NÓI VỀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA
HỆ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
VÀ HỆ TƯ TƯỞNG MÁC XÍT
Hệ tư
tưởng Nho giáo, còn gọi là Đạo Nho, do người sáng lập ra là Khổng tử (551-479
TCN), tên là Khổng Khâu, tự Trọng Ni. Ông không phải là người sáng tác ra các
tác phẩm của mình, ông chỉ là người trước tác, tức san định, chỉnh đốn lại các
di sản liên quan có từ thời cổ trước đó. Có nghĩa đây là một sự kế thừa, tổng hợp
vĩ đại lấy từ cả nền văn hóa Trung Hoa xa xưa đã có trước ông.
Nội
dung đó gồm có Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tứ Thư là bốn bộ sách nền tảng: Đại Học,
Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Hai sách đầu hướng vào tư tưởng chung nhất được
Khổng tử đưa ra. Luận Ngữ là cuốn ghi lại những ý tưởng căn bản về luân lý đạo
đức, chính trị xã hội, là kết quả đối thoại giữa Khổng và môn đồ những tháng
ngày ông giáo dục, đào tạo. Đây là cuốn sách thông dụng nhất, được nhiều người
khen nhất và cũng bị nhiều người ngày nay phê phán nhất.
Ngũ
Kinh: Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Kinh Thư tập trung
về tư tưởng chính trị, Kinh Thi tập trung vào thi ca bình dân đã có trước mà Khổng
tử rất tâm đắc vì các nội dung ý nghĩa tư duy của nó. Kinh Dịch chủ yếu là tư
tưởng siêu hình triết học mà ông ta hết sức đề cao, trân trọng. Kinh Xuân Thu
như một bộ sử biên niên ghi lại những sự kiện thực tế đầy giá trị quan trọng của
xã hội khi trước cả đương thời của Khổng tử.
Qua Tứ
Thư, Ngũ Kinh, tư tưởng Khổng tử hay hệ tư tưởng Nho giáo được trình bày bao
quát, hệ thống, toàn diện, sâu xa và đầy đủ nhất. Đặc biệt bộ Mạnh tử gồm hai
cuốn thượng hạ, dành riêng cho tư tưởng của Mạnh tử ((372-289 TCN) cũng là bộ
phận không thể tách rời tư tưởng của Khổng tử. Ông ta sinh sau Khổng tử cả trăm
năm, nhưng thấm nhuần tư tưởng người đi trước, tự nhận là vị thầy vĩ đại của
mình, và hệ tư tưởng Khổng Mạnh cũng mang ý nghĩa từ đó.
Vậy nền
tảng sâu xa và bao quát nhất của hệ tư tưởng này là gì ? Đó chính là Đạo Nhân
hay lòng Nhân ái, tình yêu thương con người. Và cũng chính ý nghĩa này mà Khổng
Mạnh đã tồn tại suốt với lịch sử cha ông, đất nước ta hàng ngàn năm nay. Cha
ông, tổ tiên ta đâu phải quá mờ tối, ngu si mà đi tôn thờ một học thuyết ngoại
lai nếu không có lý do hữu lý và chính đáng. Nhưng chính lòng từ ái của dân tộc
phù hợp với Khổng Nho là thế. Đó không phải vì phong kiến Trung Quốc truyền bá,
ép buộc, cưỡng chế, mà chính là ý nghĩa tự chủ, tinh thần sáng suốt của dân tộc
ta.
Ngoài
tính chất nhân bản từ đạo Nhân ra, học thuyết Khổng tử còn là học thuyết rất
chú trọng về tương quan xã hội. Đó là học thuyết hoàn toàn thực tế và xác đáng
là thế. Giềng mối Tam cương, Ngũ thường thực chất cũng là giềng mối tốt, sáng
suốt, không hoàn toàn mù quáng, mê muội như nhiều người kém hiểu biết lầm tưởng.
Ngũ thường là phẩm chất, là đức tính nhân văn căn bản nhất của con người mà xã
hội nào cũng cần, thời đại nào cũng cần. Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín đâu có gì lạc
hậu, xấu xa, phong kiến, mà trái lại nâng cao phẩm chất con người, ý nghĩa, giá
trị va nhân cách con người.
Nhân là
cốt lõi của đạo Nho, điều đó ai cũng hiểu rồi. Lễ là trật tự bao quát của xã hội.
Sự tôn kính lẫn nhau này giữa người và người làm phát huy đạo Nhân, làm giềng mối
thực tiển cho xã hội, bổ sung cho pháp luật, làm cho pháp luật khỏi thành máy
móc, xa lạ, bất nhân, lạnh lùng trong nhiều trường hợp. Tín là đức tính sâu xa
nhất giúp người ta tin cậy lẫn nhau, phát huy thêm đức nhân, tình đồng loại, đồng
bào và lòng nhân bản. Cuối cùng Trí làm người ta sáng suốt, không a dua, không
mù quáng, không khờ khạo, nô lệ, phụ thuộc. Đó cũng là ý nghĩa nếu bật và bảo đảm
tinh thần tự chủ, tự do không hơn không kém.
Còn Tam
cương là gì ? Là mối quan hệ giữa vợ chồng, cha con, thầy trò. Mối quan hệ này
trong xã hội loài người luôn luôn phải có, nhất thiết phải có, đời nào cũng có.
Đây là mối quan hệ khách quan, chiều sâu, tự nhiên, không phải chỉ hoàn toàn bề
ngoài hay giả tạo. Quan hệ vợ chồng là giềng mối của gia đình, là hạt nhân cơ bản
của xã hội làm sao có thể coi thường, xem nhẹ được. Quan hệ thầy trò cũng thế,
mở rộng ra là quan hệ bạn bè, tình bạn, để mọi người cùng cưu mang, dạy dỗ,
giúp đỡ nhau. Nói rộng hay nâng cao hơn, đó cũng là quan hệ công dân nhà nước,
mà thời phong kiến chỉ giới hạn trong vòng chúa tôi, còn thời đại ngày nay là
bình quyền dân chủ nhưng không thể nào không có.
Kinh
Thi, Kinh Lễ, Kinh Nhạc (vốn thất lạc), Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu vào thời Khổng
tử đều là những kinh bổ sung cho nhau, và bổ sung cho cà Tứ Thư cũng như ngược
lại. Hệ thống Đạo Nho bởi vậy là hệ thống toàn bích, mỗi khía cạnh đều có vai
trò tế nhị, sâu sắc, cần thiết của nó, không nên thiếu cái nào, không thể thiếu
cái nào để tránh mọi phiến diện, thiếu sót, cực đoan hay ấu trĩ. Ý nghĩa trong
sách Trung Dung là thế. Bởi vậy đạo Khổng còn được cho luôn luôn là đạo của sự
trung dung, không thái quá, không bất cập, và nhiều người còn cho Khổng tử là
thánh chi thời, tức luôn luôn nhìn mọi sự điều hòa, cân đối, không để cho thái
quá hay bất cập.
Tinh thần
Khổng tử là tinh thần đạo Nhân nên không thể bảo chỉ thuần là tư tưởng phong kiến.
Chỉ bởi vì thời đại của Khổng Khâu là thời đại phong kiến thì làm sao mà ra
ngoài hay tách ly được. Ở bầu thì tròn ở ống thì dài chỉ là điều khách quan tất
yếu. Hình dạng bên ngoài có bao giờ làm ảnh hưởng tố chất thật sự bên trong
sao. Nên những người thiển cận, phiến diện lên án Nho giáo là phong kiến đều là
cái nhìn máy, móc, cực đoan, ngu dốt. Tư tưởng Khổng tử là tư tưởng “Thiên Nhân
tương dữ”, tức quan điểm Tam Tài, Người và Trời đất. Như vậy Trời mới là chân
lý tối thượng, bao quát, đâu có phải là phong kiến, vua tôi. Nhất là Mạnh tử về
sau còn bổ sung quan điểm dân chủ sâu sắc nhất vào đạo Nho khi ông bảo “Dân vi
quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Ông nói vua cũng như thuyền, dân có thể
nâng thuyền mà cũng có thể làm lật thuyền. Tư tưởng dân chủ tự do như vậy còn
gì cao quý bằng, còn gì thiết thực và tân tiến bằng.
Tư tưởng
tự do dân chủ hoàn toàn hết sức tiến bộ của Mạnh tử là xuất phát từ tính nhân
văn hay đạo Nhân của Khổng tử, đặt con người lên trên hết, yêu con người là mục
tiêu trước hết. Lời đầu tiên trong sách Đại Học rõ ràng nói như thế: “Đại học
chi đạo tại thân dân (hay tân dân), tại chỉ ư chí thiện. Nhi hậu hữu định, định
năng an, an năng đắc”. Tức mục đích cuối cùng là con người, là nhân bản, là xã
hội hòa hợp, thanh bình, đại đồng theo kiểu tự do dân chủ, tinh thần khai
phóng, khách quan, tự nhiên mà đâu gì khác.
Tức đạo
Khổng là đạo duy tâm, hữu thần. Thần đây là nguyên lý sâu xa, tối cao của vũ trụ,
như đầu tiên là cái lý Thái cực. “Thái cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ
Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái v.v…” mới tạo thành con người, thiên nhiên, vạn vật.
“Nhân linh ư vạn vật”, người là tinh túy nhất trong vạn vật, đó nghĩa là thế.
Nên tuy là tinh thần thực tế, nhưng tư tưởng Khổng tử chẳng bao giờ theo kiểu
duy vật tầm thương. Thế nhưng Khổng tử không hề mù quáng, mê tín vào số mệnh
hay thần linh. “Kính nhi viễn chi”, đó là lời khuyên rất ý tứ, tinh tế và không
ngoan cho mọi người về thần linh mà Khổng tử từng nói và ai cũng biết. Những tư
tưởng như thế nhan nhãn trong Luận ngữ ai cũng có thể tìm thấy được.
Nhưng đặc
biệt hơn hết và quan trọng hơn hết trong Nho giáo chính là nêu bật đạo người
Quân tử. Sự phân biệt hai hạng người tiểu nhân và quân tử luôn luôn là quan điểm
thực tiển và xác đáng của đạo Nho. Đây là quan điểm khoa học tâm lý học hết sức
căn cơ, khách quan và thực tế. Bởi vì nó nói lên tính chất con người có mặt tự
nhiên bẩm sinh là phần lớn. Ngày nay khảo sát về gien di truyền người ta cũng
thấy cơ sở khách quan khoa học của nó. Con nhà tông không giống long cũng giống
cánh, hổ phụ sinh hổ tử v.v.. đều được bình dân và cha ông ta đúc kết. Thế nên
Không tử là người rất trọng giáo dục để đào tạo con người. Tiểu nhân vẫn có thể
cài tạo ra người quân tử nếu hoàn cảnh cho phép. Quan điểm trung dung, tương đối,
đó chính là quan điểm hết sức nhân hậu và tiến bộ của Khổng tử. Chính quan điểm
này mà sau đó Mạnh tử đã xướng lên thuyết” “Nhân chi sơ tính bản thiện, tính
tương cận, tập tương viễn”. Bản chất con người cơ bản đều là tốt, chỉ do hoàn cảnh
mới làm xấu đi thôi. Thật không có ý nghĩa nào nhân văn, nhân đạo cho bằng.
Bởi vậy
Khổng tử không phân biệt giai cấp, chỉ lấy đạo người Quân tử ra làm tiêu chuẩn.
Ông nói: “Quân tử thản đãng đãng, tiểu nhân trường thích thích”. Tức người quân
tử luôn vô tư, đại trượng, còn kẻ tiểu nhân luôn gò bó, hẹp hòi. Giai cấp nào
cũng có người xấu người tốt, nơi nào cũng vậy, đã tiểu nhân thì vua chúa cũng
tiểu nhân, giàu có cũng tiểu nhân. Đã quân tử thì bình dân, nghèo khó, khốn
cùng vẫn người quân tử. Người quân tử là người luôn có đức tính nhân văn cao cả,
còn kẻ tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại. Quan điểm của Khổng tử là quan điểm về
con người, về nhân loại nói chung, không phải quan điểm về giai cấp hay cục bộ
đặc thù. Sự tiến bộ và nhân văn của dạo Nho muôn đời chính là như thế. Nên qua
cả ngàn năm ngày nay vẫn có nhiều người tâm đắc, đề cao tư tưởng Khổng Mạnh vẫn
không ngoài như thế.
Vậy mà
gần đây có người viết trên mạng xã hội là Đặng Tiến, chỉ là người nghiên cứu
văn học thuộc về một mảng nhất định nào đó lại cả giọng mạt sát Nho giáo, cho đạo
Nho chỉ là phản động, cho Khổng tử chỉ là kẻ mù quáng, u mê, lỗi thời, là thuốc
độc của con người và thời đại, chỉ đáng lên án và nhất thiết loại bỏ mọi mặt.
Ai đọc vào bài viết đó mấy ngày hôm nay và có nhiều người chia sẻ lại, đều thấy
rõ rệt quan điểm Đặng Tiến thật sặc mùi mao ít, sặc mùi hồng vệ binh của Mao chẳng
khác. Thậm chí anh ta còn cả gan chê trách chưởi bới cả dân tộc, đất nước, tiền
nhân ta cho là ngu muội đi theo Nho giáo cả ngàn năm làm đất nước lạc hậu, phi
nhân, bất công xã hội và bất công giới tính, làm phụ nữ bị nô dịch và làm người
dân bị tôi đòi bởi giới phong kiến cầm quyền.
Thật sự
Đặng Tiến mù tịt về triết học mọi lẽ, tăm tối về khoa học xã hội đủ điều, chẳng
hiểu biết gì về khoa học chính trị hết cả, cũng chẳng hiểu biết gì về đạo lý
con người, đạo lý xã hội, thậm chí cũng chẳng kiến thức nào về lịch sử dân tộc
mới cả gan dám nói như vậy. Bởi vì nước ta thực chất suốt cả ngàn năm vẫn giữ
được truyền thống dân tộc, vẫn giữ được cương thổ nước nhà, nếu không thấm nhuần
Nho giáo thì chưa chắc đã được như thế. Phần nhiều các anh hùng tên tuổi ngày
xưa của ta đều thấm nhuần Nho giáo, cả nhiều vị minh quân, nhiều thời đại huy
hoàng cũng trong tinh thần đó. Nhiều nhà yêu nước tên tuổi, nhiều nhà giáo nổi
danh đều không ngoài như thế. Xưa từng có Chu Văn An, cận đại có Nguyễn Trường
Tộ, Nguyễn Thiếp, rôi Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v.v… đều là những nhà thâm
Nho kỳ cựu. Vậy mà Đặng Tiến chẳng hề biết gì về những điều đó, hoặc có biết
cũng cố làm lơ, nhằm nói càn nói bướng.
Chắc
anh ta cố ý nhầm lẫn hay đánh đồng Nho Giáo chân chính với Tống Nho chẳng, hay
hỏa mù sa mưa đồng hóa Khổng tử “vạn thế sư biểu” với “Viện Khổng tử” ma đầu do
Trung Quốc dựng lên. Bởi vì chính Mao Trạch Đông đã từng hạ bệ Khổng tử thì
ngày nay Viện Khổng tử đó có còn ý nghĩa gì. Kiểu chỉ mượn đầu heo nấu cháo, lập
lờ đánh lận con đen, hỏa mù lừa dối quần chúng ngây thơ kém hiểu biết thế thôi.
Đó chỉ là chiêu bài nhất thời chính trị, chưa chắc đã tôn kính hay mặn mà gì với
học thuyết Khổng tử cả. Bởi quan điểm mác xít là quan điểm tuyệt đối duy vật vô
thần, còn quan điểm đạo Nho là quan điểm tuyệt đối duy tâm hữu thần, như nước với
lửa đối chọi, khác biệt nhau, làm sao mà điều hòa, dung hợp được. Chẳng qua chỉ
là dựng chuyện giả tạo, lừa mị, gian dối không hơn không kém.
Vậy
nhưng Đặng Tiến tỏ ra chỉ là kẻ càn dở, chẳng hiểu biết gì về tư duy triết học,
chẳng am tường gì về mọi mặt khoa học, chẳng cập nhật gì về các phát triển thời
đại lại lớn lối nói càn. Cho Khổng tử là phong kiến, cho Nho giáo là phản động,
vậy thì Đặng tiến lấy cái gì mà thay vào đó, lấy “Viện Khồng tử” kia chăng, hay
lấy tư tưởng mao ít mà lời lẽ của anh ta đã toát ra ít nhiều trong đó ? Đương
nhiên ngày nay tư tưởng Khổng Mạnh và đạo Nho cũng chỉ để tham khảo, không ai
ngu dại gì mà lại biến nó thành quốc giáo như ngày xưa, chỉ rút tỉa những tinh
hoa của nó để áp dụng cho thời đại khoa học phát triển mọi mặt, không ai dại gì
mà mù quáng tuyệt đối, ôm khư khư nó một cách giáo điều ngu xuẩn mọi mặt như kiểu
thời đại phong kiến xa xưa đã hoàn toàn qua hết.
Ấy là
chưa nói Đặng Tiến hoàn toàn không phân biệt chân chính Khổng giáo với Khổng
giáo kiểu Tống Nho. Tiếc rằng dân trí nước ta ngày nay phần nhiều quá thấp, thực
chất không bằng được thời xưa của tiền nhân, nên cũng chẳng hiều Nho giáo chân
chính là gì nữa. Ngày nay khó ai có đầu óc thông minh tinh tế kiểu Trần Trọng
Kim. Phan Bội Châu, Phan Tây Hồ, nên cũng chẳng hiểu rõ Khổng tử, Mạnh tử là
gì, là ai, mà chỉ hiểu lem nhem Tống Nho qua kiểu đạp cứt trây nhau. Như thảy
hùa bầy chười bới chê bai, đả kích, mạt sát kiểu hiểu hoàn toàn xuyên tạc, sai
lệch theo manh tâm Tống Nho từng một thời lũng đoạn Nho giáo chính danh, như
trên mạng xã hội từ lâu nay vẫn thường thấy. Cứ hở ra là lặp đi lặp lại kiểu “Tại
gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử”, “Quân sư phụ, quân xử thần tử
thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu” v.v… đều chỉ là loại
tư duy hạ đẳng, xuyên tạc Nho giáo, lại bị hiểu lầm lẫn là đạo Nho chính thống,
thật là ngu dốt, vô học chẳng biết còn gì mà nói. Đặng Tiến tuy danh nghĩa là
nhà nghiên cứu văn học, nhưng thật sự mọi kiến thức sơ đẳng nhất đều không có,
thật là điều hết sức sỉ nhục cho đại lại trí thức của xã hội, đất nước ta ngày
hôm nay.
Cho nên
hiểu Nho học tầm cao ngày nay quả thật là hiếm. Chỉ phần lớn kiểu quần chúng hiểu
sai lạc vì bị xuyên tạc, đâu còn ai có tâm huyết hay điều kiện hoặc bình tĩnh
quan tâm nghiên cứu nghiêm túc, sâu xa lại học thuyết đạo Khổng là gì, mà đều
chỉ lại ăn xổi ở thì, nói leo cho quả buổi qua ngày, thật là hèn kém đốn mạt
khó sánh được với tiền nhân ta hàng ngàn năm đã từng sáng suốt, đã cát tìm vàng
đối với mọi điều từ học thuật Trung Hoa cổ đại mà không hề để bị mù quáng, nô lệ
hoặc tăm tối. Ngay như ông cha ta luôn luôn tâm đắc và nhắc nhở với con cháu
câu nói trứ danh muôn đời của Mạnh tư, một nhà dân chủ tinh hoa giữa thời đại
quân chủ phong kiến, chính là câu: “Tận tín thư tắc như vô thư”. Tức đọc sách
mà tin hết vào sách, thà đừng đọc sách, vì đọc kiểu đó chỉ nhằm mù quáng, nhồi
sọ và ngu dốt. Thử hỏi ngày nay có mấy người biết đến, tâm đắc hay thường xuyên
nhắc lại chính tư tưởng tinh hoa này mà ngược lại chỉ kiều toàn bầy đàn, mù mịt.
Thành
nên đọc tư tưởng của người xưa không nên đọc kiểu đọc vẹt, chỉ dừng lại câu chữ
bề ngoài mà không hề có ý vào sâu bên trong xem họ nói gì, ý họ thế nào, và mục
đích của câu nói đó ra sao, cốt nhằm đến cái gì sâu xa hay thiết thực nhất. Lời
vô ngôn, đó cũng là ý tưởng thường có ngày xưa mà hậu sinh bây giờ ít ai biết
hay ít ai để tâm đến. Đó chỉ do nền giáo dục mất gốc, mất truyền thống cổ xưa,
đã trở nên lạc loài trơ tráo lại tự cho mình tiến bộ, phát triển, văn minh, văn
hóa hơn lớp người xa xưa chỉ cổ lổ sỉ. Đặng Tiến biết đâu chỉ thuộc thế hệ hay
thành phần như vậy. Chẳng hiểu Nho giáo chút gì sấc lại bô bô chưởi bới vĩ nhân
Khổng tử, cho là phản động, là lạc hậu, là gạt dân, là nô dịch hóa, thật đó chẳng
khác gì quan điểm đần độn, thấp kém, ti tiện nhất mà chính mồm mép sa đọa của Đặng
Tiến đưa ra để nhằm mị dân, gạt dân, gạt dư luận biết bao người đọc trên mạng.
Người phương Tây cũng nói phải đọc giữa hai hàng chữ (lire entre lignes, lire
sous lignes) chẳng cứ gì người phương Đông đã vốn biết từ thời xa xưa. Đặng Tiến
quả thật chỉ là tên ngáo khi đọc Khổng tử, hay chẳng hề đọc hiểu gì cả mà chỉ
biết nói đua, nói thùa theo bao người ngu dốt khác.
Hễ cứ hở
ra là cho học thuyết Khổng tử phản động, đầu độc quần chúng. Trong khi không biết
Khổng tử đã từng nói câu thời danh đúng mọi việc và đúng mọi thời mọi nơi :“Thượng
bất chính hạ tắc loạn”. Đây chính là câu nói về học thuyết chính trị chuẩn mực,
căn cơ nhất, và khi nào cũng đúng. Hay như Mạnh tử còn cương quyết hơn “Quân vô
đạo dân thị như quốc tặc”, Vua mà bất đạo, dân phải coi đó như giặc. Cho nên
chính Nho giáo du nhập từ Tàu sang, nhưng lại giúp dân tộc ta từ ngàn xưa dùng
như vũ khí chống Tàu xâm lược hiệu lực nhất, bởi vì Nho giáo nhằm thiết lập một
nhà nước đúng đắn, thống nhất, mạnh mẽ. Ngay như dưới thời đại Nhà Lý, tuy Phật
giáo thành quốc giáo nhưng nước ta vẫn mạnh, bởi vì tuy đạo Phật có nhiều sắc
thái tiêu cực, nhưng căn bản Nho giáo vẫn cứ luôn làm nền tảng bên trong. Nói
sâu xa hơn, tiền nhân dân tộc ta không hề mù quáng mê muội chỉ theo duy Nho
giáo, mà luôn chọn lọc ý nghĩa tinh hoa cao cả nhất, nên cũng kết hợp cả Tam
giáo đồng hành, tức Nho, Lão, Phật song hành, để nhằm điều hòa mọi ý nghĩa quốc
gia đất nước càng thêm phong phú, tinh vi, sâu sắc hơn là như thế.
Cả đến
câu của Khổng Khâu: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”, nông cạn thì cho
phong kiến, nô lệ, thiết định giai cấp nghiệt ngã. Nhưng nếu hiểu về mặt khoa học
thực tế và triết học rộng rãi, đó chính là điều ông ta muốn nói tất cả mọi quan
hệ, mọi điều gì trong đời luôn luôn phải cần được điều hóa, hữu lý, không thái
quá không bất cập. Tuy rằng có những giềng mối phải tôn trọng, nhưng giềng mối
phải ra giềng mối chính danh, không được quá đáng, lạm dụng hay bóp méo, tức
người làm vua phải ra đạo vua, làm công bộc phải ra đạo công bộc, làm cha phải
ra đạo cha, làm con phải ra đạo con, còn nếu hỗn loạn vua chẳng ra vua, quan chẳng
ra quan, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, sẽ thành hổn loạn, vô thiên vô
pháp tất cả. Ngay đến quan điểm “nam nữ thọ thọ bất thân” tưởng rằng khe khắt,
nhưng thật ra về phương diện tâm lý học và tình dục thực tiển, không phải không
có phần hữu lý nào đó ngay cả thời đại ngày nay. Cho nên thuyết “Chính danh” của
Khổng tử cộng thêm quan điểm “đạo Nhân” của ông ta chính là hạt nhân quan trọng
cốt lõi nhất trong muôn đời của Nho giáo, ấp dụng được cho mọi việc và mọi thời
trong cuộc sống nhân loại này.
Như vậy,
nói về hệ tư tưởng Nho giáo của Khổng tử (đã có từ trên 2.500 năm trước) đến
đây tưởng cũng tương đối chủ yếu và khá đầy đủ rồi, giờ xin chuyển sang nói về
hệ tư tưởng mác xít Lêninit mà chắc cũng có người đang chờ đợi để xem sẽ nói
sao. Đúng ra đây không phải bài khảo sát hay nghiên cứu học thuật, mà chỉ là
bài trình bày ý kiến, quan điểm, quan niệm, nên không nhất thiết đào sâu trích
dẫn nhiều câu chữ chi ly chẳng cần thiết, nhưng chỉ nhằm đưa ra mọi điều gì cốt
lõi, căn cơ, nền tảng nhất thế thôi, về học thuyết Khổng tử của Nho gia hay về
học thuyết Mác xít trong trường phái chính thống Mác Lêninit cũng cùng phương
pháp luận khoa học và mục tiêu xác đáng vô tư như thế.
Hệ thống
tư tưởng mác xít vốn do Karl Heinrich Marx (1818-1883) sáng lập ra và dựng thành
nền tảng, Friedrich Engels (1820-1895) chỉ là người hỗ trở đắc lực, đóng góp
công sức và ghi chú thêm chút ít, và Vladimir Ilych Ulyanov [biệt hiệu gọi Lênin]
(1870-1924) có tham gia phần bổ sung nhiều ít nào đó về sau nhằm lý giải thêm,
mới tạo ra chung hệ tư tưởng Mác, Ănghen, Lênin mà mọi người đã biết. Tuy nhiên
tư tưởng của Mác vẫn là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt, và tinh thần mác xít chính
yếu vẫn hàm chứa ở đây.
Nói
chung tư tưởng của Mác là tư tưởng duy vật tuyệt đối. Mác cho hiện hữu vũ trụ tồn
tại từ đầu tới cuối đều chỉ là vật chất (Materie, matter, matière) thuần túy
còn ngoài ra không có gì hơn cả. Có điều Mác lại tin chắc vào quan điểm “biện
chứng luận” (Dialektik, dialectics, dialectique) của Goerg Wilhelm Friedrich Hegel
(1770-1831) là triết gia duy tâm nổi tiếng của Đức, mà Mác kiểu như một đồ đệ hậu
duệ theo hướng khuynh tả, lại kết hợp ý niệm này với niềm tin duy vật của Mác để
tạo nên lý thuyết Duy Vật Biện Chứng, và tiếp tục nâng lên thành học thuyết Duy
vật Lịch Sử về sau tạo nên xương sống hay cốt lõi toàn bộ hệ thống tư duy Mác.
Mác cho rằng vật chất có trước tự biện chứng (tự mình phủ nhận, chối bỏ mình
liên tục) để làm nên thiên nhiên, rồi thế giới loài người, và nhân loại cũng tiếp
tục tiến theo như vậy qua biến đổi kinh tế xã hội để đi đến xã hội cộng sản tuyệt
đối lý tưởng trong tương lai. Đó là học thuyết đấu tranh giai cấp (die Kampf
der Klasse, the Struggle of class, la lute de classe) như là chìa khóa của phát
triển từ đầu đến cuối của lịch sử nhân loại mà Mác chủ trương.
Có điều
cái phi lý của Mác là đem khái niệm biện chứng duy tâm (Geist, spirit, esprit) của
Hegel để ghép vào với thực tại duy vật thuần túy của mình, đó thực chất là điều
hết sức xa lạ, phi lý và không tương hợp mà Mác lại bất chấp. Chẳng khác nào
đem nước ghép với lửa, đem cái vô hình ghép với cái hữu hình, đem cái vô hạn
ghép với cái hữu hạn, đem cái cao cả ghép với cái tầm thường, nói chung lại kiểu
đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, là một điều hết sức nghịch lý, về mặt nhận thức
lô-gích trong sang khó thể nào chấp nhận được. Tức nó chỉ khiên cưỡng, bởi vì
không ai đem cái khác bản chất, thậm chí đối lập, trái ngược bản chất mà ghép
được với nhau. Cả đén ghép cây, ghép thân thể cũng hoàn toàn khó làm được như vậy.
Thế
nhưng Mác lại còn coi đó cũng là biện chứng lịch sử của xã hội, hay nói đúng ra
là đấu tranh giai cấp về sau với nền tảng là đấu tranh quyền lợi kinh tế giữa
hai giai cấp đối lập để liên tiếp phủ nhận nhau. Mác tuyên bố khẳng định trong
Tuyên Ngôn Cộng Sản, lịch sử nhân loại từ đầu đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh
giai cấp. Điều này rõ rang Mác quá mù quáng và máy móc vào quan điểm biện chứng.
Biện chứng theo Hegel là quy trình hay quá trình tự phủ nhận liên tiếp của Tinh
thần (der Negation der Negation, Negation of negation, Négation de négation),
còn Mác lại chuyển điều đó qua cho vật chất. Đây chính là điều phi lý tối thậm
của Mác. Bởi vì thực thể Tinh thần ban đầu là tiềm lực vô hạn mới đủ năng lực tự
làm điều đó, trong khi vật chất không có bất kỳ thuộc tính nào cao hơn trì lực
của nó, vậy lấy nguyên nhân, động lực nào để nó “biện chứng” được. Một tảng đá
ngàn đời vẫn chỉ là tảng đá, chỉ có thể phong hóa qua thời gian rồi tan thành đất
bụi, làm sao biến ra sự sống như thành một cái cây hay con ếch ?
Quan điểm
biện chứng duy tâm của Hegel thật ra cũng không khác mấy với quan điểm “Thái cực
sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng …” của Nho giáo, hay quan niệm “Đạo
sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật” của Lão Trang. Thành
ra quan điềm duy vật thuần túy của Mác là quan điểm hoàn toàn phi lý hay nghịch
lý nếu xét về mặt khoa học, lô-gích học, hay phương pháp luận khách quan. Đó là
về phương diện quan điểm triết học về duy vật. Còn quan điểm kinh tế xã hội
cũng thế. Lịch sử nhân loại tiến hóa là nhờ nhận thức, tức nhờ tìm ra những kỹ
thuật liên tục nhất định, từ đó làm cho kinh tế phát triển, tạo ra văn minh thế
giới, đâu phải chỉ kiểu đấu tranh giai cấp trừu tượng, tưởng tượng, chẳng chứng
mình đâu là nguyên lý nền tảng vững chãi, cụ thể, khoa học cả.
Khái niệm
biện chứng luận của Hegel thực chất vẫn cũng chỉ là quan điểm mơ hồ, dựa vào niềm
tin duy tâm, dựa vào trực giác triết học, chỉ thế thôi, không chứng minh được
gì về mặt khoa học khách quan, cụ thể cả. Ngày nay sinh học phân tử, còn sâu xa
hơn sinh học tế bào thời Mác, đã nhận định về sự phát triển của gien di truyền,
đó là những tổ hợp ADN, RNA mới là gốc gác của mọi sự phát triển sinh học,
không ai còn tin vào ý niệm biện chững mơ hồ huyền hoặc kiểu thời Mác nữa. Cả về
vật lý lượng từ ngày nay, học thuyết sóng hạt của Schroedinger, học thuyết bất
định của Heisenberg v.v… càng đẩy lùi khái niệm duy vật kiểu cảm tính, thị hiếu
thô sơ, thậm chí ngây thơ như tư tưởng hoàng kim thời Mác. Nói chung khoa học
thực nghiệm không ngừng phát triển thì cả đến tư duy triết học cũng phải không
ngừng phát triển, không bao giờ mãi dừng một chỗ như Mác chủ trương kiểu độc
tài, độc đoán.
Nhưng
điều quan trọng hơn cả, đó chính là quan điểm độc tài vô sản hay chuyên chính
vô sản mà Mác chủ trương. Bởi thời của Mác, khoa học kỹ thuật của châu Âu mới
bước đầu phát triển, kỹ nghệ mới thành hình, đầu tiên là máy hơi nước và nghề dệt
vải ra đời ở nước Anh. Dĩ nhiên nhân lực nông nghiệp của xã hội phong kiến chuyển
qua, giai cấp công nhân chỉ mới phôi thai, ít ỏi, và họ cũng phải chịu nhiều bất
công cơ cực lúc ban đầu do nhu cầu tích lũy tư bản sơ khai, đột xuất, chưa có
luật lệ cụ thể, đầy đủ. Điều kiện này tất nhiên về sau dần dà phải được cải thiện,
tạo nên công bằng hơn nhờ vò nghiệp đoàn, nhờ vào các biện pháp tài chánh và
pháp lý không thể mãi đơn sơ được.
Thế
nhưng Mác lại dựa vào ý niệm biện chứng để cho rằng đó đã xuất hiện hai mặt đối
lập, thế nào cũng phủ nhận lẫn nhau, giai cấp công nhân lớn mạnh lên sẽ làm cho
tư bản phải tự chon, thực hiện cuộc cách mạng toàn cầu, giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội, giải phóng nhân loại, và đi đến tối hậu là thế giới cộng sản hoàn
toàn không còn giai cấp, không còn người bóc lột người, vì chỉ còn độc nhất vô
sản, không còn tư hữu nữa, vì đó theo Mác là đầu mối của mọi sự bất công, áp bức,
bóc lột trong xã hội loài người. Từ quan điểm vật chất có trước tinh thần, ý thức,
Mác cho rằng kinh tế quyết định tất cả, lực lượng sản xuất làm thay đổi quan hệ
sản xuất, chủ nghĩa cộng sản nhất định phải thành công và thắng lợi. Gom chung
lại Mác cho đó là quan điểm xã hội cộng sản khoa học, vượt qua thảy mọi quan niệm
xã hội cộng sản không tưởng đã có trước kia.
Từ đó
Mác cũng cho thời kỳ quá độ bằng chuyên chính vô sản là hoàn toàn cần thiết để
nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội như giai đoạn thấp, giai đoạn đầu của xã hội cộng
sản đích thực về sau. Giai đoạn đầu làm theo khả năng hưởng theo thành quả,
giai đoạn sau làm theo năng lực hiểu theo nhu cầu, bởi vì ý thức tự giác đều
phát triển, của cài tuôn ra như suối. Có điều Mác quên tâm lý sức ỳ của con người
là tự nhiên, nhất là bản năng ích kỷ, tư lợi luôn có, trong khi giai cấp vô sản
công nhân chưa chắc đã là giai cấp tinh hoa tuyệt đối mà còn nhiều yếu tố ngược
lại, và chăng sản xuất kinh tế phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan
khác nhau, đâu có phải hoàn toàn tính toán được theo kiểu toán học một chiều
như Mác tưởng tượng. Thành nên học thuyết Mác thực chất chỉ là ảo tưởng quá nhiều
mặt, và ngay nay thế giới thực tiển đã cho thấy mọi điều đó, Liên Xô, Đông Âu
đã hoàn toàn sụp đổ, tan rã, Đông Đức cái nôi của học thuyết Mác cũng không
còn, quay về thống nhất thành nước Đức tư bản, ngay cả Trung Quốc thuyết Mao ít
cũng đã nhiều lần hổn loạn, thất bại và ngày nay chính thuyết mèo trắng mèo
đen, tức tư bản hoang dã kiểu của Đặng Tiểu Bình đã đi lên, thay vào đó, và chế
ngự, làm chủ tất cả.
Vậy hệ
thống tư tưởng Mác xít nói chung ngay từ đầu nó đã tự mâu thuẫn trong bản thân
nó, khiến trở thành phi tự nhiên lẫn phản tự nhiên, chỉ là khiên cưỡng, giả tạo,
phi khách quan, phi khoa học, phi thực tế, thế làm sao mà đi đến kết quả tự
nhiên được. Mục tiêu của Mác là đi đến xã hội cộng sản xóa bỏ thị trường, không
còn tiền tệ, con người chỉ làm ra trao đổi trực tiếp, không còn mua bán hàng
hóa, chỉ còn kiểu vật đổi vật như thời lạc hậu hoang dã, Mác cho đó là cộng sản
lý tưởng, công nhân đều tự giác, không ai làm chủ cả, buổi sáang tự do vô xưởng
thợ, buổi chiều thoải mái đi câu cá, giải trí, đó mới là xã hội hoàn toàn giải
phóng, con người hoàn toàn giải phóng.
Câu nói
trứ danh của Mác là biện chứng duy tâm của Hegel chỉ kiểu như người chổng ngược,
đầu xuống đất, chân lên trời, bời Hegel cho rằng Tinh thần trừu tượng là khởi sự
đầu tiên của tất cả. Dó đó Mác cho mình đã “lật ngược” Hegel lại, để chân xuống
đất và đầu lên trời. Tức vật chất và giai cấp công nhân tạo dựng nên tất cả,
tinh thần hay ý thức hệ chỉ là sản phẩm về sau. Mác coi là thượng tầng kiến
trúc, còn hạ tầng cơ sở đều do kinh tế quyết định. Tất nhiên Mác lại quên rằng
khoa học kỹ thuật phát triển đều do trí tuệ con người mà có, và khoa học kỹ thuật
làm ra kinh tế mà chưa chắc đã ngược lại. Đấu tranh giai cấp chỉ giống hai người
giành giật xé nát một con thỏ, thay vì hợp tác cùng săn bắn, hợp tác cùng tạo
ra sản phẩm để nâng cao tầm hiệu quả săn bắn lên hơn. Ngoài ra, ý niệm lật ngược
này được Mác xem như một phát kiến ghê gớm thay đổi toàn bộ lịch sử nhân loại của
mình, nhưng thực chất vẫn chỉ là quan điểm ngụy biện, bởi một chai rượu hay một
chai nước đem lại ngược lại cũng đâu thể chai này biến ra chai khác. Tính cách
của Mác hầu thường xuyên đều là các lý luận như thế.
Nói
chung ngoài quan điểm duy vật hoàn toàn thô sơ, ấu trĩ, ngây thơ, lạc hậu của
Mác, quan điểm kinh tế học cũng không gì khá hơn, quan điểm đấu tranh giai cấp
càng tệ hại, cả quan điểm xã hội cộng sản càng hết sức không tưởng, phản thực tế,
phản kỹ thuật, phản hiệu quả và kết quả chung của toàn xã hội, nó còn chẳng
khác gì phản cả lịch sử phát triển của thế giới xã hội loài người. Ví như cái mầm
hạt cây, lúc đầu chỉ hoàn toàn đơn giản, thống nhất vào cái một duy nhất. Nhưng
sau khi cây nẩy màm lớn lên, phát triển càng ngày càng phức tạp, có bao giờ
quay trở lại được khởi điểm ban đầu. Thế thì lịch sử xã hội cũng thế, nếu ban đầu
là công xã, là cộng sản nguyên thủy, thì từ bao nhiêu ngàn năm trước, nay đã
hoàn toàn phát triển, đổi thay, tiến tới, có bao giờ quay lại được kiểu cộng sản
nữa cho dù dưới bất kỳ dạng thức nào, bởi vì đó hoàn toàn phản lại nguyên lý lịch
sử phát triển khách quan tự nhiên của sự vật.
Thành
ra học thuyết Mác trước sau chỉ là ngụy biện. Sự ngụy biện thấy nhiều trong các
tác phẩm thời trẻ của Mác, tức đều là các nội dung bút chiến, cố cãi lấy được,
cả vú lấp miệng em, làm cho mọi kẻ theo thuyết Hegel dù tả hay hữu khuynh lúc
đương thời của Mác đều ngán ngẫm Mác cả. Bởi vì kiểu Mác là kiểu bạo lực, nhất
là Ănghen càng vậy, các tác phẩm bài viết Ănghen còn tỏ ra khuynh hướng bạo lực
hơn cả Mác. Nên người ta không ngạc nhiên khi Mác chủ trương đấu tranh giai cấp
và chuyên chính vô sản, bởi vì nó hoàn toàn phù hợp theo khuynh hướng tâm lý tự
nhiên vốn có của Mác. Ănghen còn cho bạo lực là bà đỡ của cách mạng xã hội
trong chính tác phẩm của mình mà ai cũng rõ. Ngay cả Tư bản luận, tác phẩm đỉnh
cao và cuối cùng trong hệ thống của Mác cũng thể hiện từ đầu chí cuối điều đó.
Tư bản luận thật ra không phải tác phẩm kinh tế học theo kiểu thông thường. Chẳng
qua Mác chỉ vay mượn và sử dụng số khái niệm kinh tế cổ điển Anh có sẳn qua R,
Ricardo và A. Smith để nhằm “triết lý hóa” kinh tế, để nhằm kinh tế hóa đấu
tranh giai cấp thế thôi. Mác giống thị hiếu dùng khái niệm “biện chứng” chỉ như
đôi giầy được thỏm từ Hegel và cứ thế gọt chân lịch sử, gọt chân nhân loại sao
cho xỏ vào bằng được thì mới thích. Thật là một trương hợp hết sức hi hữu trong
lịch sử thế giới loài người mà tựa hồ từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đến nay
chưa hề từng có.
Nên nói
chung lại, sự khác biệt giữa hai hệ tư tưởng Nho giáo và mác xít là hoàn toàn
thấy rõ, chẳng những vậy nó hoàn toàn trái ngược lại hẳn nhau, khó có thể đi
chung hay hòa hợp được, chúng khác nhau như chì với gỗ, cái thì luôn chìm xuống,
cái thì lại nổi lên. Bởi vậy nếu có quan điểm độc tài nào đó của người cộng sản
cho rằng có thể sử dụng hệ thống quân quyền chặt chẽ của Nho giáo thời phong kiến
nhằm củng cố cho mình, thì vẫn hoàn toàn sai bản chất và vẫn tạo ra bao sự mâu
thuẫn, nghịch lý. Trái lại nếu có quan điểm Nho giáo nào đó muốn sử dụng thuyết
Mác nhằm làm lợi cho mình, đều cũng ngây thơ và lố bịch, bởi sự thật bản chất
hai cái là hoàn toàn khác nhau hay hoàn toàn trái ngược nhau.
Cho nên
nếu ngày nay có số người nào đó không thích cộng sản, không thích mác xít e sợ
hai khuynh hướng đó kết hợp với nhau sẽ gây nên nhiều tai hại hơn, và muốn triệt
hạ, thủ tiêu đi hết mọi tàn tích Nho giáo vẫn còn lại, điều đó thực chất chỉ đều
ngây thơ, hời hợt và nông cạn. Và chuyện công kích Viện Khổng tử của Trung Quốc
áp đặt tại nhiều nơi hiện nay cũng không khác điều đó mấy. Bởi vì đó chỉ là việc
sợ bóng sợ gió mà không gì khác, vì cả hai cái không liên quan gì với nhau
trong thực chất. Viện Khổng tử không phải là ý đồ Trung Quốc muốn tìm lại học thuyết
Khổng thật sự, mà thật ra chỉ chiêu bài nhằm lợi dụng cho quan điểm mục tiêu
bành trướng Đại Hán mới của họ mà thôi. Chuyện lý thuyết xa xưa của Khổng Mạnh
chẳng liên quan gì đây cả. Nhiều người Việt Nam vẫn hay có tâm lý cảm tính,
ngây thơ, phi lô-gích từ xưa tới nay, hoàn toàn khác với ý thức, nhận thức của
người phương Tây chỉ là kiểu như thế.
Trong
khi đó xét về mặt lịch sử nhân loại, thật ra thuyết Mác chưa hề làm lợi gì nhiều
cho nhân loại như thuyết Khổng Mạnh từ thời xa xưa mà còn ngược lại là đằng
khác. Thuyết đó xuất hiện ngay từ thời phong kiến, nay đã lâu hàng ngàn năm mà
vẫn còn tồn tại trong quan điểm con người hay thực tế loài người nơi này nơi
khác, phương diện này phương diện khác. Trong khi đó thuyết Mác ra đời chỉ cách
đây mới khoảng thế kỷ rưởi, hay kể cụ thể từ Cách mạng tháng 10 Nga 1917 tới
nay chỉ mới trên trăm năm mà nay trên thế giới đã hoàn toàn bị rệu rã nói
chung, đó là một thực tế không còn ai có thể chối bỏ hay hoàn toàn nói ngược lại.
Cách mạng Nga thành công sở dĩ là do hoàn cảnh đặc thù lịch sử xã hội Nga khi ấy,
nó còn mang tính bạo lực cách mạng mà không phải hoàn toàn thanh bình tiến triển
như thuyết của Nho giáo. Bởi thuyết của Nho giáo mang tính cách trí thức nhiều
hơn, mang tính cách trí tuệ, học vấn, đào tạo nhiều hơn kiểu tuyên truyền truyền
bạo loạn cách mạng, chiến tranh và lật đổ giống như thuyết Mác. Thuyết Mác thực
chất là thuyết bạo lực giai cấp, trong khi Nho giáo thực tế là thuyết điều hòa
giai cấp và hòa bình xã hội nhiều hơn.
Tuy vậy
cũng có một số người cho học thuyết Khổng tử chỉ là học thuyết phản động, quan
liêu, phong kiến, phản tiến hóa, làm lạc hậu, nô lệ hóa con người từ đầu đến cuối.
Nói thế vì không đặt nó vào trong hoàn cảnh lịch sử khách quan, và cũng chẳng
hiểu chiều sâu triết học cùng bản chất tinh hoa của nó là như thế nào. Thật ra
nó chẳng liên quan gì với mục đích của chế độ quân chủ phong kiến cả, mà còn
chính là sản phẩm bó buộc của điều đó. Tức nó chỉ làm cải thiện chế độ quân chủ
phong kiến tốt hơn về mặt nhân đạo và quản lý xã hội, còn nó không tạo ra chế độ
đó vì chế độ đó là hoàn cảnh tự nhiên khách quan trong thời đại lịch sử của
chính nó. Sự lập lờ giữa hai điều một là kiểu đánh lận con đen, hai là sự nhận
thức quá thấp hay hoàn toàn mù tịt về triết học Khổng tử. Vả chăng Nho giáo cũng
không hề độc quyền ý hệ, chứng tỏ nó vẫn cho phép các học thuyết khác nảy nở và
các tôn giáo khác nhau thâm nhập vào xã hội nó ngự trị. Nó cũng không cấm đoán khoa
học hay chận đứng phát triển khoa học thực dụng hoặc lý thuyết nói chung. Việc
chậm lụt khoa học kỹ thuật ở các nước từng có nền Nho giáo thành đạt chính là
do hoàn cảnh xã hội nông nghiệp hay não trạng của dân tộc đó là kiểu xã hội trọng
nông thế thôi. Việc đổ thừa cho Nho giáo là hoàn toàn ngu dốt, mờ tối và bất
công. Đó là bởi vì không hề phân biệt được giữa triết học và chính trị, cả hai
phương diện có thể tương tác nhưng hoàn toàn không thể quyết định cho nhau nếu ở
trong một xã hội tự do về mặt tư tưởng và ý thức.
Còn về
mặt lịch sử, khởi phát của Nho giáo đã có trong lịch sử đất nước Trung Hoa từ
thời cổ đại, như đã nói từ đầu, Khổng tử chủ yếu chỉ trước tác lý thuyết do từ
nền văn hóa đó mà ra, thuyết Nho giáo là học thuyết mang tính văn hóa là sâu sắc
và chủ yếu không nhất thiết là học thuyết chính trị. Chỉ do nhà cầm quyền quân
chủ phong kiến nhiều nơi thấy nó phù hợp với trật tự xã hội mình có mà kết hợp
nó nhằm phục vụ cho mình thế thôi. Nho giáo thường bị lợi dụng và kể cả xuyên tạc
cho giới cầm quyền mà không phải bản chất tự nhiên, khách quan của nó là thế.
Chỉ những kẻ ngu dốt, ít học, nông cạn mới tin tưởng điều đó và mới chụp mũ cho
Nho giáo là tiêu cực, bế tắt, kể cà lạc hậu và phản động. Trong khi đó học thuyết
Mác là học thuyết hoàn toàn được du nhập vào Trung Hoa từ Âu châu mà cụ thể là
từ Liên Xô hay từ Nga. Tất nhiên cũng do hoàn cảnh xã hội và chính trị Trung Quốc
lúc đó khiến nhiều người thấy thuyết Mác như một sự hoàn toàn mới mẽ, khác lạ,
đầy triển vọng để thoát ra khỏi cảnh lạc hậu nông nghiệp và phong kiến, chẳng
khác gì hoàn cảnh nước Nga lúc ban đầu thời Lênin. Nói chung đều chỉ do tâm lý
quần chúng cách mạng, chỉ nhìn trước mắt mà thật ra không thấy gì sâu xa về mặt
triết học và khoa học nói chung theo cách toàn diện nhất về học thuyết này cả.
Ngay
như hoàn cảnh nước Việt Nam ta cũng vậy. Thuyết Nho giáo thì qua hàng ngàn năm
xưa do việc bị chi phối văn hóa, chính trị mà đến. Nó chỉ đến một cách lặng lẽ
và bình yên chủ yếu do từ nền học vấn và giáo dục. Trong khi đó học thuyết Mác
mới chỉ được du nhập và truyền bá vào thời cận đại tới nay cũng phần lớn theo
ngã Liên Xô và Trung Quốc. Nó được đào tạo cán bộ ban đầu từ trung tâm Quốc tế
toàn cầu bởi Lênin khi đó. Đó chính là xuất phát điểm Đệ tam Quốc tế qua các
trường lớp đào tạo như Đại học Đông Phương của Nga thời Liên Xô ở Mạc Tư Khoa
mà ai cũng rõ. Tất nhiên nó xâm nhập vào nội địa nước ta qua rất nhiều nguồn
khác nhau, nhưng chủ yếu không ngoài như thế, nhất là xâm nhập chủ yếu bằng con
đường hệ thống chính trị được tổ chức tích cực, mạnh mẽ, kiên định và quy mô nhất
không ai ngoài hơn chính là ông Hồ Chí Minh, người Quốc tế cộng sản mác xít từ
trước tới nay kiên cường và nhiều tài năng nhất. Điều thuận lợi nhất của thuyết
Mác vào nước ta khi đó là do đang bị chế độ thực dân Pháp đô hộ và tình trạng
nông nghiệp lạc hậu quân chủ phong kiến làm giai cấp công nhân luôn luôn cơ cực
hầu chưa hề có giai cấp công nhân chút nào như thuyết Mác chủ trương.
Ngoài
ra còn hoàn cảnh lịch sử đắc sách nhất như Thế chiến thứ hai vừa chấm dứt, Đế
quốc phát xít Nhật bị bại trận và đầu hàng liên quân Đồng Minh mà trong đó lại
có Liên Xô là thành viên đang thực hành chủ thuyết Mác cho đất nước mình. Bởi vậy
việc lực lượng Việt Minh mà nòng cốt là những người cộng sản đệ tam khi đó nổi
dậy lật độ Chính phủ Trần Trọng Kim đang làm Thủ tướng do chính quyền được Nhật
trao trả vừa mới chân ướt chân ráo hoàn toàn còn phôi thai là cơ hội ngàn vàng
ngàn năm mới có được của Việt Minh khi đó. Giả dụ nếu chính phủ Trần Trọng Kim
không bị lật đổ thì sau đó sẽ như thế nào, đến nay cũng khó thể nào biết được.
Đây là chính phủ phần nhiều thành phần trí thức và sau đó nhiều người trong số
đó đã đi theo Việt Minh. Dĩ nhiên sau đó thực dân Pháp đã viện cớ để quay lại
Việt Nam từ Saigon trước hết có quân Anh làm đồng minh hỗ trợ, và sau đó dù ông
Hồ Chí Minh kêu gọi giúp đỡ Mỹ vẫn không hề can thiệp vào, chỉ bởi rõ rang Mỹ
biết được nguồn gốc của Việt Minh từ bên trong đã do Mạc Tư Khoa nắm chốt. Đây
cũng là lý do mà tiếp theo sau đó xảy ra cuộc chiến Việt Pháp kéo dài suốt chín
năm, và tiếp nữa là cuộc chiến Việt Mỹ kéo dài đến mười năm cho tới mãi 1975 chiến
tranh mới thật sự hoàn toàn chấm dứt về mặt cơ bản.
Giai đoạn
chiến tranh Việt Pháp đã có sự phân chia Quốc Cộng một phần rồi, và chiến tranh
khó chấm dứt sớm cũng vì sự chia rẽ cũng như phân chia lực lượng nội bộ kiểu
đó. Đến giai đoạn chiến tranh Việt Mỹ, tình trạng chia rẽ Quốc Cộng càng gia
tăng bội phần và càng ác liệt, thảm khốc hơn. Đến đây cuộc chiến đã dần dần
chuyển qua cuộc chiến quốc tế giữa hai phe trên bàn cờ thế giới, chẳng khác nào
chiến tranh Triêu Tiên khi ấy, hoặc sự phân chia hai miền giữa Đông và Tây Đức.
Khí giới của hai bên cộng sản và tư bản đều cùng nhau thi đua đổ vào để tranh
hùng hai phía, đó là sự thật lịch sử khách quan mà chắc sau này ngàn năm sau lịch
sử vẫn phải luôn ghi lại. Chứng tỏ là sau cuộc chiến tranh Việt Pháp, đất nước
chia đôi hai miền Nam Bắc, Miền Bắc đã liền tiến lên xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa
theo kiểu học thuyết Mác, trong đó có việc tiến hành cải cách ruộng đất, tức đấu
tranh giai cấp khốc liệt nhất trong thời kỳ 53-54 rồi sau đó mới xẹp dần, chỉ
còn đi vào sản xuất kinh tế tập thể theo kiểu kế hoạch hóa của Liên Xô mà ngày
nay mọi người đều rõ.
Trong
thời kỳ chiến tranh Việt Mỹ, tuy hoàn cảnh chính trị trong nước và thế giới có
phức tạp hơn, nhưng mục tiêu cũng không ngoài tiến tới chiến thắng Miền Nam,
thành lập chế độ cộng sản chung cho cả nước. Chứng tỏ sau ngày 1975 chiến tranh
kết thúc, Miền Nam đã tiến ngay đến chiến dịch cải tạo tư sản, đánh sập nền
kinh tế tư bản đã manh nha trước đó, tập trung vào nền kinh tế tập thể kiểu
công nông trưòng mà trước kia Miền Bắc đã thực hiện và nay thì nhằm vào toàn thể
quy mô cả nước. Tất cả điều đó đã được thực hiện qua chiến dịch đánh tư sản,
đưa đi kinh tế mới, chính sách giá lương tiền, đổi tiền v.v... nhằm tiến lên chế
độ xã hội chủ nghĩa theo kiểu mô típ Liên Xô, Trung Quốc nói chung. Nhưng tất cả
đã bắt đầu khựng lại khi giai đoạn bao cấp bế tắt, Liên Xô sụp đổ, tan rã, chiến
tranh biên giới Tây Nam và Chính Bắc, Trung Quốc trở cờ, quay lại thuyêt mèo
đen mèo trắng và bắt đầu tiến ngược lại chế độ tư bản hoang dã sơ khai để nhằm
tiến lên chủ nghĩa tư bản kiểu đặc thù Trung Quốc. Và Việt Nam từ đây phải bắt
đầu tiến hành đổi mới, tức từ giả thật sự thuyết Mác Lê chính thống và ngày nay
quay về kinh tế tự do tức tư bản thực chất nhưng vẫn phải cứ theo khuôn khổ “định
hướng” như cách trước kia.
Đấy
giai đoạn đặc thù của đất nước dân tộc Việt Nam từ sau thời kỳ 1945 đến nay là
thế. Tức nói trắng ra chủ nghĩa Mác đã từng được đem áp dụng trong suốt thời kỳ
dài một cách tích cực và rồi thực tế cũng đã thất bại nhiều mặt rã rời nhất,
kinh tế cũng như văn hóa, xã hội. Kinh tế nói chung cũng vẫn chưa cải thiện là
mấy so với ý định ban đầu, và kể cả giai cấp nông dân đến nay cũng chưa gì mới
khác hơn, cả giai cấp công nhân từ sau có các khu Chế xuất làm thuê cho các
công ty nước ngoài là chủ yếu cũng đều như vậy. Có điều đặc biệt ai cũng nhận
thấy là học thuyết Mác đã được chính thức đưa vào Hiến pháp như một quốc giáo
Nho giáo thời quân chủ phong kiến xưa kia do ông Lê Duẩn chủ trương đầu tiên và
ông Phạm Văn Đồng thực thi đầu tiên. Nhất là ông Đồng chính là người đã thực hiện
rộng khắp đến nay trong cả nước một nền giáo dục đặc trưng ý thức hệ Mác xít từ
chân đến đầu khiến bao nhiêu thế hệ trẻ hôm nay không còn biết trời đất trăng
sao mô tê gì nữa hết, chỉ biết hiểu theo một chiều, nói theo một chiều, chẳng hề
còn chút tư duy độc lập, riêng tư, tự chủ nào đó của họ cả. Điều đó thật sự chẳng
vinh dự hay do gì mà thực chất chỉ hoàn toàn đáng tiếc về phương diện cá nhân
con người cũng như toàn xã hội.
Cứ nhìn
vào kết quả giao dục, học thuật, văn hóa, văn học nói chung qua bao nhiều thế hệ
từ 1945 đến nay thì rõ. Hay cứ nhìn vào lực lượng hùng hậu các dư luận viện đến
nay không dưới 35 ngàn trong toàn quốc và non 5 triệu đảng viên thuần thành nhất
cũng đều thấy rõ. Đó là sự thành công của ý thức hệ Mác xít đến nay ở nước ta
qua công lao hàng đầu trong nền giáo dục chính thức mà ông Đồng thực hiện chính
là như vậy, người làm Thủ tướng gần như suốt đời quả thật chẳng hổ danh là vậy.
Có điều việc để mất Hoàng Sa cho Trung Quốc qua chữ ký của ông ta vào Công hàm
1958 mà rất nhiều người từng quy trách nhiệm cho ông chẳng phải hoàn toàn vô
lý.
Thành
nói chung lại mọi điều gì lịch sử đã diễn ra và đã qua thì không bao giờ còn
quay lại hay không bao giờ còn lặp lại. Sự bế tắt của vua quan thời triệu Mạt
Nguyễn của ta đã để đất nước rơi vào tay Thực dân Pháp gần suốt 80 năm cũng
chính là điều như vậy. Rồi Cách mạng tháng 8 cũng đã xảy ra như vậy. Hai cuộc
chiến tranh đầy máu xương, nước mắt, gian khổ của dân tộc ta từ suốt 1945 đến
1975 cũng hoàn toàn như vậy. Chế độ Cộng hòa kinh tế tự do của Miền Nam sau hiệp
định Genève 1954 cho tới ngày bị Miền Bắc thôn tính và trở nên hoàn toàn xóa sổ
cho tới nay cũng vậy. Bởi dòng lịch sử nói chung mọi nơi trên toàn thế giới mọi
giai đoạn nào đó đều vẫn cứ một đi mà không trở lại. Tuy nhiên nếu quá khứ có
sai ở những nơi những điểm, những thời khắc nào đó, thì các thế hệ tương lai phải
cần chỉnh đổi hay sửa lại thế thôi. Cái mới luôn hoàn toàn mới và không liên
quan đến bất kỳ cái cũ nào, đó là quy luật. Còn chuyện không chịu khắc phục, sửa
đổi là chuyện của thế hệ hiện tại, không còn liên quan gì đến những người quá
khứ nữa, bởi vì tất cả họ đã qua rồi, đã rụi rồi, chỉ còn trách nhiệm muôn đời
của họ về sau này trước dân tộc và lịch sử nói chung của đất nước mà thôi.
By VÕ
HƯNG THANH
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét