NÓI VỀ CHÍNH TRỊ VÀ LỊCH SỬ
TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI
Chính
trị và lịch sử vốn luôn là vấn đề muôn thuở, của bất kỳ nơi đâu, thời nào, xã hội,
hoàn cảnh, dân tộc, hoặc đất nước nào. Cả hai luôn gắn liền nhau nhưng cũng hầu
không gắn liền nhau. Bởi lịch sử đã mãi mãi thuộc về quá khứ, nay không còn thể
nào thay đổi được nữa. Trong khi chính trị luôn luôn còn đang hiện tại, là mọi
điều của xã hội đang diến ra trước mắt.
Tất
nhiên quá khứ không bao giờ tách khỏi hiện tại, trở thành nền tảng từng đã có của
hiện tại, có tác động hay kết quả tạo ra hiện tại, nhưng thật ra cả hai luôn có
lằn ranh ngăn cách, quá khứ là cái gì không còn nữa, nhưng hiện tại lại luôn gắn
chặt với tương lai. Có nghĩa quá khứ và tương lai cũng có mối quan hệ gián tiếp
hay mơ hồ nào đó qua trung gian hay là cầu nối bởi hiện tại.
Nói
khác đi, tương lai là cái mà hiện tại trực tiếp đưa đến, nhất thiết chịu ảnh hưởng
hay quyết định phần nào đó bởi hiện tại, còn hiện tại luôn luôn là sản phẩm trực
tiếp của quá khứ đã có. Quá khứ không còn thay đổi được nữa, nhưng hiện tại vẫn
luôn có thể thay đổi thường xuyên, và tương lai phụ thuộc vào đó, tức hiện tại
cứ giữ nguyên trạng của quá khứ, hay chỉnh đốn, càng ngày càng vượt lên hay cải
thiện được những điều chưa tốt mà mình hiện đang có.
Vậy điều
quan trọng nhất vẫn chính trị là gì ? Thật ra chính trị chẳng phải cái gì ghê gớm
lắm ngoài công việc quản lý xã hội sao cho thật sự tốt nhất. Tốt đây là tốt
chung với mọi cá nhân mà nó bao hàm, tức tốt chung cho toàn xã hội nó đang ngự
trị, có nghĩa làm sao cho thật hữu lý nhất và tránh được bao nhiêu sai lầm
không đáng có nhất. Chính trị nói chung là sự cai quản xã hội, sự quản lý xã hội
trong tầm vĩ mô nhất thuôc về xã hội đó thôi. Rõ rang có chính trị quốc gia,
chính trị khu vực, và chính trị quốc tế luôn luôn có liên quan với nhau.
Trong
các thời đại cổ, sự quản lý xã hội tất nhiên ban đầu chỉ liên quan đến các tập
hợp người có qui mô nhỏ, như bộ lạc, các tập đoàn lớn hơn nào đó. Từ đó mới dần
dần qua phát triển lịch sử mở rộng ra thành các quốc gia, đế quốc, triều đại, rồi
dần dà mới đến toàn thế giới ngày nay. Tính cách quản lý hay cai quản đó tất
nhiên bao gồm hai yếu tố không thể thiếu là hành chánh và quyền lực. Hành chánh
là guồng máy tổ chức mang tính pháp luật cụ thể nhất định, còn quyền lực hay quyền
hành là cơ cấu lãnh đạo hay quyền chính bao quát.
Từ đó
cũng cho thấy bộ máy chính trị sơ khởi đầu tiên nhất là kết cấu của từng bộ lạc,
về sau mới chuyển thành nhà nước bao quát hơn, mới mang tính cách chế độ hay thể
chế chính trị mọi loại tồn tại đến mãi ngày nay. Nói khác đi chính trị không
tách khỏi xã hội, hành chánh và pháp luật. Bởi nếu không có bà cái sau cũng chẳng
lấy đâu ra cái trước. Chính xã hội là nền tảng căn bản nhất, sau là bộ máy điều
hành tức là bộ máy hành chánh, cuối cùng pháp luật như chất keo kết lại, và
chính trị thể hiện ra thành quyền lực không khác gì đó là pháp luật.
Nói rộng
ra hơn, từ đó cũng nói được chính trị tốt đẹp là chính trị có nền luật pháp tốt
đẹp. Bởi vậy ngay từ ngàn xưa, Đông cũng như Tây, đều có học thuyết trọng pháp,
tức lấy luật pháp làm đầu hay đứng đầu cao nhất. Đây là sự khác nhau giữa quan
điểm trọng pháp và trọng nhân. Trọng pháp là chỉ biết luật pháp vô hình, bao
quát, áp dụng bình đẳng đối với tất cả mọi người, với tất cả mọi công dân. Trọng
nhân là dựa vào phẩm chất, đức tính của con người cầm quyền cụ thể, cho đây mới
là yếu tố quyết định nhất. Quan niệm nhà giột từ nóc, đó chính là quan niệm trọng
nhân.
Tất
nhiên cả hai quan điểm trọng nhân và trọng pháp không phải mâu thuẫn hay bài
xích nhau, mà chúng có thể hỗ tương và bổ túc cho nhau. Bởi cá nhân con người
luôn luôn là chủ thể hay yếu tố cơ bản trực tiếp nhất, còn luật pháp mới chính
là cái khung sườn, cái quy tắc bao quát và bó buộc nhất. Nói cụ thể hơn, chính
trị trong đó có luật pháp tất yếu đều phải dựa trên những quan điểm, những học
thuyết khoa học, triết học nào đó căn cơ và đúng đắn, chân xác nhất. Dĩ nhiên
khoa học và triết học vẫn phải luôn phát triển, chính xác hóa và nâng cao hơn
theo lịch sử, thời gian, và chính trị nhất thiết cũng luôn phải như thế, không
có gì bất biến hay vĩnh cửu cả.
Như
ngày xưa ở Phương Đông, cụ thể là ở Á Đông, triết học chính trị của Nho giáo của
Khổng tử từng là học thuyết nền tảng nhất. Trong khi đó ở Phương Tây, truyền thống
chính trị dân chủ Hy Lạp luôn là ý nghĩa chính trị cơ bản nhất, và sau này đã
được tiếp thu và phát triển lên thành kiểu học thuyết dân chủ tư sản kinh điển
ngày nay. Có điều trong cả hai nơi, cả hai khuynh hướng nhân trị và pháp trị vẫn
luôn tồn tại song hành qua việc cử hiền của thời xưa và bầu cử dân chủ tự do đã
hoàn toàn cơ bản được phổ biến và tôn trọng trong xã hội ngày nay.
Giữa cả
hai khuynh hướng nền tảng đó, tất yếu cũng phải nói đến một yếu tố thứ ba, khác
biệt hơn, đó là yếu tố chủ thuyết cộng sản do Karl Marx (1818-1883) đề ra.
Trong đó cũng kể đến người bổ sung thứ hai là Engels (1820-1895), và sau này
còn người thứ ba nữa là Lenin (1870-1924), tạo nên học thuyết chính trị chung đến
nay gọi là học thuyết Mác Lênin kể từ sau cuộc cách mạng cộng sản Bôn chê vích
1917 ở Nga thành công và dựng lên nhà nước Liên Xô cũ, sau đó lan rộng ra hầu gần
toàn thế giới mà trong đó đến nay có đất nước Việt Nam chúng ta. Có điều đến
nay sau 70 năm tồn tại Liên Xô cũ đã không còn nữa, mà ngày nay thay vào đó chỉ
còn Trung Quốc là quốc gia cộng sản lớn nhất và cũng không còn là đất nước kiểu
Bon chê vích như lúc ban đầu mà mọi người đều biết.
Nhưng cụ
thể học thuyết mác xít là gì ? Đầu tiên Mác và Ănghen dựa vào hai ý niệm nền tảng
là thuyết đấu tranh giai cấp và bạo lực cách mạng. Đấu tranh giai cấp theo Mác
quan niệm là mình rút ra từ lịch sử thực tế của nhiều nước và thế giới, nhưng
thực chất chủ yếu Mác dựa trên lý luận biện chứng luận của nhà triết học Đức
Hegel, tức sự vật phủ định liên tục không ngừng nghỉ, và Mác cho đấu tranh giai
cấp xã hội nơi loài người cũng không khác thế. Hai giai cấp vô sản và tư sản đấu
tranh liên tiếp thay thế nhau từ khởi đầu của lịch sử nhân loại, tới ngày nay
giai cấp tư bản lên đến cực điểm tất phải tự chôn và giai cấp vô sản sau thời kỳ
quá độ sẽ thống trị toàn thế giới để đi đến xã hội cộng sản không còn giai cấp
đối lập nữa mà giải phóng toàn cầu, đó là quan điểm sau này Lênin thêm vào.
Tất
nhiên ở đây không cần đi sâu vào chi tiết mọi khía cạnh ý nghĩa triết học, khoa
học, kinh tế, xã hội, lịch sử mà Mác từng đưa ra không phải thập phần chính xác
mà còn có nhiều điểm còn rất mơ hồ, kiểu tư biện hoặc ức đoán, mà chỉ nhấn mạnh
cái cốt lõi nhất chính là quan điểm độc tài hay chuyên chính vô sản, vì phủ nhận
quan điểm tư sản và truyền thống chính trị dân chủ lẫn đạo đức xưa cũ mà Mác chụp
thảy vào là thứ đạo đức tư sản nay phải cần bải bỏ. Tức Mác chỉ còn thừa nhận
quyền lực xã hội duy nhất của giai cấp vô sản ở mọi nơi, loại bỏ nền xã hội và
đạo đức kiểu tư hữu mà Mác chê trách, lên án, cả nền chính trị dân chủ kiểu
kinh điển từng có của nó, như tam quyền phân lập và bầu cử tự do, để chỉ còn độc
tài độc đảng thống trị toàn xã hội nhằm đi đến xã hội toàn diện vô sản.
Như vậy
rõ rệt cái cốt lõi của chính trị học thuyết Mác chẳng phải là nhân trị hay pháp
trị theo nghĩa truyền thống cổ điển nữa mà đã trở thành giai cấp trị hay đảng
trị. Bởi Mác quan niệm đảng cộng sản là lực lượng tiên phong của giai cấp vô sản,
là hạt nhân lãnh đạo, hướng dẫn giai cấp, mà giai cấp vô sản cần phải độc quyền
về xã hội nên đảng của nó tất phải cũng vậy. Phải dùng biện pháp cưỡng chế toàn
diện hay độc tài toàn trị mới khiến vào khuôn cho mục tiêu cách mạng cộng sản
được. Mục đích biện minh cho phương tiện, nên kiểu như thạch cao, hay hồ vữa xi
măng, chỉ cần ép cho vào khuôn là mãi mãi muôn đời.
Tất cả
đều bởi vì Mác tin tưởng tuyệt đối vào nguyên lý biện chứng luận của Hegel. Tức
phủ định của phủ định, và hai cực đối nghịch mâu thuẫn sẽ phải tiêu diệt lẫn
nhau, thay thế lẫn nhau để tiến lên. Song có điều Mác quên rằng nguyên lý biện
chứng đó của Hegel là nguyên lý duy tâm, tức có chứa nội hàm vô hạn bên trong để
tự phát triển ra. Trong khi Mác ngược lạ là hoàn toàn duy vật, cho rằng vật chất
là nguyên lý tột cùng, sâu nhất của tồn tại vũ trụ. Tất nhiên vật chất thì
không chứa đựng bất kỳ thuộc tính nội tại nào khác ngoài tính vật chất hay trì
lực của nó. Vậy thì còn có bất cứ khả năng nào để tự biện chứng thành ra cái
khác. Như tảng đá triệu năm vẫn cứ là tảng đá, bao giờ mới biến ra được sự sống
hay cái cây.
Mác sử
dụng khái niệm biện chứng của Hegel như vậy khác nào đem râu ông nọ cắm cằm bà
kia, lấy hai bản chất hoàn toàn trái ngược như nước với lửa để nhằm giao hoán,
thay thế cùng nhau, thật hoàn toàn phi lý không thể nào quan niệm được. Mác lại
còn thích thú cho mình “lật ngược” Hegel lại, cho Hegel trồng chuối ngược đi bằng
đầu, tức lấy tinh thần làm khởi thủy, nay phải lật ngược lại để Hegel đi bằng
chân, tức vật chất, kinh tế phải quyết định trước hết. Có điều Mác không thấy
là một chai chai nước, chai bùn đất đem lật lại, đâu có thể biến được thành
chai dầu, chai dấm, hay chai bột khoai tây. Nên quan điểm về biện chứng duy vật
của Mác là quan điểm khiên cưỡng, giả tạo, chẳng có gì khách quan hay tự nhiên
cả. Từ đó mọi sự suy đoán ra về sau cũng sẽ đều chuệch choạc, không thể nào có
mọi kết cục khách quan hay chính xác được.
Hơn nữa,
Mác không nhận ra được quan niệm giai cấp như vậy khác chi quan niệm siêu hình,
tức niềm tin không cơ sở thực tế. Bởi vì cơ bản con người là sinh học, là bản
năng, như vậy không loại trừ khả năng lợi dụng, khă năng thời cơ, cơ hội để nhằm
khuynh đảo theo lợi ích cá nhân, cục bộ. Làm sao bảo đảm lực lượng hay cá nhân
lãnh đạo thảy đều thánh thiện, vô tư, lý tưởng hết, mà không có kẻ trà trộn,
nhân danh, để lập lừa đánh lận con đen, phỉnh gạt và lừa dối quần chúng để nhằm
thủ lợi cho bản thân bè nhóm minh. Bạo lực và tuyên truyền, đó là hai cách thức
hiệu quả nhất mà mọi chế độ độc tài đều hoài áp dụng, tức biện pháp cây gậy và
củ cà rốt, phải tin và tiến tới, không thì gậy quất vào mông. Đức Quốc xã thuở
xưa dùng biện pháp tuyên truyền lặp đi lặp lại nhiều lần, thế nào không vào sâu
vẫn phải đều vào cạn.
Nhưng
cách tuyên truyền hiệu quả tuyệt đối mà trường Đại học Đông Phương bôn sê vích
trước kia hằng rút ra là tuyên truyền, lôi kéo bằng tình cảm. Dùng biện pháp
tình cảm với giới bình dân là đắc sách nhất. Cách thức “ba cùng” là cách thức
thực tiển đã từng áp dụng trong kháng chiến ở Việt Nam. Cùng ăn, cùng ở, cùng
làm là cắm sâu về tình cảm nhất, muôn đời không trục ra được. Bởi vậy mọi nước
cộng sản đều luôn phong thánh lãnh tụ, thánh hóa lãnh tụ. Bởi vì duy vật tuyệt
đối chỉ chẳng tin gì thần thánh cả, nhưng đó là biện pháp tuyên truyền tình cảm
tốt nhất, là chất keo dùng gắn chặt quần chúng lại với nhau cách vô điều kiện
không cần giải thích, mà là chất keo vĩnh viến ngàn đời, cho dầu búa sồi bằng
thép cũng không bao giờ đập vỡ ra được khi nó đã thành như một loại mê tín, cuồng
tín, như một giáo điều tôn giáo rồi.
Để từ
đó chính trị đã bị biến thiên hay biến dị, không còn là cái gì thiết thực, đơn
giản, thực tiển ngay từ đầu nữa, mà trở thành đầy chất cảm tính, thị hiếu, mê
hoặc, kể cả sợ hãi, chẳng khác gì thuốc phiện. Mác từng nói tôn giáo là thuốc
phiện ru ngủ quần chúng, nhưng thực tế khi chính trị bị biến thành tôn giáo, nó
cũng chằng còn khác chi là thuốc phiện như kiểu Mác đã bài xích nữa. Đây chính
là điều gậy ông đập lưng ông. Bởi Mác coi biện chứng là tính cách khoa học tuyệt
đối nhất để tự xưng mình là cộng sản khoa học, khác hẳn mọi học thuyết cộng sản
không tưởng có trước, điều đó quả thật đã hấp dẫn được rất nhiều người ngay thuở
ban đầu, cuối cùng lại trở thành loại tôn giáo ngược lại, thành ra hóa chẳng
còn chính danh gì nữa.
Trong
khi đó chính trị thực tế nói chung chỉ luôn là biện pháp quản lý xã hội sao cho
thiết thực, hiệu quả nhất như đã nói từ đầu. Đây chính là điều mà hơn 2500 năm
trước khi nói về chính trị, Khổng tử từng bảo “Chính giả, chính dã”. Tức chính
trị luôn phải chân chính, không tà vạy mới là chính trị đích thực. Tức luôn cần
phải chính danh, ăn ngay nói thẳng, không bao giờ xuyên tạc hay tuyên truyền giả
dối. Thời quân chủ phong kiến mà Khổng Khâu đã từng biết và tuyên dương điều đó
thì mới quả đúng là nhà hiền triết mọi thời của thế giới. Nó hoàn toàn trái ngược
ngày nay một số người quan niệm chính trị là quyền lực, là công danh phú quý
cho lợi lộc riêng mình, tuyên bố thành “sự nghiệp chính trị” của bản thân mà ai
cũng rõ. Khác chi chính trị là lý tưởng nhân loại nếu là điều chính danh, khoa
học, lý tính, còn chính trị chỉ thành tà đạo, ma mãnh nếu biến thành cảm tính
hay thị hiếu của bản thân mình.
Nên
chính trị là cái mà nhiều người lợi dụng nhất mà cũng nhiều người khinh thường
nhất và sợ hãi nhất trong đời sống cộng đồng, xã hội chính là như thế. Kẻ lợi dụng
thì luôn coi chính trị là thống soái, thống trị mọi cái khác nhau. Kẻ coi thường
thì coi chính trị chỉ là thủ đoạn gian manh, là đê tiện thấp kém, người cao cả,
chân chính hay trong sạch chẳng bao giờ dấy vào mà phải tránh xa ra càng nhiều
càng tốt. Còn kẻ sợ hãi thì vì liên đới với cái sau mà coi chính trị như cùi
như hủi, sợ lây lan, sợ nguy hiểm, sợ bị lợi dụng hoặc bị lừa lọc, khống chế. Nỗi
sợ hãi chính trị là vô cùng bởi sợ bạo lực, sợ hắt hủi, sợ nghèo đói, sợ ngược
đãi mọi cách. Do đó hậu quả là trốn chạy chính trị, dững dưng với chính trị, vô
cảm với chính trị, tê liệt với chính trị hay thậm chí liệt kháng toàn diện với
chính trị. Kết quả là càng đánh mất quyền chính trị và càng bị người khác khống
chế, đè đầu mọi điều về chính trị.
Như vậy
khác gì tự thủ tiêu, bác khước tuyệt đối về quyền chính trị của mình, chẳng còn
biết, còn nhận thức được chút gì quyền chính trị là quyền công dân, là dân quyền,
là nhân quyền của tất cả mọi người. Bởi mọi người sinh ra trong đời đều bình đẳng
ngang nhau, đó là quyền chính trị trước hết. Chính bình đẳng như nhau nên mới
có tự do dân chủ, không ai được áp đặt, khống chế ai mà mỗi người đều có lá phiếu
bẩu cử như nhau. Quyền bầu cử, quyền ứng cử, đó trước tiên chính là quyền tự do
dân chủ. Tự do không phải được tùy tiện làm bất cứ điều gì mà tự do là được làm
mọi điều gì chính đáng, hợp khả năng mình và cũng là lợi ích cho mình, cho người
khác, cho xã hội, cho đời. Chính mọi sự độc tài đều thủ tiêu quyền chính trị
hay quyền tự do dân chủ chính đáng của tất cả mọi người. Nó luôn tướt đoạt của
người khác để dồn về chỉ cho bè nhóm, bản thân. Ngày xưa sự độc tài của Tù trưởng,
của Vua chúa, của Hoàng đế, hay ngày nay sự độc tài của cá nhân, của đảng phái,
của giai cấp, của bất kỳ thiết chế nào đó của xã hội cũng đều như thế.
Mất quyền
bầu cử ứng cử tự do cũng là mất quyền chính trị của riêng mình, mất trách nhiệm
chung xã hội của riêng mình, mất mọi quyền đóng góp chính đáng thiết yếu cho đời
của chính mình. Bởi không phải bất kỳ ai cũng ưa làm chính trị, cũng thiết tha
quyền lực chính trị. Nhưng với những người có tài năng, có phẩm giá, có lý tưởng,
có mục đích tốt đẹp, thì chính trị là môi trường thi thố để họ cùng liên kết với
nhau, cùng hợp sức với nhau để phục vụ cho đời, cho đất nước, dân tộc và xã hội.
Tướt đi mọi quyền hạn và giá trị chính đáng đó của họ thực chất là phi nhân, là
vô chính trị, phản chính trị, phản xã hội, phản lịch sử hay cả nói chung là phản
động. Bởi ai cũng bình đẳng thì lấy quyền đâu mà đè đầu người khác cách tiêu cực,
áp chế người khác cách phi nhân, và lũng đoạn xã hội đều theo kiểu tầm thường,
hạ đẳng và đáng ghét ?
Nên nói
chung con người và xã hội đều có những nguyên lý khách quan, tiên thiên, muôn đời
bất diệt của nó. Những nguyên lý này thì rất nhiều, và con người càng ngày càng
khám phá thêm ra theo con đường nghiên cứu khách quan khoa học. Nhưng tự trung
luôn có những nguyên lý nền tảng nhất không bao giờ có thể phủ nhận hay bỏ qua.
Như nguyên lý tâm lý, đây là nguyên lý tâm lý học muôn đời luôn đúng, mỗi con
người không thể phủ nhận hay vượt qua mọi nguyên tắc tâm lý trong đời sống nội
tâm hay nội dung ý thức, tinh thần của mình. Như kẻ cao thượng, người tầm thường,
kẻ trượng phu người nhỏ mọn, kẻ vị tha người ích kỷ, kẻ hiền đức người tai ác,
nghiệt ngã v.v… Ngoài ra còn nguyên lý hệ trọng khác là nguyên lý giới tính. Trời
sinh đàn bà đàn ông đều tâm lý có phần khác nhau, chức năng đời sống khác nhau,
có khi mục tiêu cuộc sống cũng khác nhau, cho dầu được hoàn toàn bình đẳng
ngang nhau về mặt hình thức pháp lý bên ngoài. Phủ nhận chính nguyên lý này đều
thật sự ngu xuẩn và phi lý.
Như vậy
cũng có nghĩa quyền chính trị và quyền xã hội của mọi con người trong xã hội đều
liên quan nhau. Tướt đoạt hay phủ nhận quyền này cũng có nghĩa là phủ nhận hay
tướt đoạt quyền kia của bất kỳ cá nhân nào. Cũng có nghĩa là tướt đoạt hay phủ
nhận cả quyền bản thân của người đó. Nói khác đi có ba quyền căn bản là quyền bản
thân, quyền xã hội, quyền chính trị luôn luôn gắn liền với bất cứ mọi công dân
hay mọi cá nhân nào. Bởi nó cũng gắn liền với dân quyền và với nhân quyền. Mọi
quyền đó đều liên quan, bổ sung nhau, đó cũng là quyền sống, quyền làm người,
và cả quyền hạnh phúc của chính mỗi con người và kể cả của toàn xã hội. Bởi cá
nhân chính đáng là cá nhân luôn được hưởng mọi quyền xã hội, tức quyền che chỡ,
bảo về từ xã hội, cũng như trách nhiệm bổn phận đóng góp thiết thực về nhiều
phương diện cho xã hội. Chủ nghĩa xã hội chân thực và khách quan là thế mà
không phải chủ nghĩa thiết chế dưới dạng bầy đàn, mù quáng, thấp kém và tiêu cực,
thụ động.
Cái
nhầm lẫn lớn nhất của Mác là nhìn con người, nhìn xã hội, nhìn lịch sử nhân loại
thảy đều thiển cận, nông cạn và phiến diện. Như Mác chỉ nhìn con người có bản
thân thuần toàn vật chất. Nhìn con người chỉ thuần là thành phần của giai cấp. Nhìn
xã hội chỉ là tổ hợp của hai cái đó. Nhìn lịch sử chỉ là sự phát triển của các
hình thái bề ngoài. Nên nhìn kinh tế chủ yếu cũng chỉ là cái ăn cái mặc, cái hưởng
thụ vật chất, cảm giác mà không gì khác. Nên Mác thực chất chỉ muốn chủ nghĩa
quân bình hay thậm chí là chủ nghĩa cào bằng. Mác không thấy, không hiểu xã hội
còn là một hệ thống sinh thái hoàn toàn khách quan, tự nhiên và toàn vẹn. Qua
đó Mác cũng nhìn kinh tế một cách cạn hẹp, lệch lác, hay chẳng hiểu biết, chẳng
nắm vững gì mọi quy luật kinh tế học nào căn bản cả, hoặc chủ yếu xuyên tạc hay
bóp méo để nhằm phủ nhận nó.
Như
Mác đưa ra cái đầu tiên là hiện tượng bóc lột trong sã hội tư sản. Mác dùng
quan điểm toán học kiểu máy móc, chủ quan, nông cạn, phiến diện nhằm mô tả điều
này. Từ đó đưa đến thuyết giá trị thặng dư làm nhiều người hoảng kinh và chóa mắt.
Họ không hiểu rằng Mác chỉ phân tích ở vài tình huống nào đó của khía cạnh kinh
tế vi mô mà không đếm xỉa gì đến mọi ý nghĩa hay giá trị kinh tế vĩ mô nào cả.
Như lạch nào cũng chảy vào sông, sông nào cũng trôi ra biển, đó là nguyên lý
chung nhất, bao quát nhân của lịch sử nhân loại từ ngàn đời mà ai cũng biết.
Các khác nhau là chất lượng của mọi thời đại còn các quy luật định lượng đều chỉ
luôn luôn na ná hay tương cận với nhau. Mác nhìn cây mà quên rừng. chẽ sợi tóc
làm tư mà không thấy cả đầu tóc luôn luôn mượt mà xinh đẹp, thiết yếu là kiểu
chỉ thế.
Mác
không nhìn thấy nguyên lý bổ sung, hỗ trợ, dây chuyền, kết hợp cùng nhau trong
kinh tế. Không có yếu tố nào riêng lẻ, rời rạc, tách biệt ra được chính nội
dung tổng thể của nền kinh tế cả. Mà nền kinh tế đều phải luôn tiến lên, biến
thiên, chuyển đồi, phát triển về mặt hình thái nhưng không bao giờ có thể ngưng
đọng hay thụt lùi lại được. Mọi nền kinh tế cũng như thân thể sinh vật, đó là sự
sống luôn tiến lên, như thân xác con người hay cái cây, ban đầu chỉ đơn giản là
hạt mầm thống nhất, giản đị, nhưng về sau càng phát triển lên cao càng phức tạp
hơn. Giai cấp xã hội cũng đều như vậy. Cái cây luôn chia thành tầng lá, thân
xác con người luôn chia thảy bộ phận, cơ quan, làm thế nào mà nhồi lại như một
kiểu xã hội phi giai cấp như điều Mác nghĩ. Bởi giai cấp chẳng qua chỉ là điều
đẳng cấp biểu hiện ra nhưng bên trong mọi sự liên kết, phân công đều hoàn toàn
thống nhất, chỉ theo đuổi cùng mục tiêu duy nhất là cái tổng thể cũng như mọi
cái thành phần. Không thể chỉ theo đuổi cái này mà không theo đuổi cái kia,
nhưng đó là cơ chế hoàn toàn tự động, tiết kiệm, không thể kiểu đếm đầu chia
xôi theo kiểu máy móc, thụ động, tiêu cực, chủ quan.
Chính
quan điểm lệch lạc, nông cạn, phiến diện như vậy về con người, về xã hội, về lịch
sử mà Mác phủ nhận luôn cả tinh thần, ý thức, tâm lý, tâm linh là cái luôn có từ
bên trong của mỗi cá nhân và xã hội. Mác chỉ nhìn toàn thể lịch sử cuộc đời chỉ
có thuần là vật chất, nên chỉ muốn rập khuôn, đóng khuôn, như kiểu bánh bột đậu,
chỉ cần hai thư căn bản là bột với đường, còn đồng khung, đồng bộ cả, mà Mác tự
hào cho đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trong tương lai. Từ đó cũng
thủ tiêu mọi quyền chính trị của con người, tức mọi quyền từ do dân chủ chính
đáng, tự nhiên, khách quan nhất mà Mác không hề bao giờ ngờ đến. Hay có ngờ
cũng tìm cách nhìn lơ để chỉ nhằm đến kiểu cá mè một lứa, gọi là bình đẳng cực
đoan, không còn kể gì đến tính đa dạng của tinh thần, của giá trị nhân bản hay
cả ý nghĩa của cuộc sống khách quan nữa.
Vả
lẽ con người luôn chính là ý nghĩa bản thân hay nội dung của nó, không phải là
hình thức bên ngoài của nó. Tuy bên ngoài cũng có phần nào đó thể hiện tính
cách tâm hồn bên trong nhưng không phải hoàn toàn chính xác, tuyệt đối. Trái lại
con người chính là nội tâm của nó, đó chính là tâm thức, tài năng, ý chí, phẩm
giá, đức hạnh, trí thức, nhận thức v.v… không phải hình dáng thân thể hay giai
cấp bề ngoài. Nên quan niệm giai cấp là quan niệm hết sức lệch lạc cho dù là
theo chiều hướng nào, tiêu cực hoặc tích cực, hòa bình, nhân bản, hay đố kỵ, kỳ
thị, thù ghét, bạo lực, hay bạo động, bạo loạn. Hoa hồng nào cũng có gai đó là nguyên
lý thiết yếu, con người thánh thiện mấy cũng có bản năng, đó là quy luật tự
nhiên, khách quan. Vấn đề là đãi cát tìm vàng, bầu cử ứng cử tự do dân chủ mà
không mánh khỏe hay dộc tài độc đoán, đó mới là yếu tố chính trị nhân văn và
khoa học cao nhất.
Đất
nước, dân tộc ta trong thời cận đại, bị thực dân Pháp đô hộ gần suốt trăm năm,
biết bao tinh hoa nổi lên nhưng không giành lại được độc lập bởi vì sức mạnh vật
chất, khoa học kỹ thuật quá chênh lệch. Bởi vậy Phan Chu Trinh (1872-1926) là nhà
yêu nước tận tâm và sáng suốt, hợp lý nhất khi đề ra ba nguyên lý Khai dân trí,
Chấn dân khí, Hậu dân sinh. Đó chính là nguyên lý nền tảng nhất cho mọi thời, mọi
nơi về các vấn đề chính trị xã hội. Bởi luôn luôn chỉ cần hai vế đầu mới vựt
lên được vế sau mà không thể nào làm ngược lại. Chỉ mãi đến gần hết Thế chiến
thứ hai, khi Đế quốc Nhật vào Đông Dương đảo chánh Thực dân Pháp nước ta mới lại
đổi chủ đổi tròng. Thê nhưng cái may bất ngờ là Nhật đã phải đầu hàng Đồng Minh
nên buộc bất đắc dĩ trao lại chủ quyền cho đất nước ta. Bởi vì trong thời Thực
dân Pháp đô hộ, nước ta vẫn còn chủ quyền tượng trưng là nhà vua Bảo Đại. Nên
Nhật trao quyền lại cho Bảo Đại hoàn toàn là điều thức thời, chính đáng, trách
nhiệm và sáng suốt, bởi vì cũng để bảo toàn cho giá trị đất nước Nhật sau này,
vì quyền hành xã hội chính trị bất cứ nơi nào đều không thể có phút giây nào được
gián đoạn hay bị đứt quãng.
Bởi
vậy Hoàng đế Bảo Đại khi đó nhân danh Đế quốc Việt Nam đã có trước kia đứng ra
tiếp thu quyền chính trị hay chủ quyền đất nước tư tay người Nhật là hoàn toàn
chính danh hợp pháp và cần thiết cho đất nước và dân tộc nếu không nói cho ngay
bản thân của nhà vua là điều hết sức chính đáng. Việc này không có gì là nhục cả,
bởi vì do điều kiện khách quan của lịch sử mà trong quá khứ mình bị bất lực,
thì thi thời cơ thuận lợi trở lại, thu hồi lại chủ quyền non sông, đất nước là
điều hết sức cấp bách và cần thiết. Như thế việc nhà vua Bảo Đại khi ấy đề cử học
giả Trần Trọng Kim ra nhận lãnh trách vụ Thủ tướng đầu tiên của đất nước cho thời
đại mới là hoàn toàn hợp lẽ và thiết yếu. Vả Chính phủ Trần Trọng Kim gồm toàn
đều những nhà trí thức, khoa bảng tên tuổi khi ấy cũng làm dân tộc an lòng và
tin cậy được, cũng như họ đã tích cực thực hiện được số thành tựu ban đầu để có
thể hi vọng càng lâu dài về sau nước nhà càng thêm củng cố và phát triển đi
lên.
Sự
thật Nhật Bản lúc ấy đã hoàn toàn bại trận và bị phe Đồng Minh giai giáp thì đất
nước ta cũng không còn gì có thể e sợ nữa. Nhật chỉ có thể quay về nước mà
không thể nào ở lại nước ta. Còn Pháp trước đó đã bị Nhật tướt chính quyền đô hộ
nước ta rồi thì về mặt danh chính ngôn thuận và pháp lý quốc tế của thời buổi mới
cũng khó nào quay lại kiểu xưa và dân tộc ta cũng không thể nào bất cứ giá nào
cho phép. Thế nhưng Chính quyền Trần Trọng Kim bị đảo chánh, lật đổ là như thế
nào ? Đó chỉ vì lực lượng Việt Minh khi đó đã thành lập sẳn, đã cài vào một số
nơi trong dân chúng. Tất nhiên họ thực chất là lực lượng chính trị vũ trang do
ông Hồ Chí Minh lãnh đạo là chủ chốt, ông là người đã từ Liên Xô về trước kia
và là người đảng viên cộng sản quốc tế trung kiên thuộc phe Đệ Tam quốc tế mà
ai cũng rõ.
Chính
thế việc lực lượng Việt Minh đứng lên lật đổ Chính phủ Trần Trọng Kim qua cuộc
Tổng khởi nghĩa ngày 19/8/1945 là tất yếu bởi vì nguyên tắc chính trị cộng sản
mác xít phải là như vậy, không thể để một chế độ tư sản tồn tại dưới bất kỳ giá
nào mà phải loại bỏ để tiến hành cuộc cách mạng vô sản trên toàn thế giới một
cách toàn diện và đầy đủ nhất mới có thể xây dựng được một xã hội cộng sản trên
toàn cầu trong tương lai. Nên sự bất hạnh của lịch sử dân tộc là sau đó lực lượng
vũ trang Pháp quay lại, và nổ ra cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo dài trong suốt
chính năm cho tới ngày Pháp bị bại trận ở Điện Biên Phủ và tiến tới chia đôi đất
nước ra hai miền Nam Bắc kể từ đây cho mãi đến 1975 sau khi cuộc chiến tranh Mỹ
Việt tiếp theo đã hoàn toàn chấm dứt.
Câu
hỏi đặt ra là nếu vẫn còn Chính phủ Trần Trọng Kim liệu Pháp có quay lại hay
không ? Điều đó có thể là có nhưng có thể là không hoặc trong dạng chính trị tương
nhượng nào đó của hai bên như Việt Nam tuy độc lập tự do nhưng nằm trong Liên
Hiệp Pháp chẳng hạn, có điều trước mắt có thể tránh được hai cuộc chiến tranh
liên tiếp diễn ra sau đó trong suốt 30 năm từ 1945 đến 1975 hao tốn biết bao
nhiêu người và của. Bởi vì như đã biết vào ngày 6-6-1949 sau khi ký thỏa thuận
với Pháp, cựu hoàng Bảo Đại (lúc đó đã trở thành Quốc trưởng Việt Nam trên danh
nghĩa) tuyên bố đất nước Việt Nam thống nhất cả ba miền Nam Trung Bắc không còn
chia cắt như trước kia thời kỳ Pháp đô hộ nữa. Mặc dầu Cựu hoàng sau cuộc Tổng
khởi nghĩa của Việt Minh đã thoái vị, trao lại Ấn Kiếm cho đại diện Việt Minh
và đã trở thành công dân Vĩnh Thụy kể từ đó. Cho nên trong hiệp ước với Pháp để
ra Tuyên bố chủ quyền và thống nhất lãnh thổ đất nước ngày 6-6-1949 nói trên, Bảo
Đại chỉ với vai trò Quốc Trưởng mà không phải là công dân Vĩnh Thụy hay cựu
hoàng nữa. Điều này cũng có nghĩa Bảo Đại đã liên kết với Pháp để chống lại lực
lượng Việt Minh khi ấy đã ra chiến khu và tới năm 1954 mới về lại Hà Nội khi đất
nước bị chia cắt lam hai miền Nam Bắc lẫy vĩ tuyến 17 làm phân ranh với hai chế
độ chính trị khác nhau hay hoàn toàn đối lập nhau cho mỗi miền.
Như
vậy cũng không thể phủ nhận vai trò và thiện chí của ông Hồ Chí Minh đối với đất
nước trong thời kỳ lịch sử này ? Bởi lý tưởng của ông là lý tưởng chủ nghĩa cộng
sản mác xít, có nghĩa ông tin tưởng đó chắc chắn phải là điều hoàn toàn hiện thực
trong tương lai, và lý tưởng mục tiêu xây dựng thiên đường cộng sản cho dân tộc
và đất nước thì còn gì bằng ? Lại khách quan mà nói, sau Thế chiến thứ hai kết
thúc, thế giới rõ ràng đã chia làm hai phe mới, phe Cộng sản quốc tế Đệ Tam do
Liên Xô đứng đầu, và phe Tư bản chủ nghĩa tự do mà Mỹ là người cầm lái. Điều đó
cũng thay hẳn cho trước kia thế giới đã chia thành phe Đồng Minh và phe Trục
hay Phát xít kể từ năm 1939 đến 1945 trên toàn thế giới. Điều này cũng có nghĩa
khi ông Hồ đã chọn con đường đi của mình rồi thì không còn quay lui được nữa
cho dù bất kỳ tình huống hay giá nào. Chứng tỏ khi còn ở Tân Trào lúc chưa về
Hà Nội, ông Hồ đã từng viết thơ cho Tổng thống Mỹ Wilson để xin liên kết nhưng
không được chấp nhận, chắc Mỹ khi đó đã nhìn tận xuất xứ của ông là đã đi theo
chiều hướng của Liên Xô.
Đó
tình trạn trớ trêu của Việt Nam trong Thế chiến thứ hai bắt qua sau thời kỳ Thực
dân Pháp đô hộ là như thế. Nhưng nếu lý tưởng chủ nghĩa cộng sản mà ông Hồ theo
đuổi được hoàn toàn thành công ngày nay trên thế giới thì quả thật ông Hồ là một
công trạng lớn nhất trong lịch sử đất nước cho dến nay chẳng ai nào bằng. Thế
nhưng tiếc điều ngày nay Liên Xô cũ đã hoàn toàn sụp đổ và tan biến, cả khối
Đông Âu cũng vậy, hay nói chung khối Cộng sản quốc tế cũ ngày nay đã hoàn toàn
tan rã. Cả Trung Quốc nhiệt tình hay cuồng tín là thế nay cũng hoàn toàn đổi
chiều, chuyển hương, quay trở lại đổi mới như Liên Xô xét lại thuyết Mác thời
xưa, mà thực chất nay quay về lại kiểu xã hội tư bản khởi đầu hoang dã sau khi
chính sách công xã tuyệt đối của Mao thất bại và Đặng tiểu bình đã đưa ra chính
sách mới mèo đen mèo trắng thay vào.
Thật
thì không thể phủ nhận mục đích chủ nghĩa cộng sản mác xít của ông Hồ Chí Minh.
Bởi mọi phủ nhận như vậy chỉ là ngụy biện và cốt tuyên truyền chính trị. Mọi
sách báo đảng cộng sản đã nói nhiều rồi, ngày nay không thể bẻ ngược lại được,
và khách quan và thực chất cũng là như thế ngay từ đầu sự nghiệp của ông. Cho
nên điều thắc mắc chính yếu là nếu không có ông Hồ Chí Minh cũng như không có
Việt Minh ngay từ đầu thì liệu sau này Pháp có thương thuyết với Bảo Đại để đi
đến Tuyên bố độc lập ngày 6-6-1949 của Cựu Hoàng hay không ? Hay Pháp vẫn chứng
nào tật ấy cương quyết không bỏ theo đuổi chủ nghĩa thực dân thuộc địa trên đất
nước ta. Phía chủ nghĩa cộng sản thì luôn tuyên truyền chính nhờ Pháp thua ở trận
Điện Biên Phủ mà chế độ Thực dân trên toàn cầu mới chấm dứt, nhiều nước chính
quốc phương Tây mới trả lại thuộc địa ở các nước Á Phi trong đó có Algrie chẳng
hạn. Điều này chưa chắc đã đúng, bởi vì cái mấu chốt là Thế chiến thứ hai đã chấm
dứt, để lòi ra bộ mặt lạc hậu của nền chính trị trong thế giới cũ nên ngày nay
bắt buộc phải đổi thay, lực lượng cường quốc toàn cầu đã chỉnh đốn lại, khoa học
kỹ thuật, kinh tế xã hội đã phát triển mạnh mẽ hơn thời trước, nhân loại đã
xích lại gần nhau hơn nhiều mặt, vậy không lý gì chế độ thực dân ngày trước cứ
còn nghiễm nhiên tồn tại được.
Tất
cả mọi ý nghĩa vấn đề đó đặt ra cho thấy thực tế chính trị và xã hội đã luôn
liên quan thiết yếu như thế nào. Nó không phải đúng cho từng thực tế xã hội, đất
nước, mà còn cho cả khu vực và trên toàn thế giới. Học thuyết Mác đã tõ ra
không đúng về mặt xã hội và lịch sử, trong đó có từng cá nhân con người, nên mới
thất bại về chính trị là vậy. Bởi vì nếu nó đúng với khách quan thật sự thì đã
thành chân lý khoa học và thực tế và đã thành công cả trên toàn cầu rồi. Nó kéo
dài từ khởi đầu 1917 ở nước Nga, thành lập chế độ Nga So Viết, tức nhà nước
Liên Xô cũ, nhưng rồi cũng sụp đổ tan tành ở nước Nga thời Gorbachev,
1987, tức đúng 70 năm hay kéo dai chỉ
bày thập kỷ. Trong khi đó cuộc cách mạng tư sản dân chủ dân quyền của Pháp từ
năm 1798 lan rộng ra cả thế giới và xuyên suốt cả nước Mỹ từ thời lập quốc đến
nay đã ngoài 200 năm thực chất vẫn cứ còn vững vàng và chẳng chịu bất kỳ hi
sinh hay tổn thất lớn lao nào cho xã hội nhân loại là sao ?
Đó
chẳng phải là chính trị nằm trên đầu sung như Mao Trạch Đông nói và nhiều người
cộng sản mác xít lặp lại, hay như Mác quan niệm chính trị chẳng qua là đấu
tranh giai cấp trên nhiều bình diện, và quyền lực hay quyền chính luôn là của
giai cấp thống trị nắm giữ mà không gì khác. Nhưng nói gì thì nói, thực sự lý
tính của nhân loại luôn luôn vẫn thắng cảm tính và thị hiếu của nhân loại cho dầu
nhiều khi phải thất bại và phải đầu hàng tạm thời. Tuy vậy, thời xưa đúng ra xã
hội còn lạc hậu, thế giới chưa được liên thông rộng rái như ngày nay nên khu vực
nào thường chỉ biết riêng khu vực đó. Ngày nay mọi sự đều thay đổi hẳn, lịch sử
mỗi quốc gia khó thoát khỏi lịch sử toàn thế giới, đó hoàn toàn là điều thực tế
khách quan chung. Thế giới ngày nay đã thành như một cộng đồng rộng lớn và từng
con người hay tổng thể loài người đều cùng chủ nhân của thực tế rộng lớn đó.
Như vậy xã hội tự do dân chủ càng cần phổ biến và mọi hình thức độc tài đều trở
nên lạc hầu và phi lý.
Trở
lại thực tế, khi chủ thuyết Mác được đưa vào hiện thực tới khi nó phá sản và
tan rã trên thế giới đến nay, trong thời gian 7 hay 8 thập niên đó, số người bị
tiêu diệt mọi nơi không dưới 100 triệu người chỉ vì lý do ý thức hệ. Còn ngoài
ra số từng bị đày đọa mọi mặt do sự nghèo nàn, xuống cấp về kinh tế, văn hóa quả
thật vô kể. Chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh, đào thoát, ngược đãi v.v… mọi mặt
do sự kỳ thị tâm lý đều là điều đau xót nơi nào cũng có xảy ra không ai phủ nhận
được. Chỉ có một số ít trong tồn tại nhân loại được hưởng lợi nào đó nhờ ngoi
lên được kiểu giai cấp thống trị mới vậy thôi.
Mặt
tiêu cực của chủ thuyết Mác thật không bù lại được các kết quả tích cực của nó.
Nhất là các tính cách cải tạo, tuyên truyền, giáo dục theo cách một chiều thực
chất làm suy thoái, tiêu điều cá nhân và xã hội rất nhiều mặt. Tính cách giả tạo,
đóng kịch, ti tiện, thấp kém, đố kỵ, thù hận ngấm ngầm giữa người và người, thường
xảy ra không phải là ít, hay nói chung đó là khía cạnh vong thân tức đánh mất bản
thân hồn nhiên, lành mạnh nơi cá nhân và xã hội vì sự độc tài và tính bạo lực vốn
là bao nhiêu hệ lụy không thể phủ nhận.
Nhiều
sự lý giải lệch lạc và cả sự tuyên truyền xuyên tạc về các sự kiện lịch sử
khách quan đã có khiến làm nhiễu loạn nhận thức, nhất là của các tầng lớp quần
chúng bình dân, chính là điều thật hết sức tai hại và đau xót đối với con người
mà nếu đứng trên bình diện nhân loại phổ quát đều dễ thấy rõ. Thực chất Mác chỉ
nhìn con người trên quan điểm thuần túy vật chất, điều đó làm hi sinh rất nhiều
những khía cạnh vốn có tự nhiên của con người như truyền thống, di truyền, nổ lực
phát triển, nổ lực giáo dục đào tạo v.v… Có nghĩa làm phung phí rất nhiều mặt
trí tuệ, tài năng trong quá khứ mà đáng ra không cần đánh mất hay hi sinh như vậy.
Có một thời gian dài từng xét lý lịch ba đời trong xã hội để nhằm bảo đảm đấu
tranh giai cấp, sự phụ thù, hoặc kèn cựa năng lực kiểu ích kỷ, thấp kém, thật
là chua xót không còn làm sao bù đắp được.
Như
vậy đã có sự nhầm lẫn hay sai lầm cố ý hoặc vô tình giữa cái quá khứ, cái hiện
tại và cả cái tương lai trong lịch sử hay về mặt lịch sử. Trong khi quá khứ là
cái dứt khoát đã qua, không còn có thể thay đổi hay sửa đổi được, lại đem chồng
lấn lên hiện tại và kéo dài để trùm lên cả tương lai, thật là điều nghịch lý và
hết sức ấu trĩ mà ít người nhận thấy, hay có nhận thấy cũng không hề, không
dám, hoặc cũng không cần gì lên tiếng. Tính chất vô cảm và phi trách nhiệm xâm
lấn vào mọi ngóc ngách, mọi nơi. Sự tôn giáo hóa, thần thánh hóa lãnh tụ, hay kể
cả thần bí hóa lãnh tụ trở thành hiện tượng quần chúng ấu trĩ, hạ thấp dân trí,
dân khí mà ai cũng rõ.
Thành
tóm lại, mọi trách nhiệm chung nhất, tiên quyết nhất chỉ đều do học thuyết của
Mác, còn mọi người cộng sản chẳng khác gì những lớp nạn nhân cố tình, vô ý, trực
tiếp hay gián tiếp khác nhau. Ý nghĩa chung là vấn đề cơ chế tạo ra mà không
còn ai được hoàn toàn chủ động nữa cả. Đây là vấn đề mà ngày nay mọi người cần
thấy không ngoại trừ bất cứ ai nếu có quan hệ ít nhiều đến nó. Không thấy tức
là cố chấp hay kiểu hoàn toàn vô ý thức trách nhiệm. Thế hệ cùng với ông Hồ đến
nay cũng đã chết hết, cả trong Nam ngoài Bắc, trong hay ngoài nước cũng đều như
thế, cả mọi thành phần dân chúng trong giai đoạn lịch sử đó ở mọi nơi cho dầu
chiến tuyến khác nhau nay đều xuống mồ cách này hay cách khác cả, không ai còn
nữa.
Nên
nói chung ngày nay chỉ có người còn sống do lịch sử quá khứ để lại, phạm vi này
hay phạm vi khác, mặt này hay mặt khác. Điều đó cũng cho thấy chính trị chỉ là
tương đối, quá khứ, hiện tại, tương lai cũng chỉ đều tương đối, không bất cứ điều
gì tuyệt đối cả. Ngay như mọi tên gọi hay nhãn hiệu cũng đều thế, chúng đều chỉ
là những danh từ thuần túy. Như ngày nay tên gọi của các chính đảng ở Liên Xô
cũng đã phần nhiều hoàn toàn thay đổi, có khi không còn nữa. Bởi đó đều chỉ là
các khuynh hướng cảm tính, thị hiếu nhất thời, không có gì thực sự bền chắc hay
bất biến. Ở mọi nơi rồi cũng nhất thiết như thế, không ngoại trừ bất kỳ đâu.
Nói
khác đi, mọi cá nhân, mọi nhân vật lịch sử đều rồi cũng có thể thay đổi qua lịch
sử phát triển. Tính cách tương đối của chính trị là thế, của lịch sử là thế,
hay nói chung của cả xã hội cũng thế. Chính trị chẳng có gì là nghiêm trọng cả,
chẳng qua chỉ do con người nghiêm trọng hóa nó. Mọi học thuyết chính trị trong
lịch sử nhân loại đều chỉ là tương đôi, chẳng qua do con người tuyệt đối hóa
nó, thần thánh hóa nó, nghiêm trọng hóa nó chỉ vì lý do này hay mục đích nọ.
Các lý do mục đích đó đôi khi có thể ngây thơ hay đôi khi có thể thấp kém hoặc
tầm ruồng để nhằm lợi dụng nó.
Thành
nên chính trị, xã hội, lịch sử, và cả con người luôn luôn khó có thể tách rời
nhau. Mà căn gốc đều do con người cả thảy, con người có thể cao quý, chính
đáng, hay con người có thể thấp kém, tầm thường. Nhưng chính con người nhằm tìm
cách giúp đỡ con người hay lợi dụng, chà đạp lên con người, đó xưa nay đều là ý
nghĩa của chính trị. Tức chính trị luôn có thể tự do dân chủ hay độc đoán,
chính trị có thể cao cả hay lừa lọc, thấp kém. Chính trị có thể là khoa học, kỹ
thuật trong sáng, hiệu quả, mà chính trị cũng có thể là các thủ đoạn lừa dối
hay tuyên truyền phỉnh gạt, có điều qua thời gian khi mọi lớp người có liên
quan chết đi, nó đều trở thành quá khứ. Đúng lý ra, khi đó nó đã trở thành lịch
sử, không còn liên quan gì trực tiếp đến hiện tại hay tương lai nữa. Nhưng cái
đó vẫn còn tùy vào tâm ý hay tính cách lợi dụng của con người.
Bài
viết này thành ra vừa mang tính cách lý thuyết khoa học về lịch sử lẫn về chính
trị, hay vừa mang tính cách lý thuyết triết học về chính trị và lịch sử cũng thế,
hay tính cách khoa học lẫn triết học về con người và xã hội cũng chẳng có gì
khác. Bởi vì các lãnh vực hay phạm vi đó đều luôn đan xen, kết cấu lẫn nhau,
nói không bao giờ dứt. Vậy nên đến đây cũng muốn kết luận lại như một gợi ý. Gợi
ý về chính trị, xã hội, cũng như về lịch sử, để mọi người đều có thể cùng nhau
suy gẫm, trao đổi, phán xét và phản biện thế thôi, còn tùy theo quan điểm hay
góc độ cái nhìn, sự phán đoán, cũng như tùy theo tâm ý, hoặc mục đích theo cách
nào đó, ngay cả tùy theo trình độ và khả năng nhận thức của từng mỗi con người.
THƯỢNG
NGÀN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét