VẤN ĐỀ LỜI NÓI
VÀ CON NGƯỜI
Lời
nói là thành phần của ngôn ngữ. Ngôn ngữ có nhiều loại và phạm vi rất rộng. Phạm
trù ngôn ngữ là đặc điểm chung của nhiều giống loại, cả ngoài người và loài vật.
Đó là công cụ giao tiếp giữa nhau không thể thiếu hay không thể không có. Vì
ngôn ngữ là sự biểu lộ ra nhiều mặt, mặt chủ thể phát biểu hay biểu hiện, và mặt
chủ thể nhận thức hay tiếp nhận. Cả cây cỏ cũng có ngôn ngữ của nó, chắc chúng
có thể hiểu nhau, loài vật có thể hiểu chúng, cả con người cũng có thể trực quan
được nếu có ý thức thích hợp. Riêng loài vật cũng có ngôn ngữ là tiếng kêu,
công cụ biểu hiện thông tin, tình cảm và cảm xúc của chúng, bởi chúng cũng là sự
sống và chủ thể có ý thức.
Trong
khi đó sự vật không có ngôn ngữ, chúng chỉ phát ra tiếng động, bởi chúng đều
hoàn toàn vật chất. Như gõ vào chuông, chuông kêu, khảy vào giây đàn nó phát ra
tiếng. Nhưng tiếng đàn là tiếng của người đàn, không thuần túy là tiếng của âm
thanh dây đàn. Nói chung mọi âm thành đều được truyền qua không khí, lời nói
hay tiếng nói cũng vậy. Đó là dạng thể sóng âm. Nhưng sóng vật chất có nhiều,
không phải duy âm thanh nghe thấy. Như loại siêu âm, hạ âm, tai con người không
thể nhận ra được. Thật ra sóng âm hay sóng ánh sáng đều là loại sóng điện từ,
nó có thể vượt qua không gian trống rỗng và có khả năng đi rất xa, vào tận
trong lòng vũ trụ.
Thế
nhưng chúng ta chỉ nói ở đây về ngôn ngữ của con người, tức là loại ý nghĩa
nhân văn mà loài người có được. Tất nhiên nó cũng phải thông qua phương tiện là
sóng điện từ, từ nguồn phát đến nguồn thu mọi loại, như các phương tiện máy móc
mà đơn giản nhất là cơ quan, bộ phận phát âm, hay môi miệng và lưỡi con người.
Nhờ lưỡi mềm và cổ họng có chiều sâu mà con người phát ra được tiếng nói. Lưỡi
không xương nhiều đường lắt léo, đặc điểm đầu tiên của lời nói cũng chính là ở
đó, còn cổ họng có chiều sâu, lời nói thường chứa nhiều ý nghĩa uẩn khúc cũng
là như vậy.
Thật
ra, với con người, ngôn ngữ cũng có nhiều phương diện hay chủng loại, như ngôn
ngữ thân thể, phát ra trực tiếp bằng thân thể, ngôn ngữ điệu bộ, phát ra trực
tiếp bằng thái độ cử chỉ, biểu hiện qua cử động, vận động thân xác, cuối cùng mới
tới ngôn ngữ lời nói, điều chúng ta đang bàn tới. Ngoài ra còn có thứ ngôn ngữ
vô hình, gọi là lời vô ngôn, chỉ hiểu trực nhận với nhau nếu có cùng một tần số
cảm thức. Nhưng thông thường, ngôn ngữ có ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Lời
nói có thể nghe bằng tai, hay có thể viết ra và dùng mắt đọc. Nói có sách mách
có chứng, tai vách mạch rừng, lời nói gió bay đều có cùng các ý nghĩa như thế.
Có
điều quan trọng hơn hết, lời nói không phải tự dưng xuất hiện ra mà nó phải được
bắt nguồn từ nói nào đó, chính là não bộ hay đầu óc con người. Nếu không được
như thế, người ta chỉ đánh giá là lời nói điên khùng, chẳng mang ý nghĩa hay lợi
ích nào cả. Có nghĩa lời nói đúng đắn luôn phải có lợi ích hay ý nghĩa nội dung
thông tin nào đó. Tức lời nói phải đi cùng ý thức nhận thức và mục đích đạt tới,
bởi nếu không lời nói chỉ vu vơ không mang lợi ích hay ý nghĩa nào cả. Lời nói
phải mang ý nghĩa nhân văn là như vậy, nếu không lời nói chỉ là giả dối, người
ta gọi là chót lưỡi đầu môi, chủ yếu chỉ để nhằm phỉnh dụ, lừa gạt người khác.
Lời
nói con người mặt khác còn có âm tiết và âm giọng. Âm tiết là các yếu tố phát
âm cơ sở cấu thành. Thường nó thể hiện qua bản mẫu tự đầu tiên cốt để tạo ra mà
ngôn ngữ nào cũng có. Tiếng Việt là tiếng đơn âm nên âm tiết đều có nội dung
phong phú, cụ thể, không phải như tiếng châu Âu, âm tiết của tiếng đa âm đều chỉ
là âm tiết ghép để tạo nên từ ngữ mới có ngữ nghĩa. Còn âm giọng cũng tạo thành
loại ngữ điệu uyển chuyển mà tiếng Việt vượt hơn hẳn nhiều ngôn ngữ khác. Do đó
thơ lục bát rất phong phú, Truyện Kiều rất điệu nghệ, âm nhạc ca khúc Việt rất
say đấm, nhất là chuyện các bà chưởi lộn ngoài chợ hay hai bà mất gà chưởi nhau
suốt cả ngày vẫn nghe không hề chán đều là như vậy.
Thành
ra lời nói nhìn chung phải đi theo nội dung mà nó chứa đựng. Đó là câu từ trong
nói và cả viết. Câu là gồm những từ, từ là hàm mỗi ý, ý là nội dung chuyển tải
của câu, không thể có câu vô nghĩa mà được người nghe chấp nhận. Nhưng câu nói
hay lời nói có nội dung như thế nào còn tùy mục đích người phát ngôn ra và tùy
cả khả năng người tiếp nhận vào, đó chính là mục đích và trình độ của ngôn ngữ.
Hai đưa học trò nhỏ tiểu học nói chuyện
với nhau chúng đều hiểu cả. Nhưng đưa trung học và đứa tiểu học là đã có độ
chênh. Nên sinh viên đại học và thầy giáo mới có thể đi dạy được cho các bậc sơ
học hay tiểu học. Tức ngôn ngữ ngoài tính phổ dụng, còn có ý nghĩa và trình độ
riêng của nó theo các trường hợp.
Thế
nên mới có ngôn ngữ bình thường, ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ chuyên ngành, ngôn
ngữ triết học, ngôn ngữ nghệ thuật v.v… mà không phải đều dùng như mẫu số chung
cho tất cả. Thậm chí còn có ngôn ngữ lừa dối, ngôn ngữ chưởi bới, ngôn ngữ lưu
manh, ngôn ngữ khẩu chiến, ngôn ngữ chính trị, ngôn ngữ tuyên truyền, ngôn ngữ
ngoại giao, ngôn ngữ xã giao, ngôn ngữ đe nẹt v… thôi thì đủ loại. Nên ngữ cảnh
cũng là tính cách của ngôn ngữ, nhằm dùng hiểu lời nói qua đó, ngữ điệu có khi
là vũ khí của ngôn ngữ khiến cho người ta tức gan, cay cú. Cả ngôn ngữ nói đường
hiểu ngã, để chơi nhau một cách tế nhị mà khó thể bắt bẻ, hay kiểu ngôn ngữ né
tránh trong chính trị để khỏi phải bị bắt giò thường có trong các xã hội độc
tài độc đoán. Nói chung ngôn ngữ không phải chỉ là công cụ, khí cụ mà cũng còn
là một nghệ thuật, và lời nói cũng nằm trong môi trường như thế.
Bởi
vậy người xưa bảo ngôn ngữ cần phải đứng đắn, trang trọng mới tạo niềm tin và
tính văn minh. Một lời bất tín vạn sự bất tin đều là như thế. Bởi ngôn ngữ hay
lời nói luôn đi theo với nội dung của nó. Nội dung lỏng lẻo lời nói chuệch choạc,
nội dung gian trá lời nói giả dối, nội dung hiểm ác lời nói dọa nạt, nội dung
lường gạt, lời nói quanh quẹo, không ngay thẳng v… Bởi vậy ngày xưa Khổng tử
nêu ra thuyết Chính danh không phải vô lý. Trái bầu phải nói là trái bầu, không
thể bảo đó là bình rượu. Danh bất chính ngôn bất thuận ngôn bất thuận sự bất
thành đều luôn như vậy, từ việc nhỏ đến việc lớn, đừng nên coi thường.
Con mèo
phỏng nước sôi một lần thì luôn thấy nước là sợ, con gà gặp rắn một lần thì thấy
dây thừng đều sợ. Đó là tâm lý tự nhiên của mọi loài, cả loài người cũng vậy và
còn hơn vậy. Do vậy không ai lấy tay mà có thể che mãi được mặt trời, cái kim
trong bọc không lòi mau cũng lòi chậm, có thể dối mỗi người một lần nhưng không
thể dối mọi người mãi mãi đều là những sự thật như thế. Cho nên sự lừa người
trước hết là do vô tình hay do ngây thơ. Vô tình là vì mình ngây thơ, tin điều
gì dó là thật và muốn người khác cũng tin như mình. Ngây thơ còn là việc tưởng
người khác ngu hơn mình, người khác kém hiểu biết hơn mình. Bởi vậy mọi sự
tuyên truyền giả tạo đều vấp vào hai lỗi đó. Nói khác hễ tuyên truyền là luôn
giả tạo, bởi tuyên truyền luôn khác hay trái ngược lại với thông tin và giáo dục.
Thông
tin là truyền đi tin tức một cách trung thực, không bóp méo, không thổi phồng,
không thêm bớt, xuyên tạc, đó là thông tin khoa học, hoàn toàn thiết yếu và
đúng đắn, trên cơ sở niềm tin đúng nghĩa và tạo niềm tin xác thực được cho người
khác. Giáo dục là trang bị, thông tin, đào tạo theo cách xác đáng, trung thực
theo cách khoa học. Nếu giáo dục mà chỉ mục đích tuyên truyền là phi giáo dục,
phản giáo dục. Bởi vậy Khổng tử ngày xưa khi nói về chính trị luôn nhấn mạnh đến
khái niệm “Chính dã chính dã”, tức chính trị cần phải luôn chân chính không thể
bậy bạ. Chính trị theo nghĩa xưa trước hết phải là tề gia trị quốc rồi mới bình
thiên hạ. Từ cái khởi điểm đã thành lộn xộn rồi thì nói gì đến cái lớn hơn thế
nữa, chỉ thành giả dối, lừa gạt. Cái gốc không vững thì còn đâu cái ngọn mà thành.
Giá trị bản thân mọi mặt không có thì dễ gì mà nói đến chuyện lớn lao. Nhân lễ
nghĩa trí tín bởi vậy chính là điều được đặt ra như nền tảng cho con người mọi
thời mọi nơi chính là như thế. Ngày nay nhiều người không hiểu, không nghiên cứu
Khổng Mạnh một cách sâu xa mà chỉ hiểu bề ngọn, hiểu tà ý, hiểu xuyên tạc, hiểu
theo kiểu phiến diện nông cạn, hiểu theo kiểu ngụy văn rồi chê õng chê ong là lạc
hậu là phong kiến là phản động thật chẳng còn ra chút kiến thức đứng đắn, đầy đủ
hay sâu xa nào hết.
Nên thường
ngôn lời, ngôn ngữ hay lời nói của người xưa đều luôn cẩn thận, thận trọng, sâu
sắc, đúng đắn và sâu xa cả, Đông cũng như Tây, bởi họ đều là các bậc hiền giả,
lời nói không đi theo cách thông thường mà hay chứa đựng những nội dung tư tưởng
được chiêm nghiệm rất bao quát và kỹ lưỡng nên cũng khó sai vào đâu được. Bởi vậy
có nhiều lý thuyết còn tồn tại đến nay hàng ngàn năm mà cũng không bao giờ sai
hỏng được ý nghĩa. Hay nói khác đi, lời nói thường đi theo trình độ nhận thức
mà mục tiêu ý đồ của người nói lẫn người nghe. Tình độ hiểu biết càng cao, mục
đích càng cao cả, lời nói càng chính xác, sâu xa và bao quát, còn không thì
hoàn toàn ngược lại. Lời nói kiểu hàng tôm hàng cá thì chỉ phù hợp với loại
hàng tôm hàng cá, còn lời nói của những bậc trưởng giả, những nhà tư tưởng lớn
thì thường phù hợp và có giá trị, ý nghĩa đến muôn đời. Nên kiểu cái lon thì
không đựng nổi cái vại, cái vại thì không đựng nổi cái ao, ao hồ thì không đựng
nổi sông biển chỉ là một điều thông thường mà ai cũng rõ.
Trong
thời đại ngày nay còn có điều nực cười hơn nữa là kiểu các ý thức hệ mọi loại.
Bởi niềm tin quá đáng hay mù quáng vào bản thân của nó mà nhiều người tưởng đó
là lý tưởng muôn phần hay ngàn đời tuyệt đối nên mới thường hay kiểu dùng tuyên
truyền dối gạt. Đó chính là tâm lý hay nhận thức kiểu mục đích biện minh cho
phương tiện. Cho là mục đích đã tuyệt đối tốt thì có thể sử dụng được tất cả mọi
phương tiện, kể cả dối gạt, cưỡng chế, hay nếu cần thì tiêu diệt cả các khuynh
hướng nào chống đối cũng thế. Như kiểu tuyên truyền Quốc xã, phát xít, chủ
nghĩa quốc tế mà từng một thời ai cũng đều biết. Cuối cùng vẫn chỉ đưa đến kết
quả là bạo phát bạo tàn, phát nhanh thì sụp đổ cũng nhanh, bởi vì quy luật lý
lòng người và cuộc đời ngàn xưa đến nay chỉ đều có một.
Đó
chính là trình độ hiểu biết và sự thẩm thấu từ từ vào trong. Trình độ hiểu biết
của xã hội luôn luôn không dừng một chỗ hay thụt lùi mà nó vẫn mãi luôn tiến tới
qua sự phát triển của lịch sử nhân loại nói chung. Cái gì non nớt tưởng sai
trong quá khứ thì giờ đây lại thấy đúng, cái gì non nớt tưởng đúng trong quá khứ
thì giờ đây lại thấy rõ là sai. Nói chung là do mọi sự sai đúng không phải nhận
thức theo cảm tính, theo thị hiếu nhất thời, mà phải theo lý trí hay lý tính
khách quan. Điều này cũng không phải khu biệt riêng tư mà phải theo sát với
trình độ học vấn, văn hóa, hiểu biết và trí não luôn luôn đi lên phát triển.
Không bất kỳ ai tách rời ra khỏi lịch sử, dừng lại, thụt lùi, hay đi ngược lại
được dòng lịch sử nói chung là như thế. Mọi ý thức hệ non nớt từng một thời cảm
thấy đúng, tác giả của nó thấy đúng, quần chúng chấp nhận hay bị chấp nhận nó
thấy đúng, nhưng cuối cùng vẫn phải được sáng ra là như thế. Mọi sự mù quáng, ấu
trĩ về chính trị và ý hệ đều thật muôn đời tệ hại mà dù không nói ra thì muôn đời
ai cũng có thể hiểu.
Do vậy
những xã hội thời xưa, truyền thống vẫn luôn coi trọng những bô lão, những người
già, những bậc trưởng thượng trong làng xã, kiểu như Hội nghị Diên Hồng ở thời
Trần, phép vua thua lệ làng hiểu theo nghĩa tích cực và cao cả nhất, khái niệm
thân hào nhân sĩ của địa phương v.v… từng cả nhiều thời được quý chuộng, trân
trọng, nhưng rồi về sau đều bị coi thường, đả kích cho là lạc hậu, cản ngại cho
cách mạng chỉ vì dốt nát, tâm lý quần chúng ô tạp số đông đã khiến một thời vô
cùng tệ hại cho lịch sử là thế. Đợt cải cách ruộng đất 1953-1957 ở Miền Bắc hay
Nhân Văn Giai Phẩm trong thế kỷ trước đều đã cho thấy các nhược điểm, nguy hại
của tâm lý đó. Điều đó làm cắt đứt với truyền thống văn hóa tốt đẹp cả ngàn
năm, hại thảy cho xã hội, cho đất nước mọi điều chính là như vậy. Ông Đội đã từng
lừng danh còn hơn cả Thầy Đội thời Pháp thuộc, ông Đội có quyền sinh sát không
ai dám chống lại, cả địa chủ ngày trước cũng phải thưa dạ, xưng con, thật là đổi
đời ngàn thuở, chỉ vì ông Đội đã được gắn nhãn, đã được phong là quần chúng
nhân dân vô sản, thành phần cốt cán, lực lương tiên phong của giai cấp được ý hệ
bảo trợ v.v… và v.v…
Nên tóm
lại, lời nói và con người không phải là việc tầm thường của xã hội xã hội loài
người mà hết sức căn cơ và quan trọng từ xưa nay chính là như thế. “Học ăn học
nói học gói học mở” là câu tục ngữ đầu tiên được cha ông ta dạy ngay cho trẻ
con không phải là vô bổ. Hay câu ca dao “lời nói không mất tiền mua lựa lời mà
nói cho vừa lòng nhau” đó là sự biểu hiện cho văn minh văn hóa ngàn đời đã từ
xưa của dân tộc Việt Nam. Nên không phải dân ta chỉ bắt chước Tàu, chỉ học theo
đạo Nho của Khổng Mạnh mà thật ra ngay từ ngàn xưa đất nước ta cũng đã có nền
văn hóa, tri thức cơ bản độc lập riêng, cũng đủ để tự lập và tồn tại phát triển
qua hàng ngàn vạn câu ca dao tục ngữ luôn là bài học nền tảng lưu truyền muôn
thuở. Nho học hay Tam giáo đồng hành một thuở chẳng qua chỉ điều bổ sung tiếp
thu thêm mà ta không bao giờ mất gốc.
Ngày
nay với nền khoa học hiện đại trên toàn thế giới phát triển, dân tộc, đất nước,
con người cũng phải hòa nhập vào trào lưu của thế giới, đi lên phát triển,
không thể nào chỉ mãi dừng ở những thói quen thủ cựu, lạc hậu, phản động nào đó
mà phải luôn tiến lên hòa hợp chung vào dòng đời phát triển không ngừng của
nhân lại, bằng những sự hiểu biết mới mẽ nhất mà loài người đã có hay nay đã
mang lại. Hiểu biết con người, xã hội, lịch sử về mặt khoa học nhân văn, khoa học
xã hội hiện đại nói chung, hiểu biết về ngôn ngữ hay khoa học ngữ ngôn cũng thế.
Sự hiểu biết nhằm để đào sâu, phát triển, nghiên cứu thêm cho được bằng người
và đóng góp cùng người, không phải chỉ hài lòng kiểu con sâu cái kiến, mọi cái
chỉ nhằm học theo, làm theo chỉ trong kiểu não trạng nô lệ, thụ động, thấp kém
thật chẳng xứng đáng gì cho nhân cách mỗi người và cho cả đất nước, dân tộc
ngàn đời mà lịch sử đã qua chúng ta đã từng luôn có được.
By
TRĂNG NGÀN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét