ cho gà sinh ra trứng hay do trứng nở ra gà.
Đạo Phật từ ngàn năm xưa cũng chủ trương giải phóng con người,
nhưng chủ yếu là giải phóng về mặt tinh thần, tức giải thoát ra khỏi thế giới
ngũ uẩn, thế giới trần tục đầy tham sân si, đầy cảm xúc và mê muội, giải phóng
là thoát khỏi mê lầm trong nhận thức, giải thoát khỏi mọi sự mê muội trong đắm
chìm trần gian để trở về bản thể tuyệt đối riêng của mình, cái Phật giáo cho là
niết bàn không sinh không duyệt hay là thoát ra khỏi mọi sự vô thường tuyệt đối.
Sự giải thoát đó không ai có thể thay thế được cho chính bản thân của họ. Trong
khi quan điểm giải phóng con người của Mác chỉ là sự áp đặt chủ quan tùy tiện lên
người khác, lên xã hội nói chung, thật chỉ mê muội, cực đoan, áp đặt và kể cả
áp chế. Ai cũng biết học thuyết Mác mà mọi xã hội cộng sản mang lại đều thật sự
chỉ là sự áp chế con người, tướt đoạt đi thảy mọi tự do mọi ý thức tinh thần
riêng tư của cá nhân con người, chỉ còn thân xác và ý thức tư duy nô lệ hàng loạt
không hơn không kém. Như Mao Trạch Đông đã từng áp dụng điều gì cho toàn thể xã
hội Trung Quốc. Chỉ còn là xã hội đàn bầy, bị lừa dối khiến không còn chút tư
duy ý thức cá nhân nào riêng biệt, độc lập, hay có giá trị ý nghĩa riêng tư nào
cả. Các phong trào đại nhảy vọt, bốn hiện đại hóa, cách mạng văn hóa … nói
chung chỉ biến dân tộc Trung Hoa thành dân tộc đàn bầy, nô dịch, mất mọi ý thức
tự chủ, mất mọi giá trị con người chẳng còn ra cái ôn dịch gì cả. Bởi chỉ tạo
nên mọi sự sợ hãi và bạc nhược và sợ hãi của cá nhân và xã hội nói chung, lại mệnh
danh giả đối là giải phóng.
Trong khi đó từ ngàn xưa Khổng từ đã xướng lên thuyết “nhân linh
ư vận vật”, tức con người có ý thức, giá trị tinh thần vượt lên trên muôn vật.
Câu nói đó không phải nói ngoa mà chính bản thân Khổng tử đã chiêm nghiệm vào
chiều sâu ý nghĩa và giá trị tinh thần của bản thân ý thức con người là gì. Lão
tử, Trang tử cũng là kiểu cách giải phóng tinh thần như thế. Tức ý thức con người
tự giải phóng mình ra khỏi chính bản thân tầm thường, thấp kém của mình. Tự
giác mới có thể giác tha như trong đạo Phật có nói. Không phải chỉ như kiểu Mác
giai cấp vô sản tự giải phóng mình làm điều kiện đầu tàu giải phóng con người,
giải phóng nhân loại. Đây chỉ là kiểu lý luận và niềm tin hoàn toàn huyền hoặc,
mê tín. Bởi tự bản thân giai cấp đó đâu phải hầu là tuyệt đối tinh hoa mà đòi
giải phóng người khác, giải phóng giai cấp khác, giải phóng xã hội, giải phóng
lịch sử theo ý thức của mình. Đây chỉ là tính cách mê tín, mị dân, mờ tối của
chính bản thân Mác. Bởi giải phóng con người thực ra trước tiên phải giải phóng
chính đầu óc của họ khỏi mọi mê muội để vươn lên ý thức tự do, nhân bản mới có
ý nghĩa và giá trị. Làm nô lệ tinh thần, làm nô lệ thân xác, đó không bao giờ
là sự giải phóng mà chỉ là sự nô lệ hóa và đày đọa con người về mọi mặt.
Chỉ nghĩa cộng sản theo kiểu Mác thật sự cuối cùng đã thất bại ở
Trung Quốc bởi vì nó chỉ áp đặt nô lệ con người theo kiểu đàn bầy dù là họ Mao
nói theo giọng lưỡi Mác nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải
phóng nhân loại. Giải phóng con người mà làm mô dịch, nghèo đói con người và xã
hội thì thực chất gọi là giải phóng cái gì. Mác quên một điều là phần lớn đám
đông quần chúng đều không phải tinh hoa. Họ thường có thể bị kích động và lợi dụng
do mọi thành phần cơ hội, tham vọng ích kỷ riêng nào đó mà vẫn mị dân là giải
phóng cho họ. Nên quan niệm đấu tranh giai cấp kiểu cơ học, quan niệm quần
chúng vô sản theo kiểu theo cách ngu muội của Mác thực chất đều là các quan điểm
phản khoa học, phi nhân, mê tín, huyễn hoặc lại tự nhận là khoa học, nhân bản,
chẳng khác nào ngu dân và lừa bịp, kể cả chi nhằm khoác lác.
Nên thật ra giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội là gì nếu trước hết không phải giải phóng đời sống vật chất, đời sống
tinh thần của họ. Đời sống vật chất có sung túc thì nó sẽ tự giải phóng mọi mặt
không cần nhờ ai để giải phóng cả. Mà vật chất giải phóng thì tất yếu tinh thần
trước và sau cũng tự dần dần giải phóng. Phú quý sinh lễ nghĩa hiều theo rất
nhiều mặt là như thế. Tức điều kiện vật chất tạo thành điều kiện văn minh và
văn hóa tinh thần mọi mặt mà không cần bất kỳ cái gì thấp hơn có thể can thiệp
vào. Nhưng kinh tế phát triển chủ yếu là nhờ đâu, là nhờ khả năng nội lực của
con người. Khi điều kiện biến đổi tự nhiên đã trở nên phong phú thì vật chất dư
giả, đó là vận động xã hội văn hóa và kỹ thuật đa chiều mà không phải bất cứ sự
áp đặt một chiều giả tạo nào có thể mang tới được. Kiểu toàn dân làm lò luyện
thép ở Trung Quốc, biến đất nước đều thành công xã thực chất chỉ toàn là trò hề
ngu xuẩn, bịp bợm, và cuối cùng đã hoàn toàn thất bại, vì nó hoàn toàn đi trái
mọi quy luật khách quan của xã hội con người. Ngày nay sở dĩ Trung Quốc giàu
lên là nhờ Đặng Tiểu Bình quay lưng lại với lý thuyết công xã cộng sản của Mao
và trở lại với nền tư bản bước đầu sơ khai. Mọi công dân đều trở thành công cụ
sản xuất kinh tế cho nhà nước còn ngoài ra vẫn tiếp tục đánh mất bản thân chính
họ, hầu như không phát triển gì mọi mật tinh thần và ý thức tự chủ cho mình cả.
Lý thuyết con người, giải phóng con người từ đầu đưa ra của Mác thực châts bị
hoàn toàn tiêu diệt và phá sản.
Cho nên khoa học kỹ thuật khách quan (tự nhiên cũng như nhân văn
xã hội) chính là nền tảng phát triển xã hội loài người mà không phải bất kỳ thứ
ý thức hệ giả danh, ấu trĩ, lừa bịp, sai trái nào cả. Thực tế con người lừa dối,
lừa bịp con người vẫn là chuyện không bao giờ thiếu trong mọi hoàn cảnh xã hội.
Khi loài người chưa thể tự giải phóng ra khỏi mọi điều đó đừng nói con người giải
phóng con người hóa ra chỉ là sự bịp bợm mà tự nó chỉ nuôi nó không phải gì
khác. Hay nói khác, khuynh hướng giải phóng nhân loại chỉ là khuynh hướng khách
quan phát triển tự nhiên qua sự tiến hóa đi lên của lịch sử, không phải chỉ ai
nhân danh, ai áp đặt, hay ai cố ý thực hiện được. Sự giải phóng vật chất mọi mặt
tạo ra sự giải phóng tinh thần mọi mặt cũng như ngược lại mà không thể nào
khác. Trong khi đó bản chất con người luôn luôn lợi dụng con người về mọi mặt bởi
vì sự đấu tranh tiêu cực và tích cực trong xã hội lẫn trong lịch sử xã hội luôn
luôn là điều tất yếu xảy ra không thể tránh khỏi. Từ thời cổ đại đã xảy ra mọi
sự tranh bá đồ vương, thời hiện đại vẫn xảy ra bao thủ đoạn chính trị xấu xa,
dã man, tàn ác, xảy ra bao sự lừa dối trong xã hội khác nhau, đó đều bản chất tự
nhiên khách quan của xã hội loài người không bao giờ dẹp bỏ được chỉ theo kiểu
đấu tranh giai cấp như Mác nói. Bởi thực chất thuyết Mác chỉ làm vong thân con
người qua kiểu áp chế độc tài vô sản mà không bao giờ mang lại hay phát huy
đích thực chút gì về mặt nhân bản của bản thân họ cả. Họ phải hoàn toàn đánh mất
bản thân mình qua sự giả dối và tuân phục không điều kiện đối với quyền lực áp
chế bên ngoài bản thân họ.
Bởi thật ra giai cấp xã hội là gì, đó chỉ do hiện tượng “đẳng cấp
xã hội” tạo ra như trong bài trước chúng ta đã nói. Chỉ khác là nó nằm trong ý
hướng hoặc mục tiêu nào đó khác nhau vậy thôi. Một xã hội có nhân bản hay không
là bởi ý nghĩa này, là ý thức con người có tự do hay không, tinh thần mỗi người
có phát triển hay không, còn tồn tại khách quan mặt thể lý thân xác chỉ là việc
khác. Bởi thực chất, mọi sự vật đều phải có cấu trúc, đó là khách quan tất yếu,
cả xã hội hay sự vật đơn thuần cũng vậy. Dù đó chỉ là chiếc lá, thân cây, trái
cây, hạt cây, con sông, con suối, hay cả biển cả cũng vậy. Nhìn lên bầu trời mọi
áng mây đều có cấu trúc riêng, nhưng đó chỉ thoáng qua, không bao giờ là hiện
tượng cấu trúc bất biến nơi tất cả mọi loài. Sự thay đổi, vận động vẫn còn luôn
là quy luật khách quan luôn có trong mọi sự vật. Từ hạt nhân nguyên tử đến vận
động điện tử chung quanh, từ tế bào sống đến vận động của hệ mặt trời, ngân hà
cùng các thiên hà xa xôi vô tận, đều luôn có quy luật cấu trúc và sự vận động gắn
kết nhau không bao giờ thay đổi. Vậy giai cấp hay đẳng cấp xã hội cũng thế, nó
luôn luôn xuất hiện mỗi lúc nơi tất cả mọi người tùy theo nội hàm bên trong hay
hoàn cảnh bên ngoài đổi thay từng lúc và kết quả biến chuyển của mọi sự vật tồn
tại đều lâu hay chậm vẫn có thể xảy ra. Và nhất là chỉ có sự vật cụ thể, con
người cụ thể mới là những cái có thực mọi nơi mọi lúc trong không gian và thời
gian. Còn giai cấp xã hội về mặt kinh tế thực chất chỉ là sự trừu tượng hóa, sự
khái quát hóa, nhằm phạm trù hóa những thực thể nào đó. Chỉ có cái cụ thể đấu
tranh lẫn nhau mới đưa ra kết quả. Thuyết đấu tranh giai cấp của Mác thực chất
chỉ là sự mê tín, thêu dệt, nhằm kích thích vào bản năng ích kỷ quyền lợi riêng
để nhằm lừa dối, thu hút những người liên quan, thế thôi, bởi Mác vốn biết bản
năng lừa dối và bản năng trấn át con người trong xã hội vẫn luôn luôn thường có.
Mọi sự vận động tốt luôn luôn phải theo nguyên lý tốt, không phải chỉ cốt tồn tại
thuần như một thực trạng nào đó, cả cái tiêu cực khuynh loát và chiến thắng cái
tích cực, cái bạo lực, gian giảo thắng cái lương thiện, lành mạnh và trong sáng.
Vậy nên khuynh hướng và mục tiêu việc đấu tranh giải phóng con
người, giải phóng thế giới, giải phóng nhân loại, trong suốt lịch sử của mình vốn
đã có tự ngàn xưa không bao giờ ngừng nghĩ. Đó là vì cảm thức của loài người nó
vẫn luôn như vậy. Điều đó thể hiện rõ rệt nhất qua mọi thể dạng tôn giáo, mọi
lý thuyết triết học, kể cà nhiều lý thuyết chính trị xã hội khác nhau, nhưng
mãi đến thời hiện đại đều vẫn chưa bao giờ thành công tuyệt đối lần nào cả. Điều
đó chẳng có gì phải ngạc nhiên hay thắc mắc. Bởi vì bản thân của mọi tồn tại
trong đó có cả bản thân xã hội loài người, bản thân của chính mỗi người đều có
lực đi tới và lực phản động lại của nó. Không thể có cái nào trong hai có thể
hoàn toàn trấn áp, trấn yểm hay tiêu diệt tuyệt đối được cái kia. Sự phát triển
của lịch sử nhân loại bởi vậy chỉ có thể tiệm tiến mà không thể bột phát, xé
rào kiểu tự nhiên là như thế. Nên mọi hiện tượng lên đồng cá nhân hoặc tâp thể
về sự đột phá, phát triển ngoạn mục ngoại lệ nào đó chỉ là sự lừa bịp, ảo tưởng,
ngụy tín mà không có gì khác. Học thuyết chủ nghĩa Mác về điều đó từng trên một
trảm năm cho thấy cũng không hề trở thành ngoại lệ. Cách mạng không bao giờ và
cũng không thể nào là một sự xóa bài làm lại từ đầu. Cách mạng vô sản của Mác cũng
chỉ kiểu cuộc cách mạng như thế, nó hoàn toàn chỉ là ảo tưởng và thực chất đã
làm hại cho nhân loại về nhiều mặt, về mọi mặt, mà không phải làm lợi gì nhiều
cho thảy lịch sử nhân loại. Chỉ bởi vì nó đi ngược lại mọi nguyên lý phát triển
khách quan tự nhiên của xã hội như nguyên lý tự do dân chủ, nguyên lý khách
quan khoa học, và nguyên lý đạo đức, nhân bản tối hậu. Kiểu Mác chỉ là kiểu thả
mồi bắt bóng, cả vú lấp miệng em, cố đấm ăn xôi về ý nghĩa con người và mục
đích xã hội con người mà không gì khác,
By VÕ HƯNG THANH
(27/8/2021)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét