Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

VỀ MỘT LỜI NÓI CỦA NGƯỜI XƯA:

“TẬN TÍN THƯ TẮC NHƯ VÔ THƯ”

 

Đây là lời nói đã nổi tiếng ngay từ xa xưa ở nước ta và chắc không bậc tiền nhân trí thức nào không biết đến. Là lời nói của vị hiền triết Mạnh tử Trung Quốc (372-289 TCN) : “Tận tín thư tắc như vô thư”. Có nghĩa đọc sách mà tin hết vào sách thì thà đừng đọc sách. Câu này thật sự cũng nói lên tinh thần dân chủ và ý thức tiến bộ mà cách đây gần 25 thế kỷ người xưa từng biểu thị. Mạnh tử tự coi mình như học trò của Khổng tử dù Mạnh tử sống sau Khổng tử (551-479) trên cả trăm năm. Có nghĩa Mạnh tử đọc sách Khổng tử không phải chỉ thụ động mà ông ta đã chỉ tâm đắc phần nào tinh hoa cốt yếu nhất và về sau đã phát triển lên thành học thuyết riêng của mình cũng hoàn toàn ý nghĩa và giá trị trong phái Nho gia.

Đọc sách mà tin hết vào sách là sao ? Đó chỉ thành con mọt sách, con vẹt mà không có gì khác. Ở đây hiểu rộng ra đọc mọi tài liệu mà không hẳn chỉ là sách vở. Những tài liệu sách vở đó dĩ nhiên do những người cùng thời hay đi trước ta đã viết và người đến sau hay người tiếp thụ chỉ có việc đọc lại. Bởi đọc nhằm tiếp nhận ý nghĩa, giá trị tài liệu và thông tin trong đó mà không gì khác. Cho nên ý nghĩa đọc để làm gì, đọc như thế nào, đọc nhằm mục đích ra sao mới là tính chất quan trọng hơn cả.

Thật ra mọi nguồn tài liệu đang mang ý nghĩa thụ động, bởi mọi cái gì đó đã thành hình, đã viết ra rồi thì không bao giờ còn thay đổi nữa trừ khi nó được thay bằng một tài liệu mới khác hơn và cũng cứ như thế. Như vậy vấn đề không chỉ là nội dung, tính chất tài liệu mà chính là ý nghĩa, mục tiêu và tính cách người đọc. Đọc với tinh thần ý thức phê phán nhận xét để chọn lọc tiếp nạp hay đọc chỉ để ghi nhớ thụ động, nắm bắt, quán thông hoàn toàn thụ động, nô lệ mới hoàn toàn khác biệt.

Bởi tất cả mọi nguồn tài liệu đều có thể được truyền thụ từ người khác để viết ra, được tham chiếu cái vốn có từ một nơi nào đó, có hay không có ý đồ nào đó của người viết ra, nên tính chất đầy đủ hay thiếu sót, vô tư khách quan hay thiên kiến chủ quan của người tạo dựng ra nó đều không phải hoàn toàn không có. Sự thẩm định đánh giá tài liệu mình tiếp nạp như vậy đều luôn luôn cần thiết, bởi ý thức và năng lực trí óc con người không bao giờ là sự phản ánh thụ động suông mà phải qua năng lực chọn lọc, tiếp thu của họ.

Sự ích lợi của việc đọc là không thể thiếu, nhưng sự đánh giá, sàng lọc điều đã đọc cũng hoàn toàn không kém quan trọng hơn. Năng lực của người viết ra tài liệu là một điều, còn năng lực của người tiếp nạp và sàng sảy ý nghĩa, giá trị của vấn đề trong cái mình đọc cũng đều cần thiết chẳng kém. Điều này có nghĩa cái sau còn quan trọng hơn cả cái trước, bởi vì mức chứa đựng hay sức chứa đựng của nó ra sao, rộng lớn hơn hay nhỏ hẹp hơn thế nào, và cả khả năng lượng giá thế nào về cái trước mới là điều đáng kể nhất.

Người có trình độ nào đó hơn tài liệu mà mình tiếp đọc thì điều đó quá dễ dàng, chẳng nói làm gì. Nhưng nếu người tiếp nạp có trình độ hiểu biết nắm bắt thấp hơn, thì đó quả là sự nhiêu khê không thể nào lường hết trước được. Bởi vậy mọi sự tuyên truyền, dẫn dụ, lôi kéo chỉ có thể áp dụng vào các đối tượng thấp kém hơn mình, non nớt, ngây thơ, khờ khạo hơn mình mà không bao giờ ngược lại.

Nhưng thông thường mọi tài liệu truyền bá trong cuộc đời thực tế hay cuộc sống là gì nếu không phải là tài liệu viết, in ấn, tài liệu được định hình dưới dạng nào đó như một vật phẩm chẳng hạn, vẫn đều mang những ý nghĩa, giá trị tích cực hay không lại tùy vào bản thân chính nó và tùy vào sự giao thoa với người tiếp nhận. Điều đó thường xảy ra trong trao đổi thông tin, tuyên truyền, giáo dục, và giao lưu nhận thức sách báo, sách vở nói chung.

Và cả khi nói về những tài liệu thường có trong cuộc sống, đều vẫn không đi ra ngoài các lãnh vực như thường nghiệm, tức là mọi kinh nghiệm đời thường, lãnh vực văn học nghệ thuật, lãnh vực khoa học kỹ thuật, và cuối cùng cao xa hơn là lãnh vực tư duy triết học. Ví dụ trong văn học đọc và hiểu một bài thơ tới đâu, đánh giá nó như thế nào, một bài văn hay tác phẩm văn học cũng thế, các phương diện nghệ thuật khác cũng thế, như âm nhạc, điêu khắc v.v… đều có sự giao thoa nhất định giữa bên cung cấp hình ảnh, thông tin và bên tiếp nhận hình ảnh thông tin. Hiểu hay không chính xác đối tượng là một việc, còn có bị mê hoặc, lừa dối hay không về phần đối tượng lại là việc khác. Mọi âm mưu lợi dụng dẫn dắt đều có thể xảy ra và mọi khả năng, năng lực phê phán mới thật sự mang lại tai hại hay lợi ích.

Thật ra văn bản cũng chỉ là một hệ thống một tập hợp ký hiệu nào đó giống như mọi hệ thống ký hiệu khác. Có những loại ký hiệu trong tự nhiên hoặc các loại ký hiệu nhân tạo. Chẳng hạn ký hiệu về thời tiết qua bầu trời, ký hiệu nào đó mà một bộ lạc thể hiện khi vào cửa ngõ trong rừng sâu của họ, các loại ký hiệu giao thông mà ta thường thấy trên các hệ thống đường sá, nên văn bản cũng là những hệ thống ký hiệu ngôn ngữ viết phổ biến nhất. Tất nhiên mọi loại ký hiệu khách quan thì không nhầm lẫn, không có mục đích tạo lầm lẫn, trừ khi bị đánh bẩy bị dối gạt theo các ý đồ mục đích riêng tư nào đó.

Riêng thi ca là một loại ngôn ngữ nghệ thuật tinh tế và hình tượng nhất, nên người hiểu thi ca phải là người có tâm hồn nghệ thuật thi ca, cũng như người sáng tác thi cả là người có trình độ cao thấp khác nhau tùy theo tài năng mình có. Người bình dân thì ít hiểu sâu tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du giống như khi hiểu chuyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Cả khi đọc một câu chuyện văn học nào đó cũng vậy, tùy theo tài năng và trình độ người viết mà độc giả có thể có những mức thưởng ngoạn khác nhau. Ngay khi đọc một câu văn, có người hiểu dưới hai hàng (underlines) nhưng có người lại không. Thành nên ký hiệu văn chương văn học đã là phong phú, nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả. Văn chương văn văn học tuyên truyền kiểu rẻ tiền dối gạt nhằm mục tiêu mục đích chính trị thật sự khác hẳn với văn chương nghệ thuật nhân bản đúng đắn luôn chỉ vì chân lý sự thật và lòng yêu thương nhân ái.

Đặc biệt lãnh vực khoa học kỹ thuật, phần lớn hệ thống ngôn ngữ ở đây quy chiếu vào các khái niệm, công thức chuyên môn, các quy luật trừu tượng khách quan của thiên nhiên hoặc xã hội, như vậy phải có tri thức chuyên môn sâu mới có thể hiểu hoặc nắm bắt sâu xa được. Có điều khoa học kỹ thuật có thể lầm lạc, sai lầm, nhưng không thể nào tỏ ra gian dối, lừa mị được. Nó hoàn toàn khác với chính trị và nhiều lãnh vực đời sống khác. Bởi nó được xây dựng trên nền tảng của lý trí, không phải trên nền tảng cảm tính, thị hiếu, hay ngay cả cảm thức. Nó cũng khác với văn học, bởi văn học có thể có nội dung tư tưởng cho dù nội dung tư tưởng đó chỉ thuộc mức thường tình, không vươn tới được mức tư duy trừu tượng như trong triết học.

Vậy nên lãnh vực cuối cùng quan trọng nhất chính là lãnh vực tư duy tư tưởng triết học. Và câu mà Mạnh tử ngày trước nói chính phần lớn áp dụng vào cho phạm vi này hay nói chung là phạm vi ngôn ngữ, nội dung văn học. Đây chính là ý nghĩa nhiêu khê nhất bởi nó vừa trừu tượng vừa phức tạp, rất dễ khiến cho lầm đường lạc lối, nếu trình độ non kém thường có thể bị lầm lạc nếu tin tưởng quàng xiên non dại. Ngay từ thời cổ đã có những loại ngụy thư, giả cổ, tạo cho người đọc lầm lẫn tưởng là ý nghĩa hoặc giá trị thật. Giả cổ hoàn toàn khác với thác cổ. Giả cổ là giả tạo, giả dối điều cổ, còn thác cổ là mượn lời mượn ý của người xưa để nói điều nay. Khổng tử là loại thánh nhân trung thực nên Khổng tử không hề giả cổ mà có thể chỉ là thác cổ.

Do vậy Mạnh tử không hề nghi ngờ Khổng tử mà là đọc hiểu với sự chọn lọc để tâm đắc Khổng tử và tự nhận Khổng tử là thầy của mình dù vị thầy này sống trước ông trên cả trăm năm. Nhưng ngay cả xã hội hiện đại, sự lừa dối về tư duy tư tưởng không phải không có mà còn ngược lại là đàng khác. Sự đạo thơ đạo văn vẫn thường xảy ra như cơm bửa. Đó là tại sao, tại khả năng ngu dốt, tại tính háo thắng khoe mẽ, tại sự gian dối, vụ lợi, lừa lọc trong chính tâm lý thấp kém của con người. Nên thường người hiểu biết, có năng lực trình độ chiều sâu thì ít khoe khoang, khiêm tốn, có óc cầu thị, con người nông cạn, thấp kém, ngu dốt thì hoàn toàn trái lại. Đó cũng là lý do người trí thức thực sự thì thường đúng đắn, trung thực, còn người ít trí thức thì thường mạo nhận, lừa dối, lường gạt người khác, chỉ là điều hay dễ xảy ra. Có nhiều người vì mặc cảm nào đó hay tự phô trương mình như người hiểu biết, trí thức, thậm chí kiểu nhà tư tưởng, triết gia, nhưng thực chất đều dỏm, là điều hay hiện tượng đã từng có thấy.

Cho nên những nhà tư tưởng, nhà triết gia, nhà khoa học chân chính đều luôn luôn ngay thẳng và trung thực, làm mọi người đều có thể nhất thiết hay tuyệt đối tin cậy được. Như Socrate, Khổng tử, Mạnh tử, Thích ca, Lão tử, Trang tử, Jesus, Einstein, Newton, v.v… chẳng hạn. Họ thật sự đều là những bậc chính nhân quân tử, kể cả những bậc thánh nhân. Như Socrate, nhà tư tưởng triết học cổ Hy lạp từng nói câu nổi tiếng “Điều tôi biết rõ nhất là tôi chưa biết gì cả”. Bởi tư duy thì không biết lừa dối còn con người có thể lừa dối là sự có thật. Có người không biết gì cả mà tưởng là hay bịp bợm là mình biết tất cả, đó là điều trong cuộc sống vẫn không hề thiếu. Thành nên mọi sự lừa dối thường là có ý đồ mà cả khi chỉ là sự ngây thơ, nông nỗi nữa. Vì thế việc tin người khác một cách “sái cổ” có khi là một sự tồi tệ nhất mà con người thường hay gặp phải.

 “Tận tín thư tắc như vô thư” chính là lời dạy tuyệt vời nhất mà Mạnh tử, nhà tư tưởng trứ danh Á Đông ngày xưa đã từng thố lộ. Đọc sách không thể tin hẳn vào sách đó là thái độ sáng suốt, khôn ngoan nhất mà ngày xưa tiền nhân ta đã vẫn thường bảo ban con cháu. Bởi vì có thể có điều mình chưa hiểu hết mà đem tin ngay khác chi là sự nông cạn, thiếu sót, hời hợt, ngu dại. Đó là chưa nói những loại ngụy thư, tuyên truyền dối gạt mà đi tin hết có khác nào đem bán lúa giống. Cho nên người giả cả, kinh nghiệm thì thường chin chắn, thận trọng, trong khi người trẻ, ít hiểu biết thì thường hợm hĩnh, tự tin, nông nỗi, khoác lác thì rất dễ sa hố đều là như thế. Bởi đọc sách mà tin tưởng tuyệt đối thì thà không có sách, đừng đọc sách còn hơn, vì đó vẫn là cái sống hồn nhiên, tự tại, chưa hề bị nhiễm độc, chưa hề bị tacs động sai trái từ ngoài vào nếu tin vào những loại sách vở phỉnh gạt lừa dối.

Vậy nên đọc sách trước tiên luôn cân phải có óc phân tích và so sánh đối chiếu với những thực tại nào đó mà mình từng có kinh nghiệm hay từng hiểu biết chung quanh. Phân tích là óc phán đoán, đào sâu về những thông tin, nhưng ý nghĩa, hay kiểu lý giải nào đó mà nó chứa đựng. Có như thế mới hội đủ khả năng lựa chọn chủ động, chọn lọc hay loại bỏ những gì hữu ích hoặc vô bổ, hay tai hại. Đây là khả năng thấm lọc của ý thức và nhận thức mà luôn người đọc đều cần phải có. Điều đó cũng giúp tránh được mọi sự ngụy tạo, tuyên truyền lừa dối không đúng đắn. Nên kết quả đọc sách luôn luôn là kết quả hai chiều. Nguồn đọc có phải lành mạnh, trung thực, đúng đắn không, và năng lực chọn lọc đánh giá có đủ bao quát và chiều sâu không, thì kết quả đem lại mới thật hữu ích cũng như cần thiết. Tức một xã hội lành mạnh là xã hội trong đó mọi thành tố, thành viên đều thật sự lành mạnh, không có bất kỳ sự thiên lệch hay dối gạt nào, nếu không chỉ đều là xã hội hay môi trường vẫn không lành mạnh. Một sinh vật bơi hay sống trong môi trường bẩn, tất nhiên không thể nói nó hoàn toàn trong suốt, sạch sẽ, dù cho bản thân tuyệt đối của nó ra sao. Cá thể và môi trường chính là thuộc dạng tương quan kiểu vậy.

Nên người sáng suốt đọc sách dù qua bất kỳ phần đoạn hay câu kéo nào, cũng có thể thẩm lượng, đánh gia được mọi ý nghĩa, giá trị của nó tùy theo năng lực nhận thức sáng suốt của mình. Như nó có trái ngược điều gì không, có tự mâu thuẩn trong bản thân của nó không, ý nghĩa và giá trị nội dung nó mang lại cho lợi ích hay không lợi ích của mình thế nào, nó có trung thực, đúng đắn không, hay chỉ là mang ý nghĩa dẫn dụ và lừa dối theo một hướng giả tạo nào đó. Điều đó không những tùy khả năng, trình độ nhận thức, mà còn tùy vào năng lực trí thông minh của người tiếp nhận.  

Không ai sinh ra đời mà biết được tất cả. Thế nên học tập và đọc sách luôn luôn là điều thiết yếu. Đó là ý nghĩa của giáo dục và văn hóa. Sách chính là ông thầy mọi nơi mọi lúc mọi vấn đề đối với mọi người không phân biệt. Thế nhưng giáo dục thế nào và đọc sách thế nào mới là điều quan trọng nhất. Nếu giáo dục chỉ nhằm nhồi nhét, nhồi sọ một chiều, nếu đọc sách cũng chỉ bị tuyên truyền lừa dối kiểu khác, có nghĩa đều là môi trường không lành mạnh của xã hội, khi ấy hỏi giáo dục và đọc sách cũng còn có nghĩa lý gì. Trong khi đầu óc con người không phải chỉ là bộ nhớ, không phải chỉ là túi sách, mà con người chính là chủ thể nhân cách, một đơn vị sống, thành nó cần sự độc lập tự do, tự chủ, không thể bị biến thành bất kỳ thứ công cụ thụ động nào.

Tư tưởng tự do, ý thức tự do, nhân cách tự chủ, đó mới là giá trị, phẩm cách con người tối hậu mà không thể nào khác. Con người không thể bị rập khuôn theo bất kỳ “lý tưởng” nào mà không tự nó lựa chọn. Mọi sự áp đặt, rập khuôn người khác vì bất kỳ lý do gì, bất kỳ mục đích gì thực chất đều hoàn toàn giả tạo, giả dối và không có bất kỳ ý nghĩa hay giá trị nào cả. Giáo dục không phải là uốn nắn phản tự nhiên, mà giáo dục là vun xới, đào tạo, phát huy mọi nhân cách tự nhiên của chính con người. Tinh thần con người, dù cá thể hay xã hội đều có thật, đó là điều không thể phủ nhận hay chối bỏ được. Tinh thần chính là cái ý thức nhân bản tồn tại bên trong con người mà không bất kỳ loài vật nào có thể có được. Nên giáo dục là nhằm vun xới, không phải nhằm thay thế nó bởi bất kỳ cái gì, đọc sách là vào phân, bón phân cho nó, cái cây nhân bản đó, không phải tạo ra bản thân nó bằng mọi thứ phân rác đã được bón vào.

Nên năng lực nhận thức, khả năng trí thức, hiểu biết của con người là điều quan trọng và ý nghĩa tối cao nhất. Thân xác con người không hiểu biết gì cả, nó chỉ có cảm giác kích thích đưa vào từ bên ngoài, nhưng óc não con người mới chính là chủ thể nhận thức. Con người nếu chỉ có thân xác mà không có nhận thức, đều chỉ là cách sống của động thực vật, cách sống sinh học mà không có ý nghĩa hay giá trị nào cao hơn. Nhưng con người được đào tạo qua giáo dục lành mạnh, qua ý thức và nhận thức phát triển tương đối hay đầy đủ nhất, đó mới chính là con người được hoàn thiện theo các cách hoặc các mức khác nhau, và đó mới là con người mang ý nghĩa hay giá trị đầy đủ ý nghĩa nhất.

Đương nhiên mỗi cá nhân đều được sinh ra trong xã hội. Chính môi trường xã hội là môi trường nền tảng chung nhất, cá nhân không bao giờ tách ra khỏi xã hội, cũng không bao giờ tách rời hay thoát ly ra ngoài được nó theo nghĩa chung nhất. Có nghĩa thông thường cá nhân sinh ra là đã có sự tiếp xúc, giao tiếp với xã hội chung quanh trong những chừng mực nhất định nào đó, hưởng hưởng dụng nền văn hóa truyền thống đã có trước đó, đã ngang với mặt bằng xã hội chung vốn có cơ bản nhất, với những sự hiểu biết chung có sẳn mà không thể khác. Cho nên giáo dục và văn hóa đọc chẳng qua là đào tạo, là đưa cá nhân lên những mức lý tưởng và cần thiết hơn vậy thôi. Cá nhân được giáo dục, đào tạo trở thành những con người có giáo dục đào tạo, khác hơn những con người kém học và thất học còn ngoài ra không hề có sự khác nhau về nhân cách hay hiểu biết thông thường nào cả. Bởi mặt bằng cơ bản luôn luôn ngang nhau, chỉ khác nhau là chồng lầu lên cao thấp vậy thôi.

Chính bởi thế ý thức, tinh thần, nhận thức, sự hiểu biết, tư duy, tư tưởng con người là cái cao nhất. Đó chính là tiêu biểu chiều cao cho tầm vóc con người. Kinh tế, vật chất chẳng qua chỉ là cái chân, cái nền tảng, còn trí tuệ tinh thần mới là tiêu biểu cho ý nghĩa, năng lực, giá trị của người trí thức, mới là toàn thể bộ phán tinh hoa thiết yếu của dân tộc đó. Khi Phan Chu Trinh nói dân trí, dân khí, dân sinh, đó là quan điểm đích thực của nhà yêu nước chân chính, ông cũng là nhà giáo dục sáng suốt, đồng thời cũng là một trí tuệ, một vĩ nhân của dân tộc. Trong khi đó Mao Trạch Đông cho trí thức không bằng bải phân, đó là kiểu chính trị thủ đoạn một chiều, tầm thường thấp kém không chút tư duy nào cả.

Bởi chính tư duy, tư tưởng, nhận thức văn minh, văn hóa mới làm con người phân biệt với loài vật. Còn ý nghĩa thân xác thì mọi sinh vật đều thảy giống nhau. Con người ăn thức ăn cao cấp cũng chỉ cảm thấy hạnh phúc như con voi ăn mía cây hay con gà vịt đớp được con sâu con bọ nào đó thôi. Cảm giác lạc thú và đau đớn ở mọi sinh vật đều thảy như nhau, cho dù cá tính sinh thái và môi trường chúng sống có thể là khác nhau. Nên cái cao nhất chính là nhận thức tự do, tư tưởng tự do, hiểu biết tự do của con người. Chính điều này mới làm nên khoa học, kỹ thuật, và cả tư duy triết học mà chỉ loài người mới có. Nhưng Mác quy tất cả điều đó đều là bản thân “ý thức hệ”, tức mọi tư tưởng chỉ đều trạng thái vật chất, tức sự vận động vật chất, được chuyển thái hay phản ảnh hay quyết định ra do bởi hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể mà cá nhân đó sống, hay đích thật ra chỉ do mối quan hệ giai cấp, quan hệ lực lượng sản xuất và tương quan sản xuất trong xã hội đó tạo nên. Đó chỉ phán đoán suông mà không bất kỳ phân tích lý giải cụ thể hay khoa học nào cả. Chỉ đi từ tiền đề hay tiên đề đặt sẳn, tất cả mọi tồn tại đều chỉ là vật chất vậy thôi. Từ tiền đề đó diễn dịch ra mọi kết luận liên quan về não trạng con người và não trạng xã hội, thật là từ xưa đến nay chưa có loại tư tưởng nào kiểu như thế.

Mặt khác, Mác còn đi từ kết luận tiền chế, dựa theo cảm tính và thị hiếu, là xã hội cộng sản tất yếu tốt đẹp trong tương lai, như là kết quả tất yếu của quy luật biện chứng trong lịch sử tự nhiên và xã hội, để từ đó phăng ngược trở lên thời kỳ quá độ, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp, tư sản và bóc lột, sự phi lý của quyền tư hữu, của tiền tệ, của tư bản công nghiệp, của thị trường, của kinh tế tư nhân v.v… và v.v… như chu trình khép kín từ tiên đề vật chất đã nói và hậu đề “xã hội cộng sản” phải có, để Mác cho đó là tư duy khoa học khách quan duy nhất dựa trên nền tảng biện chứng của thực tại lịch sử qua tự nhiên và xã hội.    

Như vậy cũng có nghĩa Mác phủ nhận tất cả mọi chân lý khác trong cuộc đời, như chân lý tôn giáo, chân lý triết học, chân lý khoa học khách quan nói chung trong tự nhiên cũng như xã hội. Mác chỉ công nhận duy có một điều là sự tồn tại của vật chất, của sự vận động vật chất, và của quy luật biện chứng thế thôi. Chỉ có điều ai đọc toàn bộ tác phẩm của Mác, thông suốt cả toàn bộ hệ thống tư tưởng, tư duy của Mác, sẽ nhận thấy ra điều tiền đề và kết luận của hệ thống đó là hoàn toàn mâu thuẫn, nghịch lý, trái ngược nhau. Bởi vì nếu tồn tại vật chất là tuyệt đối duy nhất thì do đâu nó có. Bởi nếu vật chất tự có, tồn tại tự ên, thì đó là điều phi lý, vật chất tự nó đã trở thành tự sáng tạo, sáng chế ra mình trong khi nội dung thuộc tính của nó chẳng có gì cao chính bản thân trì lực của nó cả. Ví thử tảng đá triệu năm cũng chỉ là tảng đá đó đâu thể phát sinh gì khác nếu không nói có thể bị phong hóa và tiêu tan đi để trở thành bụi đất.

Có nghĩa khái niệm vật chất và khái niệm biện chứng là hai khái niệm hoàn toàn mâu thuẫn, trái ngược nhau mà Mác không thấy, trong khi hai khái niệm mâu thuẫn hay ngược nhau thì hoàn toàn không thể nào biến chuyển cho nhau, như lửa với nước, hư vô và hiện hữu, tinh thần và vật chất v.v… Vả chăng nếu vật chất hoàn toàn không có nội dung cao cả nào cả, thì cơ sở nào nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, nhằm xây dựng thiên đường lý tưởng như Mác nói. Không ai có thể biến đổi số không thành mọi số khác nếu bản thân chỉ luôn luôn tự nó, không có gì hơn nội hàm của nó. Biến cái thấp nhất thành cái cao nhất trong khi chẳng có mối liên hệ nào ở giữa, tức vật chất thấp kém và ý nghĩa giá trị tinh thần cao cả trong tương lai, thật chỉ hoàn toàn phi lý, một thứ lô-gích không có cơ sở khách quan, phi khoa học, hay thực chất, thực tề đều hoàn toàn hư ảo, tưởng tượng, hoặc hoàn toàn hư vô, không tưởng. 

Như vậy nếu đọc Mác mà hoàn toàn không thấy ra hết tất cả mọi mâu thuẫn, nghịch lý đó trước tiên nơi Mác thì liệu đọc để làm gì, đọc để ích lợi gì. Đó chỉ còn là niềm tin mê tín, không có căn cơ, không có cơ sở, chỉ đều huyễn tưởng mơ mộng, chỉ là niềm tin không xác quyết được mọi mặt liên quan, đó có khác gì niềm tin của tôn giáo trong khi đây lại là một thực tại đời sống xã hội hoàn toàn thiết thân, cụ thể, thì đó có phải cũng như kiểu câu người xưa đã nói : “Tận tín thư tắc như vô thư” có phải thế không ? Cho nên nếu đọc sách mà không biết phê phán chỉ là lối đọc vẹt, lối đọc nô lệ, mờ mịt chẳng khác gì ngu. Có người nói đọc Mác phải hiểu “đúng” về Mác, như kiểu Lữ Phương trước đây từng huênh hoang bảo, Lê Duẩn, Trường Chinh v.v… chẳng có ai “hiểu” Mác cả, ý nói là phải hiểu “đúng” Mác như cách Lữ Phương hiểu, thật sự chỉ là huênh hoang và rồ dại, bởi vì hiểu “đúng” Mác để làm gì, khi nếu chính bản thân Mác đã từng không đúng ? Tính chất buồn cười ở đây có lẽ là thế, xin để tất cả mọi người cùng nhận xét và phê phán.

 

By VÕ HƯNG THANH

              (28/8/2021)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét